thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Một cuộc chia tay

 

Một thứ hương lạ, loại nước hoa nào không biết. Tôi có nhiều ngày tháng sống dưới chân thang dẫn lên lầu vũ trường, cộng với nhiều ngày tháng thử nước hoa thật giả trong tiệm mỹ phẩm, vậy mà cũng không biết được. Ông ta theo tôi tìm ghế trống. Người đàn bà khá đẹp mất hút trong đám đông vào rạp giờ entr’acte.

Hôm nay quả là một ngày hạnh phúc ngoài mong đợi. “Đi xem cải lương cũng hay, nào chúng ta đi!” Chúng tôi rời quán rượu vào lúc mà bình thường chúng tôi chưa rời. Một tháng, đúng một tháng, tôi quen người đàn ông tôi ái mộ, ông ta đẹp đẽ như hình ảnh người nghệ sĩ trong mường tượng của tôi, sang trọng và đơn độc. Ông ta luôn luôn ngồi uống rượu một mình, cái bàn sát ô cửa kính, nhìn ngó lãng đãng ngoài đường phố. Có một lần, người đàn bà nào đấy, tôi quan sát cách họ nói chuyện với nhau, biết không phải là vợ chồng. Người đàn bà đi ra, ông ta lại ngồi một mình, nhìn ngó lãng đãng ngoài đường phố.

Cái lần mà tôi buồn quá, uống rượu hơi nhiều, quá nhiều so với tửu lượng của tôi, tôi quen ông ta. Lúc ấy tôi từ toa-lét đi ra, bước hơi nghiêng ngả, ngã chúi vào cái bàn ông ta đang ngồi, sát ô cửa kính, may không vỡ đổ gì. Ông ta kéo ghế bảo tôi ngồi đấy, kêu người chạy bàn chuyển ly rượu và cái túi của tôi sang. Tôi không là gì cả trước một người như ông ta, tôi chưa tiện hỏi, và có biết ông ta là ai cũng vậy thôi. Ông ta nói chuyện dễ dàng, chuyện gì cũng được, và không để tôi móc túi trả tiền rượu lần nào: “Bữa nào tôi không có, thế nào chẳng có bữa như vậy, thì cậu trả.”

Ông ta không tìm hiểu, hoặc ông ta không tìm hiểu cũng có thể biết tôi là loại người nào, bởi vì ông ta không một lần hỏi tôi làm gì, ở đâu, cả cái tên của tôi ông ta cũng không hỏi. Khi tôi vào quán, luôn luôn thấy ông ta đã ngồi ở chỗ cũ, ông ta vẫy tay thay lời nói tới đây ngồi. Một lần tôi mang theo tờ báo, ông ta giở ra đọc, mở trang trong đọïc khá lâu. Tôi mua tờ báo này liên tục mỗi cuối tuần, chỉ để đọc truyện ngắn ở trang trong. Tôi hỏi ông ta: “Chú có thích đọc truyện ngắn đăng báo không?” “Truyện ngắn không đăng báo thì làm sao có để đọc… Mà thôi, xin đừng gọi anh là chú.” Tôi bật cười thích thú, không ngờ ông ta nhắc, nhớ câu nói của nhân vật chú Đạt nói với nhân vật cháu Diễm trong cuốn truyện Yêu của Chu Tử, chủ tờ nhật báo Sống nổi đình nổi đám tại Sài Gòn ngày xưa. Tôi đọc báo từ thuở nhỏ, cái thuở tôi bán báo dạo trên hè phố. Thế là tôi quên khuấy hỏi lại ông ta có thích đọc truỵện ngắn không, ông ta nào đã trả lời có hay không. Rồi tôi đoán, mở trang trong khá lâu như thế, chắc ông ta đọc cái truyện ngắn trong đó, cái truyện ngắn tôi đã đọc trên xe buýt, trên đường từ khu phố tôi ở tới quán, bữa ấy tôi mua tờ báo từ sáng mà bận việc chưa đọc. Truyện viết về một cuộc chia tay, người đàn bà trong truyện đẹp và tính cách khá đặc biệt. Nhưng người đàn ông đã quyết định chia tay mối tình trong chính mình, khi ông vô tình biết người đàn bà có mối quan hệ sâu đậm với một lão già, kẻ tình nhân đớn hèn mà cơn u mê tăm tối đã trì giữ, khiến người đàn bà không thể giũ bỏ để trong sạch với tính cách đáng yêu của mình. Người đàn ông không biểu lộ gì để người đàn bà biết cuộc từ giã như vậy đã xảy ra trong người đàn ông, họ vẫn gặp nhau, như bạn đồng hành trên chuyến tàu cuộc đời.

Tôi vẫn gọi ông ta là chú, tự bực mình vì không cho phép mình gọi ông ta là anh như ông ta đề nghị. Nếu tôi hồn nhiên gọi ông ta như thế, chắc tôi sẽ thấy ông ta gần gũi hơn. Dù sao tôi cũng có niềm vui được ngồi uống rượu, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất với ông ta. Tôi bảo ông ta giống papa Hemingway, dám nhìn nhận thất bại, nhà văn tài ba mà tôi ngưỡng mộ. Ông ta nhìn tôi, cười khó hiểu, nói: “Có thể tôi giống một nửa ông Hemingway của cậu.” Tôi định hỏi tại sao chỉ giống một nửa, lại thôi, nghĩ chắc ông ta muốn nói ông ta không phải là nhà văn như papa Hemingway.

