thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
THƠ THẲNG ĐỨNG THỨ MƯỜI BỐN [3]
Bản dịch Diễm Châu
 
Đôi lời về tác giả:
 
ROBERTO JUARROZ (1925-1995) là một nhà thơ hiện đại của Á-căn-đình (Argentina), được thế giới biết tới nhiều hơn cả, có lẽ chỉ sau Jorge-Luis Borges, người đồng hương của ông. Roberto Juarroz sinh ngày 5.10.1925 tại Coronel Dorrego thuộc Buenos Aires, và mất tại Buenos Aires ngày 31.3.1995 sau một cuộc đời lưu lạc vì nạn độc tài ở chính xứ ông. Ông là tác giả của 15 tập thơ mang cùng tên: Thơ thẳng đứng, chỉ khác số thứ tự.
 
Thơ thẳng đứng thứ mười bốn là tập “thơ thẳng đứng” áp chót của Roberto Juarroz, do nhà xuất bản José Corti, Paris, in năm 1997. Tập thơ này được in song ngữ (bản Pháp văn của Silvia Baron Supervielle), gồm 110 bài thơ và một bức “tam bình thẳng đứng” (ba bài).
 
Laura Cerrato (bà R. Juarroz), trong lời nói đầu “Câu chuyện Thơ thẳng đứng thứ mười bốn”, cho biết: đây là tập thơ mà Roberto Juarroz đã chuẩn bị ráo riết và lúc nào cũng mang theo bên mình trong “ba hay bốn năm sau cùng của đời ông”. Và khi ông mất (31. 3. 1995), đã có “gần một nửa” số bài trong bản thảo được chính ông chọn lựa dứt khoát. Số còn lại, với những biến thái khác nhau, đã được Laura Cerrato xem xét kỹ, theo những tiêu chuẩn của tác giả, trước khi quyết định.
 
Số thơ thẳng đứng của Roberto Juarroz đã được dịch sang Việt ngữ và in trong tủ sách Thơ / Trình bầy cho tới nay, gồm một tuyển tập Thơ thẳng đứng I-XI; Thơ thẳng đứng XII; Thơ thẳng đứng XIII; Thơ thẳng đứng XIV;Thơ thẳng đứng XV (bốn tập sau được dịch trọn vẹn). Một số tác phẩm quan trọng bằng văn xuôi của ông chỉ mới được trích dịch sang tiếng ta: Những mảnh đoạn thẳng đứng; Thơ và sáng tạo; Thơ và thực tại; Trung thành với ánh chớp.
 
Muốn biết thêm về Roberto Juarroz, bạn có thể tìm đọc các tư liệu của Fernand Verhesen, Roger Munier, hoặc lời nói đầu tuyển tập Vertical Poetry, bản dịch Anh văn của W. S. Merwin (North Point Press, San Francisco, 1988). (DC.)
 
 
 
ROBERTO JUARROZ
(1925-1995)
 
THƠ THẲNG ĐỨNG THỨ MƯỜI BỐN [3]
 
Bản dịch này để tặng Lê Khắc Cầm.
DC.
 
76
 
Không ai có thể bắt đầu lại.
Hơn nữa, nếu có ai có thể
thời xẩy ra cũng một thứ:
một chuỗi chói lòa những ánh sáng và bóng tối kế tiếp nhau,
một sợi những cách đoạn,
một vũ điệu dị kỳ của những thăng trầm.
 
Thực ra không có những sự bắt đầu.
Chúng ta chỉ là những hồi đoạn kế tiếp trung gian
nhưng không phải là từ một điểm này tới một điểm khác:
mà là những hồi đoạn kế tiếp giữa những hồi đoạn kế tiếp.
 
Và thật là hoài công nếu chúng ta muốn đứng sững lại
và hiện hữu khởi từ bản thân chúng ta.
Ngay đến cái cây cũng tựa như âm nhạc:
một sự hô hấp của bóng tối
phân thành những chiếc lá
để nuôi gió bằng sữa.
 
