thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Đôi thơ bên sông

 

Hình ảnh là gì? Ta nhìn thấy mình ở trong gương và ngao ngán tự hỏi đấy là hình ảnh của ta ư? Không, ta không muốn và không bao giờ công nhận đó là hình ảnh của ta. Như thế, hình ảnh rất có thể không phải là một sự sao chép kiểu gương, ít ra ta cũng mong thế. Có vẻ như chúng cần phải giống phải khớp với cái ta nghĩ hơn là cái ta phải trông thấy hàng ngày, bên cạnh máy cạo râu Tàu sắc như dao thái chuối, trong gương.

Nếu thơ biết phản ứng vào mỗi buổi sáng khi báo vừa tung đến quán cà phê, liệu nó có phản ứng như thế không trước những hình ảnh của nó bên cạnh minh họa hoa muống, lá tre, cô em chống cằm?

Có câu chuyện ngụ ngôn về cái chết của con hổ. Nó đã chết đuối như Lý Bạch, chỉ có điều nó đã vồ cái bóng của chính nó dưới giếng. Nó đã trả giá cho việc không phân biệt được nó với cái bóng của nó.

Cũng tương tự như vậy, không ít ông người, đã cố gắng nghĩ rằng cuộc sống và cái bóng của cuộc sống phải là một, và họ có kết cục như con hổ kia.

Chỉ có bóng tối tuyệt đối mới xóa được cái bóng. Nhưng than ôi, mỗi ngày không thể có 24 giờ chìm trong bóng tối được. Người ta khoan khoái tỉnh dậy, thở phào sung sướng trong tiếng gà trong vắt, và lập tức, nhìn thấy bóng người trên vách, dưới chân. Nó đeo đẳng ta, nỗi ám ảnh về cái chết nghiệt ngã của người vợ trong câu truyện cổ, sự ngu ngốc và những oan khiên chỉ có lịch sử mới hóa giải được.

Thơ đôi khi tựa như cái bóng vậy. Nó ở rất gần ta, gần lắm, ta cúi nó cúi, ta đứng thẳng nó đứng thẳng, ta ngồi im nó cũng chẳng bỏ đi. Nhưng ta không phải là nó, mà nó cũng chẳng phải là ta.

Mọi nỗ lực vồ nó đều vô ích. Bởi ta không bao giờ sở hữu được nó, cũng như nó không thể sở hữu được ta.

Nhà chính trị có bóng của của nhà chính trị, đến cái bóng ấy nó cũng chẳng bao giờ say xỉn, và cái bóng ấy bao giờ cũng đi kèm với rất nhiều những cái bóng khác lố nhố xung quanh.

Còn đâu là cái bóng của của nhà thơ, cái bóng của thơ? Đó có phải là cái bóng nhỏ nhoi và sinh động của Poe đi vào thế giới của bệnh dịch giết người, như một kẻ vừa rồ dại lại vừa sáng suốt cuối cùng không?

Một người thầy đã về hưu của tôi bảo trong cái hang trên Hòa Bình hồi trước có những hình vẽ cổ, trên nhũ đá. Sau vì chuyển hang thành kho cất vũ khí nên cài bộc phá đánh vỡ cái chỗ nhũ ấy đi. Bây giờ thì cả Bộ Văn hóa tiếc muốn đứt cả ruột. Mà cả cái xứ Đông Nam á này tiếc chứ chả phải bộ. Không chừng chỗ hình ấy còn lại thì phải mở đường bay trực tiếp đến Hòa Bình ấy chứ. Không biết chuyện này hư thực thế nào. Chúng là những cái bóng của tâm hồn, đã có thể qua đời vì chất nổ. Và có thể là cái bóng cổ đại của thơ chăng?

Thời sơ sử chưa có chữ viết hoặc là chữ viết còn ít người biết đến cho nên lịch sử được cảm thông chủ yếu qua hình ảnh. Thông dụng nhất là hình trên trống đồng. Hình này có con chim đời sau phỏng đoán mà gọi nó là chim Lạc chứ nom nó cổ quá, có lẽ đã tuyệt diệt như khủng long, ai mà biết thời tối cổ gọi giống chim bay ngược chiều kim đồng hồ ấy là chim gì? Sử Tàu có nói chuyện biếu chim trĩ. Nhưng chim trĩ ngày xưa và chim trĩ ngày nay có phải một không.

