thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Ba truyện ngắn
Bản dịch của Hoàng Ngọc Biên

 

 

Raymond Federman (sinh năm 1928, hiện sống tại Hoa Kỳ) là tiểu thuyết gia, kịch tác gia, nhà thơ, phê bình gia và dịch giả. Từng là giáo sư và trưởng khoa văn chương của nhiều viện đại học, tác giả của rất nhiều tác phẩm nổi tiếng, và từng đoạt nhiều giải thưởng văn học lớn, Federman là một khuôn mặt quan trọng của văn chương hậu hiện đại.

 

 

THI ĐUA

 

Bảy tuổi. Bạn đang đi học. Giờ ra chơi. Trường con trai – une école de garçons*. Vâng một trường Pháp. Bạn ra đời ở Pháp. Đấy không phải là lỗi của bạn. Bạn không có tiếng nói trong quyết định ấy. Trong giờ ra chơi những thằng lớn – mười một mười hai tuổi – ra chơi ở tận cuối sân gần bức tường lớn. Bạn đi theo bọn chúng mặc dù lúc nào chúng cũng trêu chọc bạn bởi vì bạn èo uột và vụng về. Cái này cũng không phải là lỗi của bạn. Bọn con trai lớn cho bạn chơi với chúng bởi vì chúng thích trêu chọc bạn.

Ở góc cuối sân trường gần bức tường lớn là nơi ông Pion [giáo viên phụ trách canh chừng đám con trai trong giờ ra chơi] không thể nhìn thấy đám con trai, thằng cao nhất dùng một viên phấn trắng vẽ một đường thẳng lên tường phía trên đầu hắn, rồi hắn vẽ một đường thẳng khác trên mặt đất cách bức tường khoảng six mètres*. Thế rồi đám con trai, nửa tá trong bọn, không kể bạn, bắt đầu cuộc thi để xem ai có thể đái cao hơn hết vượt quá cái đường vạch trên tường. Bạn không bao giờ thắng. Chỉ có một lần bạn đái được lên trên vạch trắng, nhưng là bởi bạn đứng gần bức tường, cách khoảng một mét, và cũng bởi bạn đã cố giữ hết nước đái có được trong người đêm hôm trước để đề phòng có chuyện thi đua. Bạn rất hưng phấn vì lần đầu tiên đã tìm cách đái cho được phía trên đường vạch, đái lên trời, cho dù bạn không thắng cuộc thi hôm đó. Mấy thằng kia bảo bạn gian lận bởi bạn đã đứng qua bên kia lằn vạch trên đất. Chỉ những ai đứng từ cái vạch trên đất để đái lên tường mới được coi là đủ tiêu chuẩn. Ai đứng quá cái vạch là bị mất tiêu chuẩn. Ngày hôm đó bạn mất tiêu chuẩn làm người đái cao nhất. Điều này bạn sẽ không bao giờ quên.

1996
-------------------------------
Chú thích của người dịch:
* Tiếng Pháp trong nguyên bản Anh ngữ "The Competition" của Raymond Federman:
une école de garçons: trường con trai.
six mètres: sáu mét.

 

 

GIẤC MƠ ĐÊM QUA

 