 
77
 
Sự quạnh hiu vô tận của suy tưởng
khiến những không gian ở trên trời kinh hoảng.
 
Những con người gắn chặt vào những vỏ bọc bằng thịt da
ngạt thở, ra hiệu và chết.
 
Trong lúc đó họ hủy hoại một tinh cầu
hình như là nhà họ,
họ chém giết lẫn nhau
và phát ra những âm thanh khác nhau và những lời nói cho mọi sự
 
Ở bên trong họ có một hành động thật khó tin
mà họ kêu bằng suy tưởng
 
Không ai biết mục tiêu của nó.
Ấy cũng tựa như một tấm gương
đảo ngược của thế giới.
 
Chỉ đôi khi dường như
hoạt động ma quái này
tu bổ lại vũ trụ,
và từ chốn quạnh hiu vô hạn
và sự nghèo nàn thoáng qua của nó
hiến vũ trụ sự bầu bạn sâu thẳm
là ít nhất cũng đã được nghĩ suy.
 
 
78
 
Không có sự giải thích cho bóng tối.
Cũng không có sự giải thích cho ánh sáng.
 
Duy có một đôi điều trung gian nào đó tự giải thích:
những chất độc đã rót hay đã nuốt,
sự lưng chừng giữa hai cực mà chúng ta dùng để ràng cột những sự vật,
sự đột nhiên hư hỏng của một khuôn mặt,
đường mạch cạn khô của quá khứ,
sự bất cân đối của tự suy tưởng về bản thân.
 
Tốc độ không đem lại một ý nghĩa,
sự chậm rãi cũng không.
 
Mọi thế giới là một hình ảnh,
bị ý niệm của mình ngăn chận.
 
 
79
 
Một buổi chiều tàn
tháo gỡ những con đường,
nhưng không phải về phía trước.
 
Nó tháo gỡ cái gì chờ đợi
ở phía sau những con đường,
dẫu ỏ đó không có ai.
 
Và tháo gỡ đêm tối,
đêm tối, phải, đang chờ đợi,
đêm tối đã được tháo gỡ.
 
Và ở đáy cùng mọi sự
sáng lên trong khoảnh khắc
cái gì kiêng cữ.
Cái gì vẫn kiêng cữ
ở chung quanh cuộc đời
ngoại trừ vào một buổi chiều tàn.
 
Sự trống vắng một điều gì đó,
nó trói buộc và tháo gỡ chúng ta.
Còn ít hơn là sự trống rỗng.
 
 
80
 
Không có sự trở lại.
 
Nhưng luôn luôn vẫn còn một chuyến quay trở lại
hướng về đôi điều nào đó có trước
nay đã khác,
thế tuy nhiên vẫn kêu gọi chúng ta
bằng một dấu hiệu
tựa như dấu hiệu khi trước.
 
Không có gì thay đổi hoàn toàn.
Cái gì không thay đổi
nơi cái gì thay đổi
đón chào chuyến đi của chúng ta trở lại phía sau,
ngợi ca cái gì không thay đổi nơi chúng ta,
cái thường xuyên sâu thẳm của nó ở cùng đáy,
sự chung thủy vô thời gian của nó.
 
Có những cánh hoa không rơi bỏ đóa hoa.
Ngay cả khi nó héo tàn.
 
 
81
 
Hai bàn tay không có lấy một chỗ.
Thân xác cũng không.
và có lẽ suy tưởng cũng thế.
 
Nhưng hai bàn tay tiến tới
và cố gắng tìm ra suy tưởng
để cùng nhau cư ngụ
không gian của một nối kết mới.
 
Hai bàn tay lúc ấy liền thôi
khuấy động thế giới
và tìm được nơi chờ đợi.
 
Mỗi sự vật chỉ có thể chờ đợi
từ một nơi độc nhất.
 
 
82
 
Mỗi lần chúng ta có thể phân tách một kém hơn
một ngày với một ngày khác
và một đêm với một đêm khác.
Chúng ta cũng không thể
phân tách đêm với ngày.
 
Thời gian đã nối liền lại.
 