Trên trống có mặt trời, thường là 12 tia. Phải chăng nó tượng trưng cho ban ngày, tượng trưng cho thời điểm mà mắt con người hoạt động tích cực và “nghệ thuật thị giác” ra đời, sự xuất hiện của hình ảnh dưới dạng dương bản và âm bản (bóng) được khai sinh.

Trên trống còn thấy nhà cửa, cóc nhái, và tất nhiên là cả những con người với các động tác, nom như phóng sự ảnh của tạp chí Geographic. Thế giới hình ảnh, thế đấy, từ lạ lẫm đã trở nên quen thuộc.

Sự đơn giản trong tục ngữ khởi đầu cho việc dùng hình ảnh, và điều đó chứng minh chúng là những mảnh vỡ của ngôn ngữ cổ sơ: “Vú quả mướp”.

Thứ chữ tượng hình chứng tỏ mối quan hệ rất chặt chẽ giữa ý nghĩ và hình ảnh, ngôn ngữ và những cái bóng của nó. Hình ảnh không chỉ quan trọng mà còn thực sự là khởi thủy.

Sau hình ảnh được sử dụng như một đơn vị nghệ thuật thì hình ảnh đã dần thoát ra khỏi sự mô phỏng đơn thuần.

“Lỗ mũi mười tám gánh lông” điều ấy hoàn toàn không phải có loại tổng đại lý lông mũi. Nó chỉ có nghĩa là ta đôi khi phải biết cười đùa với những hình ảnh mà chúng ta nhìn thấy được: nói cho cùng đố ai đếm được lỗ mũi có bao nhiêu cái lông? chúng hết rụng lại mọc. Với thành phố đầy bụi như Hà Nội thì thậm chí lỗ mũi may lắm chỉ được bảy gánh là cùng. Con số này cũng tương đối thôi, bởi kinh phí cho công tác thống kê hiện là quá ít, phần nhiều còn dựa vào báo cáo không mấy khi khách quan của cơ sở. Mà cán bộ cơ sở vừa yếu lại thiếu.

Hình ảnh trong Kinh Thi được xem như một trong những cánh cửa bước vào thế giới nghệ thuật “hiện đại”. Anh cần có chìa khóa này để bước vào Kinh Thi. Hình ảnh là một đơn vị then chốt của tư duy nghệ thuật chứ không phải thứ tiền thân của máy ảnh kỹ thuật số.

Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điểu thục nữ
Quân tử hảo cầu

Muốn giãi bày vẻ đẹp và tình cảm lứa đôi thì đầu tiên phải mượn đôi chim Cưu cất tiếng trong bãi bồi ven sông. Sự chung thủy của chúng khi đó có lẽ là gương mẫu cho con người, chính chúng nó đã gợi ý cho cái chung tình đang nhen nhóm dần lên trong đàn ông và đàn bà.

Mở đầu “Bốc cư” (Sở Từ) bằng câu:

“Khuất Nguyên ký phóng
Tam niên bất đắc phục kiến”

là để giãi bày tâm sự Khuất Nguyên bị đuổi ba năm không nhìn thấy mặt vua. Câu thơ mộc mạc, chẳng hoa mỹ gì cả, thật xứng đáng là thứ thơ khai nguyên. Và vua - chẳng qua cũng là một đơn vị của tư duy nghệ thuật mà thôi.

Tác giả lại tự xưng tên mình (Khuất Nguyên) chứ chẳng tôi ta gì cả, đời sau chịu không theo được.

Thơ Nguyễn Trãi tràn ngập hình ảnh.

Ngôn ngữ đến đâu hình ảnh tới đó.

Cây mai:

Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi
Ưa mày vì tiết sạch hơn người

Cây mía:

Viện xuân đầm ấm nắng sơ doi
áo tế hung hung thủa mặc thôi

Hình ảnh thơ có cái hay là không cần phiên dịch. Ví dụ nói cây mía thì ai cũng hiểu chứ nói là “tuy làm giám độc nhưng không tham nhũng tẹo nào chỉ sống bằng lương và làm thơ chống tiêu cực” thì chẳng ai hiểu thâm ý ám chỉ điều gì.

Vua Lê Thánh Tông bèn làm tập thơ gọi là “Cổ tâm bách vịnh”, toàn vịnh cảnh bên Tàu, mà ai cũng hiểu được cả.