Vợ tôi và tôi đang ở nước ngoài. Có lẽ là châu Âu. Tất cả những người nước ngoài đều bị bắt để tiêu diệt. Đây là điều không sao tránh khỏi chúng tôi được cho biết. Đây là giải pháp duy nhất. Tôi hôn vợ tôi cái hôn cuối cùng trước khi chia tay. Tôi bảo vợ tôi rằng nàng phải tìm cách sống sót. Chúng tôi được báo cho biết là sáu người từ những quốc gia khác nhau sẽ đi cùng một lượt. Người ta hỏi tôi từ nước nào tới. Tôi do dự. Nước Mỹ tôi nói. Họ đưa tôi vào một nhóm cùng với năm người nước ngoài khác. Tôi không thể đoán họ từ đâu tới. Chúng tôi đi trên đường phố theo một hàng duy nhất có người canh gác. Thành phố vắng ngắt. Trông nó giống như một bức tranh của Chirico. Tôi rỉ tai người phụ nữ trước mặt tôi bảo rằng tôi sẽ trốn. Bà ta phá ra cười. Đến một góc đường tôi bỏ chạy khỏi nhóm. Tôi không chắc những người lính có đuổi theo bắt mình hay không. Tôi không thể nghe tiếng giày ống cao của họ sau lưng mình. Tôi sợ hãi và chạy hụt hơi. Tôi chạy đến một ngõ cụt chắn bởi một bờ công sự. Tôi nhìn qua bên kia bờ công sự và nhìn thấy thành phố dưới kia. Sương mù vàng lãng đãng trên quang cảnh thành phố mênh mông đang thiu ngủ. Tôi ngã xuống đất và mình cuộn tròn lại trong tư thế như cái bào thai. Những người lính đến nơi miệng la hét và súng ống chĩa vào tôi. Họ túm tôi và cột cánh tay tôi vào mình bằng dây thừng. Tôi trông giống như một cái xúc xích. Bây giờ chúng tôi đang ở trong một căn phòng màu trắng. Những người lính đẩy tôi lúc bấy giờ hãy còn bị trói dây thừng vào trong lò sưởi. Họ dùng báng súng đánh tôi. Đột nhiên tôi nghe tiếng một phụ nữ hét to đừng lo chúng tôi đến đây. Tôi tỉnh dậy trong giấc mơ. Tôi vẫn còn nằm trên đất ở cái ngõ cụt bên cạnh bờ công sự. Những người lính dùng súng đánh tôi là một giấc mơ bên trong một giấc mơ. Khi tôi đã tỉnh trong giấc mơ của mình thì chuyện ấy với tôi đã trở thành rõ ràng. Vẫn nằm như thế trên đất tôi nhìn lên và tôi thấy bốn người đang đứng ngó xuống mình. Hai người đàn ông. Hai người đàn bà. Họ nói với tôi bằng tiếng Pháp. Họ bảo họ sẽ giúp tôi. Tôi chợt nhớ ra là mình biết tiếng Pháp. Tôi bảo họ je suis content qu’ils soient là*. Tôi vào trong xe họ. Một cái xe ngoại mà tôi không nhận diện được. Điều này làm tôi thấy bực mình. Một trong hai người phụ nữ cầm lái. Bà mặc một cái áo trắng trông giống như đồng phục nữ y tá. Chúng tôi đến căn hộ của họ. Họ giải thích rằng họ là những người nước ngoài và họ đã trốn ở đây. Căn hộ rất sang và ấm cúng. Những người đàn ông và phụ nữ không có vẻ gì là vợ chồng với nhau. Họ gọi nhau theo chữ vous* nghi thức khi nói chuyện với nhau. Người phụ nữ mặc áo trắng có hai người con. Bà ngồi chung một bàn với chúng đàng sau bức màn. Họ ăn. Tôi bấy giờ không biết chắc mình là một người đàn ông hay một thằng bé con. Tôi tự hỏi mình có nên đứng dậy và đến ngồi cùng với những đứa trẻ đàng sau bức màn hay không. Dường như hai người đàn ông là kiến trúc sư. Họ nói với nhau về chuyện kiến trúc. Sau một lúc tôi chợp mắt lơ mơ ngủ trong giấc mơ của mình. Khi tôi tỉnh dậy hai người đàn ông bảo là tôi có thể cứ ở đây với họ trong căn hộ. Tôi sẽ ngủ trên một ái võng nằm trong góc phòng khách. Tôi không nên ra đường nếu không sẽ bị bắt họ nói. Một trong hai người phụ nữ hỏi là tôi có thể đã làm gì nếu họ không tới giúp tôi. Tôi bảo bà là tôi có thể đi về phía tây đến biên giới cho đến khi tôi có tự do. Bà ta phá ra cười. Bà bảo tôi là tôi không nên làm như thế. Những người đàn ông bây giờ đang thảo luận về những giấy tờ giả mà tôi nên có. Họ bảo là tôi phải chọn một cái tên mới cho mình. Tôi gợi ý là Julien Sorel*. Họ bảo tên ấy lộ liễu quá. Thế Julien Sore* thì sao tôi nói Julien Sore thôi. Thế thì được họ nói. Julien Sore*. Tốt. Một trong hai người đàn ông đi ra ngoài để chạy giấy tờ cho tôi. Tôi nhận lý lịch mới của mình. Sau khi tôi có giấy tờ mới có ai đó bảo ai nấy ra đường dạo một vòng. Đường phố đầy lính tráng bấy giờ đang nhìn chúng tôi với vẻ nghi ngờ. Chúng tôi quyết định quay trở lại căn hộ và chờ cho đến khi dứt chiến tranh. Tôi nói với mấy người đàn ông và đàn bà trẻ kia là chúng tôi nên tức khắc rời khỏi đây. Nếu chúng tôi ở lại chúng tôi sẽ bị bắt và sẽ bị tiêu diệt tôi nói. Họ cãi rằng trái lại nếu chúng tôi rời căn hộ chúng tôi sẽ bị túm. Tôi bảo họ là chúng tôi sẽ không bị túm bởi vì tôi đã biết trước là chúng tôi sẽ sống sót. Họ trông có vẻ bối rối. Tôi giải thích rằng tôi đã biết trước cái gì sẽ xảy ra. Tôi đã từng mơ giấc mơ này trước khi tôi nói với họ. Tôi bảo họ là chiến tranh sẽ chấm dứt tháng Năm 1945. Người Mỹ sẽ thả một trái bom nguyên tử xuống Hiroshima. Hàng ngàn hàng ngàn người sẽ chết. Kẻ thù sẽ đầu hàng. Tất cả chúng tôi đều sẽ được tự do. Họ có vẻ không tin là tôi đã biết trước hết những chuyện nầy. Một người đàn ông đưa ngón tay lên thái dương ý muốn nói là tôi điên. Khi tôi tỉnh dậy thì ngày là ngày 15 tháng Giêng 1997. Vợ tôi đang nằm ngủ cạnh tôi.