Ta sẽ không bao giờ biết tại sao đôi khi thời gian
lại đồng thời mở hai cánh cửa.
 
Hoặc khép lại đồng thời.
 
 
83
 
Chúng ta đi bằng một hàng dài
thu hẹp lại dần dần.
Không ai biết liệu mình có ra khỏi.
Không ai biết là mình tiến lên hay lùi lại.
Không ai biết ở đầu cùng là bóng tối hay ánh sáng.
 
Cuộc tiến hành thầm kín này xác nhận với chúng ta
rằng giữa con mắt và đối tượng của nó
cách ngăn một màng mỏng tăm tối:
một màng lọc làm bằng bóng tối
vĩnh viễn tách biệt cái nhìn.
 
Ngắm nhìn là một cử chỉ hướng về bên trong,
chứ không phải hướng ra bên ngoài.
 
 
84
 
Học cách thức dậy
sau những kết thúc
đòi hỏi bước đi cần thiết
là học cách thức dậy
trước những khởi sự.
 
Làm sao đưa một suy tưởng
hay một đóa hồng đang thiếp giấc
tới chỗ vượt qua hạn giới
và khiến nó thức dậy
nhưng từ phía bên kia?
 
Kết thúc và khởi sự
có cùng một chìa khóa.
 
Nếu thức dậy và thiếp ngủ
là chìa khóa lúc khởi sự,
thiếp ngủ và thức dậy
là câu chuyện sâu xa
dệt những sợi chỉ vào nhau
ở phía sau những kết thúc.
 
 
85
 
Phải đi tới chỗ
không viết một vần thơ
và nhường chỗ của nó
cho cái gì cần hơn.
 
Nhưng có chăng một cái gì
cần chiếm chỗ của nó
hơn là một vần thơ?
 
Hơn thế nữa, cái gì quan trọng
vẫn luôn luôn có thể
chiếm cùng một chỗ với một vần thơ.
 
Những điều quan trọng
không đổi chỗ với nhau,
mặc dù chúng có thể dời chỗ cái gì không quan trọng.
 
 
86
 
Mở chiếc rương của những ánh mắt cuối cùng,
những ánh mắt mà sự yên tịnh nâng đỡ cái nhìn.
Và lại nhìn không phân biệt
giữa một người và không một người nào,
giữa ai đó và không ai hết.
 
Cho đến khi chỉ trở thành như cái nhìn,
nhìn không tách biệt
đêm tối của hữu thể
với hừng đông của phi thể.
 
Và không khép chiếc rương lại.
 
Những ánh mắt cuối cùng
có thể không cần tới mọi nơi ẩn náu.
 
 
87
 
Những trái cây mà chúng ta đã không hái
trải thảm con đường.
Có những trái chúng ta cũng chẳng để ý.
Sự ngượng ngùng và một nỗi hổ thẹn lạ lùng
ngăn cản chúng ta hái những trái khác.
Có những trái chúng ta không biết cách hái.
Sự thiếu cái thiên khiếu dành cho chuyện gặt hái
khiến chúng ta xa rời những gì còn lại
mà chẳng nhìn về phía sau.
 
Hôm nay những bàn tay trống rỗng luyến tiếc hết thảy.
Chúng ta liền quay đầu lại,
nhưng những trái đã bỏ rơi
không còn hái được nữa.
 
Nếu chúng ta lại rảo qua con đường,
có lẽ chúng ta vẫn sẽ còn bỏ rơi những trái
trong lúc hẳn sẽ kéo dài sự trông chờ kẻ
sẽ chẳng bao giờ tới.
 
Có những ngày, giữa khoảng đó,
chúng ta bối rối nhìn đôi tay này.
 
 
88
 
Con chim khập khễnh
bị gãy một chân kia
và lúc ấy liền khám phá ra điều bí ẩn
của sự yên tịnh:
bảo toàn từ bên ngoài
góc độ bất động ở bên trong.
 
Và ở đó nó tìm thấy
một khu vườn trên làn nước.
Làn nước cũng yên tịnh,
những đóa hoa yên tịnh,
và một điều gì đó kém hơn không khí
bao trùm con mắt của con người
để có thể nhìn
thực tại đảo ngược
vẫn dự cảm.
 