“Việt nữ nhan như ngọc
Du du Sở mộng trung
Ngô Vương chung ái sắc
Cao trúc Quán Khuê cung”
                      ("Trữ La Sơn")

Bài thơ vịnh về người con gái nước Việt nhan sắc như ngọc, vua Ngô ăn ngủ không yên, mê mẩn tâm thần, xây cung Quán Khuê ngất ngưởng làm quà. Nguyên ông Việt Vương Câu Tiễn thua trận, bèn dâng Tây Thi cho vua Ngô, vua Ngô mừng quá, suốt ngày mê mẩn vui thú cùng nàng, thế là lại bị Câu Tiễn diệt.

Sự thực nghệ thuật là cứ nhắc đến nàng Tây Thi xinh đẹp thì bài thơ đang từ khó hiểu mấy cũng thành ra dễ hiểu hơn nhiều, nhà phê bình như đang từ chỗ tối ra chỗ sáng vậy. Mừng lắm thay.

Một bậc thầy về hình ảnh thơ tất nhiên là bác Nguyễn Khuyến. Người ta thường nói tới vẻ đẹp của những bài thơ thu mà ông để lại như những di sản của dòng thơ thu. Nhưng thực ra bài thơ kỹ thuật cao nhất là bài “Thương con nhặng chết”, Nguyễn Văn Tú dịch nghĩa như sau:

Ngủ dậy mở cửa sổ, cất chén uống nửa vời
Nhặng xanh sao cứ đến mà vo vo thế
Mày chỉ cầu lẫy một hạt là đủ no bụng
Thì mày việc gì phải réo rắt mà kêu như ống sáo
Thương cho số phận mày, chỉ đáng đậu bờ bụi thôi
Chỉ vì coi thường người nên đến nỗi ngã vào canh rau lê
Thợ trời sinh hóa ra muôn loài thật là lắm chuyện
Làm cho người muốn tránh nắng, xua nồng, chưa được hài lòng

So với con nhặng trong truyện Kiều (đầy nhà vang tiếng nhặng xanh) thì đến đây con nhặng xem ra là một hình ảnh thơ phức hợp hơn, nó không đơn giản chỉ là sinh vật đại diện cho những kẻ tham lam chẳng biết chân lý nằm ở đâu. Con nhặng mới này có thể làm đại diện cho kiếp những trí thức quèn, chỉ vì hạt cơm mà kêu như ống sáo, cuối cùng y đã bỏ mạng do bị (được) bội thực.

Nếu nói người làm thơ trắng đen hay nhất thì đó là Nguyễn Du:

Trông lên mặt sắt đen sì

Nhưng làm thơ không khác gì vẽ thì có Văn Cao. Bố cục, ánh sáng, đường nét tạo hình, màu sắc rất chỉnh. Bài “Cánh cửa”:

Một tiếng động khóa
Xin mời vào
 
Cánh cửa mở ra thật rộng
 
Chỉ thấy
Một chiếc cầu thang nhà trên gác
Và ánh sáng
không động đậy
 
Một giọt mồ hôi
Lăn trên trán tôi
                  1960

Bài thơ này là ví dụ rất hay cho thấy sự khác biệt giữa hình ảnh thơ và hình ảnh hội họa. Mặc dù tác giả vừa là nhà thơ vừa là họa sĩ nhưng chưa thấy nhà sưu tập tranh nào đến mua bài thơ với tư cách một tác phẩm hội họa cả. Như thế mới biết là vẽ bằng chữ và vẽ bằng bột màu bằng sơn dầu kết quả khác nhau biết bao. Với bức tranh thơ anh chỉ cần thuộc là đủ, dùng bản phô tô cũng chẳng sao, còn với bức tranh sơn dầu thì anh phải có được bản gốc (kèm chữ ký càng tốt cho dù chữ ký đôi khi không sáng sủa gì hơn chữ bác sĩ).

Hình ảnh thơ có khi cả thời đại giống nhau, ví dụ hình ảnh cây thông, hình ảnh người chủ nhiệm, nhưng thường vẫn có những hình ảnh hết sức lạ lùng. Chúng chứng tỏ rằng sự hiện diện của hình ảnh thơ không hẳn phải dứt khoát cùng một diện mạo. Anh nằm ngoài sự thực / Em ngồi trong chiêm bao / Cách nhau xa biết mấy / Nhớ thương quá thì sao? ("Anh điên" – Hàn Mặc Tử).

Ai đi lẳng lặng trên làn nước
Với lại ai ngồi khít cạnh tôi
Mà sao ngậm kín thơ đầy miệng
Không nói không rằng nín cả hơi?
Chao ôi ! ghê quá trong tư tưởng
Một vũng cô liêu cũ vạn đời
                                    ("Cô liêu")

Một người đồng nghiệp đã đến với chúng ta giữa lúc u buồn và chết chóc, nhưng thật đáng tiếc, anh ta lại chẳng nói được câu nào vì miệng đang ngậm đầy thơ.

