thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Văn xuôi đường tàu xuyên Tây-bá-lợi-á và cô bé Jehanne de France
Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường
 
 
BLAISE CENDRARS
(1887-1961)
 
                       Tặng các nhạc sĩ
 
Thuở ấy tôi đang thời niên thiếu
Tôi vừa tròn mười sáu và đã quên hết tuổi thơ
Tôi ở cách nơi tôi sinh 16.000 dặm
Tôi ở Mạc-tư-khoa, ở thành phố của một ngàn lẻ ba tháp chuông và bảy nhà ga
Và tôi chưa biết chán bảy nhà ga và một ngàn lẻ ba cái tháp chuông ấy
Bởi vì thời niên thiếu của tôi quá hăng say và ngông cuồng
Nên trái tim tôi lần lượt bừng cháy như ngôi đền Éphèse hay Quảng trường Đỏ ở Mạc-tư-khoa
Lúc mặt trời đi ngủ.
Và mắt tôi đã thắp sáng những nẻo đường xưa.
Và tôi đã làm thơ rất dở
Nên không biết đi đến tận cùng.
 
Điện Cẩm-linh trông giống như chiếc bánh Tạc-ta khổng lồ
Rám vàng,
Với những hạt hạnh nhân lớn là các ngôi thánh đường trắng xóa
Và chất vàng ngọt lịm của những quả chuông…
Một ông thầy tu già đọc cho tôi nghe huyền thoại Novgorode
Tôi khát
Và tôi mò mẫm đọc những chữ cổ hình nêm
Rồi, bất chợt, chim bồ câu của Thánh thần bay vụt lên quảng trường
Và hai tay tôi cũng bay lên, với tiếng đập cánh của hải âu
Và đây là những hoài niệm cuối cùng trong ngày cuối cùng
Của chuyến đi cuối cùng
Và của biển.
 
Thế nhưng, tôi đã làm thơ rất dở.
Tôi đã không biết đi đến tận cùng.
Tôi đói
Và tất cả những ngày tất cả những đàn bà ngồi trong các quán cà phê và tất cả những ly rượu
Tôi đều muốn uống cạn và đập vỡ tan
Và hết thảy những tủ kính và hết thảy những phố xá
Và hết thảy những căn nhà và hết thảy những cuộc đời
Và hết thảy những vòng bánh xe ngựa quay cuồng trên những phiến đá trải đường gập gềnh
Tôi đều muốn đem ném hết vào một lò lửa gươm đao
Và đập cho dập hết những ống xương
Và cắt cho cụt hết những cái lưỡi
Và nấu cho tan thành nước những hình thù cao lớn dị dạng và lõa lồ dưới những lớp áo quần làm tôi khiếp sợ…
Và tôi đã linh cảm ngày Đức Ki-tô đỏ vĩ đại của cách mạng Nga giáng thế…
Và mặt trời là vết thương lở loét
Mở ra như lò than hồng.
 
Thuở ấy tôi đang thời niên thiếu
Tôi vừa tròn mười sáu và đã quên hết những kỷ niệm về ngày mình sinh ra
Tôi ở Mạc-tư-khoa, tôi muốn nhai nuốt những ngọn lửa
Và tôi chưa biết chán những ngọn tháp và những nhà ga ngời sao dưới mắt tôi
Tây-bá-lợi-á vang rền tiếng đại bác, chiến tranh xuất hiện
Đói lạnh dịch chuột và dịch tả
Và cơn lũ phù sa của dòng Amour cuốn theo hàng triệu cái xác chết
Nơi các nhà ga tôi thấy những chuyến tàu cuối cùng lên đường
Và không còn ai được đi nữa vì người ta đã thôi bán vé
Và binh sĩ phải ra chiến trường thì muốn ở lại nhà...
Và một ông thầy tu già hát cho tôi nghe huyền thoại Novgorode.
Tôi, kẻ làm thơ rất dở, chẳng muốn tới đâu cả mà lại có thể đi khắp nơi
Và bọn con buôn còn khá bộn tiền
Để đi xa làm giàu.
Xe lửa chở họ đi thường lên đường mỗi sáng thứ sáu.
Theo tin đồn thì đã có rất nhiều người chết.
Một tên lái buôn chở một trăm thùng đồng hồ reo và đồng hồ cúc cu của vùng Forêt-Noire
Một tên khác, những chiếp hộp đựng nón, những ống xy-lanh và một lô tạp nhạp đồ khui rượu từ Sheffield
Một tên khác nữa, những cỗ quan tài Malmoe chất đầy đồ hộp và cá mòi dầu
Và cũng có rất nhiều đàn bà
Những ả giang hồ những khe đùi cho thuê cũng có thể dùng làm
Hòm
Họ thảy đều có giấy hành nghề
Theo tin đồn thì đã có vô số người chết ở ngoài ấy
Bọn đàn bà đi tàu giá hạ
Và tất cả đều có tiền bỏ ngân hàng.
 