 

-------------------------------
Chú thích của người dịch:
* Tiếng Pháp trong nguyên bản Anh ngữ "Last Night’s Dream" của Raymond Federman:
je suis content qu’ils soient: tôi lấy làm bằng lòng họ có mặt ở đó.
vous: đại từ, ngôi thứ hai - thân mật hơn, người ta dùng tu.
Julien Sorel là tên nhân vật chính của nhà văn Pháp Stendhal trong tiểu thuyết Le Rouge et le Noir.

 

 

NGƯỜI SỬ DỤNG HAI THỨ TIẾNG

 

Để trả lời câu hỏi lúc nào người ta cũng hỏi tôi [voyons réfléchissons*] Không tôi không cảm thấy có khoảng cách nào giữa hai cái lưỡi nói trong tôi [oui peut-être un tout petit espace*] Ngược lại [plus ou moins si on veut*] Đối với tôi lưỡi này và lưỡi kia có vẻ như chồng lên nhau [et même coucher ensemble*] Như muốn nhập vào nhau [oui se mettre l’une dans l’autre*] Như muốn đến với nhau [jouir ensemble*] Như muốn ôm choàng nhau [tendrement*] Như muốn cài cái này vào cái kia [n’être qu’une*] Hay nếu các bạn muốn [ça m’est égal*] Có thể nói chúng muốn tập hư và làm đồi bại nhau [autant que possible*] Tôi không có cảm tưởng như vài người sử dụng hai thứ tiếng đã từng khẳng định, là một cái lưỡi trong tôi nằm thẳng đứng còn cái kia thì nằm thẳng ngang [pas du tout*] Thực ra những cái lưỡi của tôi lúc nào cũng đứng hay nằm theo cùng một hướng [toujours penchées l’une vers l’autre*] Có khi theo chiều đứng [de haut en bas*] Có khi theo chiều ngang [d’un côté à l’autre*] Tùy vào tâm trạng của chúng hay ý thích của chúng [elle sont pas très passionnées*] Mặc dù hai cái lưỡi ấy trong tôi thỉnh thoảng cũng thi đua với nhau mơ hồ đâu đó trong đầu óc tôi [normalement dans la partie supérieure de mon cerveau*] Nhưng thường hơn cả là chúng chơi với nhau [des jeux très étranges*] Đặc biệt là khi tôi không nhìn [quand je dors*] tôi tin rằng hai cái lưỡi của tôi chúng yêu nhau [cela ne m’étonnerais pas*] Và thỉnh thoảng tôi cũng bắt gặp chúng giao cấu sau lưng tôi [je les ai vues une fois par hasard*] nhưng tôi không thể nói với bạn lưỡi nào là cái lưỡi nào là đực [on s’en fout*] Có thể cả hai đều là ái nam ái nữ [c’est très possible*]

 

-------------------------------
Chú thích của người dịch:
* Tiếng Pháp trong nguyên bản Anh ngữ "The Bilinguist" của Raymond Federman:
[voyons réfléchissons]: nào ta suy nghĩ xem.
[oui peut-être un tout petit espace]: vâng có lẽ có một khoảng cách nhỏ xíu.
[plus ou moins si on veut]: có thể nói ít hay nhiều.
[et même coucher ensemble]: và ngay cả ngủ với nhau.
[oui se mettre l’une dans l’autre]: vâng cái này nằm trong cái kia.
[jouir ensemble]: cùng hưởng.
[tendrement]: một cách âu yếm.
[n’être qu’une]: hòa làm một.
[ça m’est égal]: tôi thì sao cũng được.
[autant que possible]: càng nhiều càng hay.
[pas du tout]: không một chút nào.
[toujours penchées l’une vers l’autre]: cái này luôn hướng về cái kia.
[de haut en bas]: từ trên xuống dưới.
[d’un côté à l’autre]: bên này qua bên kia.
[elles sont pas très passionnées]: chúng không đam mê lắm.
[normalement dans la partie supérieure de mon cerveau]: bình thường thì ở phần trên của đầu óc tôi.
[des jeux très étranges]: những trò chơi rất lạ.
[quand je dors]: khi tôi ngủ.
[cela ne m’étonnerais pas]: điều này không làm tôi ngạc nhiên.
[je les ai vues une fois par hasard]: có một lần tôi tình cờ nhìn thấy chúng.
[on s’en fout]: tôi cóc cần.
[c’est très possible]: rất có thể như thế.

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018