Và khám phá ra rằng cuộc sống đích thực
vẫn sống trong đảo ngược của sự đình chỉ,
sự đảo ngược không phải là cử động.
 
 
89
 
Ở nơi vẫn có sự trông chờ,
lúc này không còn gì hết:
con chó của tôi đã dạy tôi cách chết.
 
Tôi không bao giờ viết tên nó.
Hôm nay tôi cũng chẳng viết ra.
Tên nó nó không thể nói
và đã xóa đi cùng với nó.
 
Ánh sáng đã tắt
có một vẻ sáng
chuộc lại trò gạt gẫm
của chuyện tình cờ tự thắp lên.
 
Mọi sự đi về đâu
nếu chẳng có gì tiếp nhận chúng?
 
Gần như không ý thức,
tôi đã thắp một ánh sáng
trên cái hố được phủ che,
trong lúc một hốc rỗng mới
chỉ hơi được nhận thấy,
gặm thêm đôi chút vào giấc mộng
là tin rằng chúng ta đang sống.
 
 
90
 
Bất cứ thời gian và không gian nào
cũng thuận lợi cho đôi tay chúng ta gặp nhau.
 
Nhưng không gian và thời gian của đêm tối
dường như được chuẩn bị trước cho chuyện đó.
 
Bóng tối không phải là tăm tối
cho đôi bàn tay tôi.
 
Bóng tối là ánh sáng
cho đôi bàn tay em.
 
 
91
 
Ba trò chơi của cùng một ngôn từ:
ấy ngôn từ tôi nói với em,
ngôn từ mà em nghe thấy
và ngôn từ có thực.
 
Và còn thêm vào một trò chơi nữa
bao quanh những trò chơi khác
như một tấm áo không thể phân xẻ:
ngôn từ không có thực.
 
Và ở bên lề hay ở chính giữa,
là ước muốn điên rồ
sắp đặt một cuốn từ điển
với tất cả những trò chơi này.
 
Một mê lộ nho nhỏ
diên trì cuộc gặp gỡ.
 
Một ngôn ngữ nhất trí
của một lối đánh vần khác.
 
 
92
 
Một cách thật bất ngờ
đôi khi xẩy tới một điệu nhạc
mơn man lời nói ẩn khuất nhất của chúng ta.
 
Cũng có thể là lúc ấy
điệu nhạc này đưa lời nói đó ra ánh sáng
hay ở lại với nó
trong tăm tối* bí ẩn nhất.
 
Dẫu thế nào chăng nữa,
nỗi quạnh hiu của chúng ta đã gặp
một đồng bạn không rời.
 
--------------------
* Nguyên tác: en el tenebrario más secreto. Bản Pháp văn dịch là: «dans le candélabre le plus secret.» (ND.)
 
 
93
 
Thuyết bản giản đơn về thế giới:
ấy là nơi chúng ta gặp.
 
Thuyết bản được điều chỉnh khá hơn:
ấy là nơi chúng ta bỏ.
 
Thuyết bản hoàn chỉnh:
ấy là nơi để tìm kiếm một thế giới khác.
 
Thuyết bản hầu như dứt khoát:
ấy là nơi của một sự vắng mặt.
 
Và một thuyết bản khác nữa:
ấy là nơi chứng tỏ với chúng ta
rằng hiện hữu không phải là một nơi chốn.
 
Và thuyết bản cuối cùng:
thế giới là nơi để học biết
rằng hiện hữu không cần nơi chốn.
 
 
94
 
Trái tim là một tu chính dài
của một văn bản mà không ai rành rẽ,
mà ý nghĩa khoa ngữ nghĩa không biết
và các ký hiệu không một ai điển chế.
 
Nhưng giả dụ trái tim không tu chính văn bản ấy
như một người mù hiệu đính vực thẳm,
thời cuộc sống hẳn sẽ rụng rơi thành những mảnh vụn
như một giấc mơ thừa thãi và chỉ đáng vứt đi.
 