Thế rồi, một buổi sáng thứ sáu cũng đã tới phiên tôi
Bấy giờ là vào tháng chạp
Và tôi đi hộ tống một tên buôn bán đồ nữ trang trên đường tới Kharbine
Chúng tôi có hai buồng riêng trên chuyến tàu tốc hành và ba mươi bốn thùng nữ trang vùng Pforzheim
Toàn hàng rẻ tiền của Đức "Made in Germany"
Hắn sắm y phục mới cho tôi và lúc đáp tàu tôi đánh rơi một cái nút áo
- Tôi còn nhớ, tôi còn nhớ, tôi còn nghĩ tới chuyện đó từ cái hôm ấy -
Tôi nằm trên các thùng đồ rất khoái chí và hoan hỉ nghịch đùa với khẩu súng lục mà kền hắn đã đưa cho
 
Thuở ấy tôi rất hạnh phúc và vô tư
Tôi tưởng tượng mình đương chơi trò cướp giật
Chúng tôi đã cướp kho báu Golconde
Và đáp tàu xuyên Tây-bá-lợi-á đem giấu bên kia thế giới
Tôi có phận sự chống lại bọn đạo tặc ở Oural, chúng đã tấn công phường hát dạo trong tiểu thuyết Jules Verne
Chống bọn Khun-gu, bọn quyền thuật bên Tàu
Và bọn Mông-cổ nhỏ con hung dữ của Đạt-lai Lạt-ma
Alibaba và bốn mươi tên trộm
Và các đệ tử của Lão già đáng sợ trên đỉnh cao sơn
Và nhất là, chống lại bọn tân thời hơn
Lũ đạo chích khách sạn
Và các tay chuyên môn trên các chuyến tàu tốc hành quốc tế.
 
Thế nhưng, thế nhưng
Tôi buồn như một thằng bé con
Nhịp điệu của xe lửa
Cái "tủy-thiết-lộ" của các nhà phân tâm Mỹ
Tiếng cửa đóng rầm rầm tiếng người tiếng trục xe nghiến ken két trên đường ray băng giá
Cuộn-đường vàng của tương lai tôi
Khẩu súng lục cây đàn dương cầm và những tiếng chửi thề của con bạc ở toa bên cạnh
Sự có mặt diệu kỳ của Jeanne
Gã đàn ông đeo kính xanh nôn nóng đi tới lui trong hành lang và ngó tôi mỗi bận hắn đi qua
Tiếng sột soạt của áo quần đàn bà
Và tiếng còi của hơi nước rú
Và tiếng bánh xe lăn như điên dại mãi mãi trên những lằn bánh của trời
Cửa kính đọng sương giá
Không có thiên nhiên!
Và ở phía sau, vùng bình nguyên Tây-bá-lợi-á bầu trời trũng thấp và những cái bóng to lớn của bọn Người lầm lì di động lên xuống
Tôi nằm đắp tấm chăn
Sặc sỡ
Như đời tôi
Và đời tôi không khiến cho tôi ấm áp hơn mảnh chăn Tô-cách-lan ấy
Vậy mà toàn thể châu Âu nhìn thấy qua sự vụt nhanh của một con tàu tốc hành xả hết tốc lực
Cũng không giàu có bằng cuộc đời tôi
Cuộc đời tôi khốn khó
Cái chăn
Sờn rách ấy trên những chiếc rương đựng vàng
Đang cùng với tôi lăn trên đường
Cho dù tôi có ngồi mà mơ tưởng
Cho dù tôi có ngồi mà rít thuốc lá
Và ngọn lửa độc nhất của vũ trụ bao la
Chỉ là một ý nghĩ mọn hèn…
 