Vở tuồng cải lương sắp diễn, tắt đèn trong rạp và tấm màn nhung được kéo ra hai phía cánh gà trên sân khấu. Chúng tôi len lỏi tìm được chỗ ngồi ở một hàng ghế phía dưới. Sau khi ngồi ổn định trên chiếc ghế nệm, chiếc ghế nệm bị con chuột khổng lồ nào đó đục khoét một lỗ lớn khiến tôi phải ngồi hơi nghiêng người, tôi chợt nhận ra mùi nước hoa lạ lùng. Đấy là mùi nước hoa đã bắt mũi tôi, mũi của một người từng có nhiều ngày tháng sống dưới chân thang dẫn lên lầu vũ trường, cộng với nhiều ngày tháng thử nước hoa thật giả trong tiệm mỹ phẩm. Mùi nước hoa thật gần mà không sực nức, người đàn bà ngồi cách tôi một chiếc ghế trống, chắc chắn mùi nước hoa tỏa từ người đàn bà này. Bà ta quay sang hỏi tôi: “Anh có diêm quẹt không?” Không lâu lắc một phút nào, tôi bật que diêm, đưa que diêm vào đầu điếu thuốc người đàn bà đã ngậm trên môi. Người đàn bà, đúng là người đàn bà tôi chú ý, lẫn trong đám đông vào rạp giờ entr’acte. Khuôn mặt người đàn bà đẹp cực kỳ trước ánh lửa que diêm, bên cạnh người đàn ông già chát, có thể bằng tuổi cha của người đàn bà. Ông lão này hỏi người đàn bà, giọng Huế trọ trẹ: “Em không mang theo chewing-gum?”

Không hiểu vì không chịu được khói thuốc, hay không ưa mùi nước hoa, “papa Hemingway” bảo đổi chỗ. Chúng tôi xuống ngồi ở hàng ghế gần cuối rạp. Tôi nói: “Chú có kịp nhìn thấy người đàn bà mồi thuốc hút quá đẹp?” “Đúng rồi, quá đẹp” Ngay sau, tôi lại nói: “Chú đâu nhìn rõ được. Que diêm mau tắt, chú lại ngồi cách xa” Ông ta nói đều giọng, bình thường ông ta nói đều giọng như vậy, khi có cơn hứng bất tử giọng nói ông ta cũng khá sôi nổi: “Tôi đã nhìn rõ người đàn bà này liên tục mười năm rồi. Bà ấy là vợ tôi.” Tôi không dám nói thêm gì nữa về người đàn bà cho tới khi chúng tôi ra khỏi rạp hát cải lương. Rồi mỗi người một ngả. Trên xe buýt, tôi ở trong trạng thái xúc cảm tưởng chừng không chịu đựng nổi, không phải ở vở tuồng bi lụy, hoàn toàn không phải, mà ở người đàn bà liên quan tới ông ta.

Hôm sau tôi trở lại quán, tự thú nhận tôi rất hồi hộp. Không thấy ông ta. Liên tục như vậy, nhưng ngày thứ tư, sau ba ngày vắng mặt, ông ta tới. Ông ta uống xong một ly rượu, thay vì kêu ly thứ hai, ông ta đưa tôi một phong bì khổ lớn, dày cộm, dán kín, đề tên người nhận: NgCh. Ông ta lại đưa tôi giữ tấm hình người đàn bà có tên NgCh. Khuôn mặt người đàn bà sáng láng, người ta có thể tin cậy hoàn toàn, không một chút nghi ngại. Nếu cho điểm nhan sắc, theo tôi là điểm trung bình cộng, nhưng với vẻ sáng láng thì khuôn mặt ấy xóa bỏ tất cả thang điểm cao thấp. “Người đàn bà này sẽ tới đây để nhận phong bì này, chậm lắm là một tuần lễ.” Ông ta đi ra khỏi quán, tôi nhìn theo, mất dấu ở góc phố. Lần này tôi trả tiền uống rượu, hai ly của tôi và một ly của ông ta.

Tôi ngồi uống rượu một mình ở cái quán tôi đã ngồi như vậy nhiều năm, nhưng một tuần lễ tôi ngồi đây vì ông ta. Cuối cùng, sau mười ngày chứ không phải sau một tuần lễ, tôi nhờ người quản lý quán rượu làm hộ cái việc ông ta nhờ tôi. Tôi không sợ ông ta sẽ buồn khi biết tôi làm vậy. Tôi không thể trở lại ngồi uống rượu ở quán với chỗ ngồi của người vắng mặt. Tôi không chịu đựng nổi. Hoàn toàn không. Một tháng sau tôi ghé quán gặp người quản lý, anh ta lắc đầu, chưa thấy người đàn bà như trong tấm hình, có tên NgCh. tới quán. Tôi nghĩ về ông ta, về người đàn bà trong rạp hát cải lương, về cái truyện ngắn trong số báo tôi đưa ông ta đọc, tên truyện là "Một Cuộc Chia Tay". Tôi nghĩ về người đàn bà có tên NgCh. Tôi nghĩ về tất cả. Ông ta bảo ông ta có giống papa Hemingway thì chỉ giống một nửa thôi. Tôi nghĩ ông ta giống toàn phần. Rất có thể, ông ta là tác giả truyện ngắn tự truyện trong số báo tôi mang theo tới quán. Rất có thể ông ta, nếu chưa, thì cũng sẽ tự sát.

 

Sài Gòn, 27-5-2005

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018