Lại cũng có lý do để ngờ rằng
tu chính ấy chính là bản văn.
 
 
95
 
Trám kín nỗi cô quạnh,
mở một ánh mắt khác trong ánh mắt,
đặt một điểm khác trong im lặng,
bước vào hơn, bước vào hơn,
bẻ gãy hạn giới.
 
Không quan trọng gì nếu chẳng có gì hết.
Chỉ quan trọng là hơn.
 
Hay trám kín nỗi cô quạnh,
xóa đi mọi ánh mắt trong ánh mắt,
cạo bỏ điểm im lặng,
bước ra hơn, bước ra hơn,
bẽ gãy hạn giới.
 
Không quan trọng gì nếu chẳng có gì hết.
Chỉ quan trọng là kém.
 
Hữu thể hơn của hữu thể kém.
 
Kém không-gì-hết hơn cả.
 
 
96
 
Quên một con chữ
khi viết một từ
là mở một cánh cửa
ở nơi chẳng có cánh cửa nào.
 
Và dẫu như bít nó lại thật dễ,
nơi chốn đã từng có một cánh cửa
sẽ không bao giờ còn là như trước
và ở bên trong từ ngữ
vẫn tiếp tục lướt qua một luồng ý nghĩa đã quên.
 
Một sự bỏ sót, điều sai lầm,
đôi khi tạo ra một lỗ hổng
nơi bức tường quyết định
thuần hóa ánh mắt.
 
 
97
 
Một đêm khác lỏng le
tràn ngập lãnh thổ của đêm tối.
Những đợt sóng của tối đen
không cần tới bãi biển
mà chỉ cần một lòng sông
cùng một thứ chất của chính chúng
chứa đựng câu hỏi thật dị kỳ.
 
Những đợt sóng của tối đen
tìm kiếm một câu trả lời
chỉ có trong đen tối,
nhưng trong một đen tối phân biệt,
khác với màu đen.
Một đen tối với những chiếc cánh thấp
và những sự yên tịnh tột độ.
 
Những câu hỏi và những câu trả lời
là những thứ chất khác nhau
hầu như không bao giờ hợp lại với nhau.
 
Những đợt sóng của tối đen
nối liền hai thứ chất ấy
khi tập hợp nơi màu đen của chúng
những màu đen khác nhau:
những chất lỏng, những chất đặc,
thứ ở phía sau cuộc sống, 
thứ ở phía sau sự chết,
thứ thuộc mọi câu hỏi,
thứ thuộc mọi câu trả lời.
 
 
98
 
Chúng ta có khuynh hướng tin rằng mọi sự có đó
chỉ để chúng ta nhìn thấy,
như thể ánh mắt của chúng ta
là tiêu chuẩn duy nhất của thực tại.
 
Thế nhưng con người và ánh mắt của y tan biến
và mọi sự vẫn còn đó.
 
Và để làm gì?
Để ai nhìn thấy?
 
Rất có thể là mọi sự có đó
để chứng tỏ rằng không cần
một điều gì đó phải được nhìn thấy mới hiện hữu.
 
Nhìn thấy có lẽ là một hồi đoạn,
một điều gì khác có đó.
 
Thế tuy nhiên, chúng ta không thể không cảm thấy
có điều gì đó tựa như ánh mắt
nâng đỡ, như con mắt nâng đỡ những mí mắt,
cái hồi đoạn khác mà chúng ta kêu bằng thực tại.
 
 
99
 
Một bài thơ ở tình trạng tự nhiên
không một sửa chữa nào khác hơn là tiếp tục
có lẽ sẽ miêu tả cho chúng ta một khuôn mặt ở cùng đáy
nhưng sẽ không bao giờ
là bản sao phù hợp nhất của chúng ta.
 
Cái tự nhiên không còn có thể sao chép chúng ta,
cái siêu tự nhiên cũng thế.
Chỉ có thể sao chép chúng ta là những từ đang thiếp ngủ
đằng sau viễn ảnh đánh thức chúng ta.
 