Những bài thơ hỗn độn đọc rất mệt của Bùi Giáng thỉnh thoảng cũng có thể gặp được những hình ảnh vô thường trong sáng:

Con ruồi con kiến con châu chấu
Bươm bướm chuồn chuồn cũng thế thôi
                                         ("Nhe răng")

Hình ảnh thơ tưởng như gần trùng khít với hình ảnh gốc, nhưng một thời lại cho rằng nó xa lạ với cuộc sống chiến đấu điều này cho thấy quan niệm về hình ảnh thơ trở nên vô cùng phức tạp:

Bầm ra ruộng cấy bầm run
                             (Tố Hữu)

 

Nhưng sự phong phú của hình ảnh thơ thì đã rõ, chúng chứng tỏ sự đa dạng chính bằng sự hiện diện của mình:

Mộng đầu sông
                          mưa ngâu
                                           thuyền bến cũ
Lòng đò đưa
                     đôi con nhớ quẫy cờ
Cá đớp động bóng lay vầng tuổi nhỏ
Phao chìm
                câu giật hẫng một tình khô
                             ("Thu điếu" – Lê Đạt)

Có khi sự phong phú đã được báo trước, như ta thấy Hàn Mặc Tử trong câu thơ cô độc của Trần Dần:

Tôi qua sáng ngõ
Sáng ngõ trong sao
 
Tôi qua sáng cầu
Sáng cầu trong nhịp
Tôi qua sáng mít
Sáng mít trong gai
 
Tôi qua sáng nhài
Sáng nhài trong nụ

Hình ảnh thơ như thế đã không còn là một hình ảnh kiểu bản đồ, nó in dấu trong tâm hồn thơ như một ngôn ngữ vừa cổ sơ vừa hiện đại:

Đường viền của người quặn thắt
                                             trái tim tôi
                                                              (Dư Thị Hoàn)

Từ cây mía cô lẻ trong thơ Nguyễn Trãi, từ đôi thư cưu gọi yêu nhau trong Kinh Thi đến những cuộc trình diễn hình ảnh trong thơ Hoàng Hưng đã là một khoảng thời gian, tuy ngắn ngủi vô cùng so với sự sinh thành của mặt trời và những gì quanh nó nhưng cũng đã cho thấy hình ảnh thơ thay đổi diện mạo thật nhiều. Hình ảnh vụt hiện trong thơ Hoàng Hưng như được quay từ cái camera “kỹ thuật thơ”, rất nhanh, rất nhiều hình ảnh, đồng nghĩa với khối lượng ngôn ngữ và ý tưởng đan xen chồng chéo, trong một cái tổng thể mà nói cho cùng là cái mà người ta không bước ra ngoài được:

Bão loạn. Xanh mí. Cốc ré. Váy hè. Tiện nghi lạc – xon. Chất chồng trô trố. Môi ngang. Vô hồn. Khoảnh khắc. Mi-ni mông lông. Cởi quần, chửi thề. Con gà quay con gà quay.

Tú Xương: “Sông kia rày đã nên đồng”.

Đôi thư cưu thơ thì vẫn hót mãi.

Không ai bắn được nó bằng súng hơi và càng không thể quay hay làm món tiết canh.

Chúng vẫn ở đó, nơi bãi bồi của dòng sông vẫn chảy. Chúng đã biến những cái vô hình thành hữu hình, đã biến những mông lung và ảo giác trở thành những món quà bên sông. Ôi giống chim thư cưu, làm sao ta có thể biết ngươi nghĩ gì về nhau, nếu chúng không biến tất cả điều đó thành tiếng hót của các ngươi?

 

Đôi thư cưu kia không phải là thơ, thơ không phải là đôi thư cưu. Nhưng chúng cũng là thơ, và thơ cũng là chúng. Tựa như cái bóng trên tường vậy. Nó vẫn ở đấy, không đại diện cho anh, mà cũng chẳng phải là không đại diện cho anh. Nó ngồi nơi tường, còn lại cùng với anh, sau những ngốc nghếch đến tàn bạo dã man, nó còn lại như lời thức tỉnh chót về thế giới thẳm sâu hơn những gì đã biết.

Nó còn lại đó, nhưng sau những mất mát khổng lồ.

 

07/05

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018