Những từ này những từ rốt cuộc cũng thức dậy
đằng sau lưng viễn ảnh.
 
 
100
 
Những sự sáng suốt cuối cùng
làm mờ đục một phần mặt pha lê,
như thể chúng dành lại một nơi trú ẩn.
Nếu chúng ta tìm cách lau chùi vết mờ đục,
chúng ta khiến mịt mờ một góc sự trong suốt.
Nếu ta để mặc vết mờ,
có lẽ nó sẽ lan ra khắp mặt pha lê.
 
Có lẽ sự sáng suốt cuối cùng
báo cho chúng ta cái bí quyết
khi chúng ta không còn có thể sử dụng được nữa.
Duy ở cuối một lộ trình
chúng ta mới có thể thấy được khoảng đường đã qua.
Trước đó ta chỉ sống cuộc đời không chi tiết.
Ta chỉ thấy duy nhất ở phía sau,
dẫu phía sau hầu như lúc nào cũng tự xóa mờ.
 
Cuộc đời và viễn ảnh
kế tiếp nhau nơi chúng ta,
tựa như những người lính canh không chờ tới phiên mình.
 
 
101
 
Chỉ có vết nứt của sự thiếu thốn
mới đưa chúng ta lại gần cuộc gặp gỡ.
Và nếu cuộc gặp gỡ diễn ra
nào có hề gì nếu đó là một đường nứt khác.
 
Có điều như thế chúng ta sẽ tìm thấy
bí ẩn của vết nứt đầu tiên.
Tại sao chúng ta lại cảm thấy cái gì không hiện hữu
như một sự thiếu thốn?
Phải chăng đó là cách duy nhất
khiến nó hiện hữu?
 
 
102
 
Từ một vực thẳm này tới một vực thẳm khác.
Chúng ta đã sống như thế đó.
Và khi trở lại với chúng ta phần phụ diễn xen kẽ
của một vùng không khí,
nơi hít thở và đứng vững thật dễ dàng,
chúng ta đã hối tiếc mà không muốn có vực thẳm
đã nuôi dưỡng chúng ta bằng không gì hết.
 
Từ đáy cùng của hữu thể trèo lên một thứ mê hoặc
để đòi hỏi, khi cái chết tới,
rằng hết thảy phải là một vực thẳm, chứ không phải một chiều hướng khác.
 
Có lẽ trong đó chúng ta sẽ mọc cánh.
 
Ở bên trong một vực thẳm luôn luôn có một vực thẳm khác.
Và nếu không có sự khác biệt thời sẽ có khoảng cách.
Chúng ta chỉ còn phải tìm ra và là
khoảng cách ở bên trong vực thẳm.
 
 
103
 
Bài thơ không bao giờ tới khi phải tới.
Không nguyên cuộc sống xô đẩy nó,
mà cả cái chết nữa,
cái chết cũng không tới khi phải tới.
 
Sự trông chờ không đủ:
cần phải học cách thay thế nó
bằng một không gian khai mở hơn
chứa đựng,
như thần linh trong phủ định,
cái gì xảy tới khi không cần phải tới.
 
Không ai sẽ có thể vạch ra được một thời biểu bao giờ,
thời biểu tới hoặc đi
của chút gì đáng kể.
 
Sự đúng mực, sự thích thời
là những mưu mô nho nhỏ
mà một tất yếu rõ rệt hơn hủy đi
để cho sự không tới bao giờ cũng,
tựa như cái góc cạnh trung thực nhất,
ở nơi chiếc rễ không nhằm chỗ của sự tới.
 
Sự tới này
có lẽ sẽ không còn tới nữa
nếu như nó tới khi phải tới.
 
 
104
 
Có những lần âm nhạc chiếm vị trí đầu tiên,
nhưng những lần khác nó lui về diện thứ yếu
và để lướt qua nơi chúng ta
một cái gì thương mến hơn cả chính nó.
 
Thế nhưng có cái gì thương mến hơn âm nhạc,
có cái gì lướt qua như nó
và cứu vớt chúng ta như nó?
Một cái gì có thể bao trùm lấy chúng ta
mà chúng ta không thể biết được rằng nó bao trùm chúng ta
từ bên ngoài vào bên trong
hay từ bên trong ra bên ngoài?
 
Tất cả những gì cứu vớt
đều phải lui ra trong một khoảnh khắc
để một điều gì khác cứu vớt chúng ta.
 
Tự do của con người quá lớn lao
khiến nó cũng không thể tự hạn giới
vào duy một mức độ giải thoát mà thôi.
 
 
105
 
Tại sao có nhiều lần
khi viết một con số
chúng ta lúc nào cũng lầm ở cùng một số?
 
Có điều gì khác muốn nói ở đấy
qua sự phá vỡ thật phi lý ấy
nơi bài hợp ca êm đềm của những con số?
 
Đây không phải là một sự vấp váp đần độn,
một hành động giản đơn thất bại,
một con tim ngộ nhận
khi bắt chước vành trăng.
 
Có lẽ là trong những điều ngoan cố lạ xa ấy,
những điều đã lọt vào với sự xấc xược của một đoạn tuyệt,
gắn liền như một đọt non không báo trước
sự lộ ra của những ký hiệu tượng trưng mà chúng ta không có.
 
Nếu quả thế, thời chuyện sửa chữa lỗi lầm không có giá trị gì:
cần phải để nó mọc ra và không được vặn bẻ nó đi.
 
 
106
 
Kêu gọi ở nơi không có ai
cũng tựa như tự kêu gọi chính bản thân mình
hay cái phần mình khốc liệt nhất:
chiếc bóng sự vắng mặt của mình.
 
Và kêu gọi nó ở đó nơi nó tìm đến
với chiếc bóng của mọi sự vắng mặt.
Chính bởi thế mà có lẽ đúng
là gõ ở nơi không có ai
biến thành kêu gọi sự có mặt của ai đó.
 
Và kêu đòi một sự có mặt
luôn luôn đưa ta tới chuyện gặp gỡ một sự vắng mặt.
 
Lúc đó, dẫu như tôi đau khổ,
tốt hơn là em chẳng nên có đó khi tôi kêu gọi em.
Hoặc nếu như em có đó, em hãy lui xa,
để tính chuyện gặp gỡ trong vắng mặt.
 
 
107
 
Con người không ngừng thu thập những mảnh vụn của mình,
trong lúc bác bỏ cái bề ngoài toàn vẹn và hoàn tất của y.
Những điều mê tín ẩn trong đôi tay
khi một tiếng kêu vây kín buổi chiều.
 
Con người luôn luôn là một chiếc ly bể.
Y lượm lặt một cánh tay hay một ống chân,
một điều lãng quên hay ngôn từ của mình,
lúc nào cũng những mảnh vụn đã lăn lăn.
Y lượm lặt những nỗi sợ của mình và những mảnh vụn của những người đã chết
cũng là những mảnh vụn của y dẫu chúng có vẻ như là của những người khác.
Tại sao y lại không để chúng
tản mác trên trái đất?
 
Có lẽ nếu y khước từ
chuyện bảo tồn những gì còn lại thảm hại của y,
y sẽ đạt được chính sự nhẹ nhàng của y, sự trong sáng của y.
 
Ảo tưởng con người toàn vẹn
mở ra một con đường mới:
sự cảm thông với tất cả,
là vì chỉ có những phần mảnh.
 
Và cả cái nhìn trần trụi nhất
lục lạo như một gã hành khất được soi rọi
những hình ảnh sống động đang chờ đợi y
như những tạo vật rình mò giữa những đổ nát.
 
Rất có thể là một người đổ vỡ và một hình ảnh
khi kết hợp tái tạo lại cái toàn vẹn
nơi một mép lề nào đó đỡ ác độc hơn của vũ trụ.
 
 
108
 
Có những sự vật cần phải mất đi,
để hoàn thành chu kỳ của chúng
và như thế tránh khỏi mưu chước của những sự biến dạng.
 
Có lẽ chúng ta cần phải giúp chúng mất đi
để chúng tìm được khá hơn vị trí của chúng trong trống không.
 
Và nếu chúng ta muốn một sự vật nào trở lại,
chúng ta có thể đặt một mảnh giấy với tên nó
ở nơi chốn mà nó khởi sự mất đi
để ít ra cũng ghi dấu
con đường trở lại.
 
Cũng có thể là trống không muốn hoàn trả những miếng mồi
và chúng ta có thể hợp tác với nó.
 
 
109
 
Một ngày kia chúng ta sẽ không còn có thể ra đi nữa.
Đột nhiên, sẽ quá trễ.
Không còn quan trọng gì biết
cuộc du hành từ đâu tới và đi về đâu.
Có lẽ về đầu cực bên kia của thế giới
hay chỉ từ mình tới chiếc bóng của mình.
 
Lúc đó chúng ta sẽ vẽ hình một con chim
và chúng ta sẽ đóng đinh nó ở bên trên cánh cửa
như huy hiệu và dấu ghi nhớ,
để nhắc nhở rằng
cuộc khởi hành tối hậu cũng chẳng có.
 
Và chiếc lao,
đã đóng xuống mặt đất,
sẽ chỉ cắm sâu thêm chút nữa.
 
 
110
 
Những câu trả lời đã chấm dứt.
Có lẽ chúng chưa bao giờ có
và chúng chỉ là những chiếc gương
đối chiếu với trống không.
 
Nhưng lúc này những câu hỏi cũng đã chấm dứt.
Những chiếc gương đã vỡ,
kể cả những chiếc không phản chiếu gì hết.
Và không có cách nào làm lại chúng.
 
Tuy nhiên,
có lẽ vẫn còn ở đâu đó một câu hỏi.
Im lặng cũng là một câu hỏi.
 
Vẫn còn một chiếc gương không thể vỡ
là vì nó không đối chiếu với gì hết,
là vì nó ở bên trong tất cả.
 
Chúng ta đã tìm ra một câu hỏi.
Im lặng phải chăng cũng sẽ là một câu trả lời?
Có lẽ, vào một lúc nào đó đã định,
những câu hỏi và câu trả lời cũng hệt như nhau.
 
 

TAM BÌNH THẲNG ĐỨNG

 
 
1
 
Một cử chỉ hướng xuống thấp
không phải bao giờ cũng gặp
một cử chỉ hướng lên cao.
Nhưng khi nó gặp,
thời cả hai lên cao
hay cả hai xuống thấp.
 
Hay có lẽ mọi ý nghĩa sẽ biến đi
và khai mào ở điểm gặp gỡ
cuộc biến hình miễn cho chúng
khỏi một chuyển động nào đó.
 
Mọi cử chỉ đều là một hiển hiện *
khi không còn gì khác biệt
giữa cao và thấp.
 
-----------------
* una epifanía. Từ này thường dùng để chỉ sự «tỏ mình» của Chúa Giê-su cho ba vị đạo sĩ phương Đông, bên đạo Thiên chúa quen gọi là «Ba vua»; hay lễ Ba vua. (ND.)
 
 
2
 
Tôi rót nước từ một chiếc ly
và nó không xuống tới mặt đất:
không khí đỡ lấy nó.
 
Chỉ xuống tới mặt đất
một sao bản của nước.
 
Cũng như thế sự trong sáng
cứu vãn sự trong sáng.
 
 
3
 
Tôi muốn đánh cá vô tận.
Tôi chưa hoàn tất đề nghị của tôi.
Có lẽ tôi sẽ chẳng bao giờ hoàn tất nó,
nhưng tôi biết nó là đề nghị duy nhất đáng kể.
 
Và có lẽ điều đó cũng đủ:
cuộc đánh cá của tôi sẽ tự thực hiện
nếu như tôi không hoàn tất nó.
 
Sẽ hoàn thành nó thay tôi
hơi thở mà tôi đã giúp phát sinh.
 
                                        ROBERTO JUARROZ
 
------------
Đã đăng:

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018