Từ đáy tim ta những giọt lệ trào lên
Khi ta nghĩ tới nàng, Tình Yêu hỡi;
Nàng chỉ là một con bé mà ta đã gặp
Tái tê, trinh trắng, giữa chốn lầu xanh
 
Nàng chỉ là một con bé có mái tóc vàng, dễ thương và hay buồn,
Chưa bao giờ ta được thấy nàng mỉm cười hay khóc lóc;
Nhưng nơi đáy mắt nàng, lúc nàng để cho ta ngắm
Run rẩy một cành huệ trắng, đóa hoa của thi nhân.
 
Nàng quá đỗi dịu dàng và lặng lẽ, không một lời oán trách.
Toàn thân nàng khẽ rung mỗi khi ta xích tới gần;
Và trong những buổi tình cờ ta ghé lại thăm
Nàng tiến một bước về phía ta, rồi nhắm mắt – và bước thêm một bước nữa.
 
Bởi nàng là người yêu của ta và lũ đàn bà kia chỉ là
Những tấm thân lửa hồng lớn dưới những xiêm y bằng vàng
Còn cô bạn bé nhỏ của ta vì quá bơ vơ
Nên không áo, không thân hình - chao ôi, sao mà nàng trơ trụi nghèo khổ đến thế.
 
Nàng chỉ là một bông hoa dại khờ và ngây thơ,
Đóa hoa của thi sĩ, bông huệ trắng hiền lành,
Lạnh lẽo, đơn côi, và đã tàn rũ cánh
Nên lệ dâng nhòa mắt ta mỗi khi ta nhớ đến tim nàng.
 
Và đêm nay cũng hệt như muôn ngàn đêm khác khi một chuyến tàu vụt qua trong đêm tối
- Những vì sao chổi rơi -
Và người nam và người nữ, dù còn trẻ, đang vui đùa với chuyện ái ân.
 
Bầu trời như mái lều rách của một gánh xiệc nghèo trong một làng chài nhỏ
ở miền Flandres
Mặt trời là ngọn đèn dầu tỏa khói
Và trên chiếc đu cao lơ lửng một người đàn bà làm mặt trăng
Tiếng kèn cla-ri-nét cây nòng thụt tiếng sáo giọng chua lòm và tiếng trống nham nhở
Và đây chiếc nôi của tôi
Chiếc nôi của tôi
Nó vẫn nằm bên cây đàn dương cầm mỗi khi mẹ tôi như bà Bovary chơi những cầm tấu khúc của Beethoven
Tôi đã sống trọn tuổi thơ trong những vườn hoa treo của Babylone
Và những buổi trốn học, đứng trên sân ga nhìn những con tàu lên đường
Giờ đây, tôi đã khiến tất cả những con tàu chạy đuổi theo tôi
Bâle - Tombouctou
Tôi cũng có đánh cá ngựa ở Auteuil và Longchamp
Paris - Nữu-ước
Giờ đây, tôi đã khiến tất cả những con tàu chạïy xuôi theo đường đời tôi
Madrid - Stockholm
Và tôi đã thua hết mọi cuộc đánh cá
Chỉ còn miền Patagonie miền Patagonie là thích hợp với nỗi buồn tôi bất tận, miền Patagonie và một chuyến đi về vùng biển Nam Mỹ
Tôi đang dong ruổi trên đường
Tôi vẫn luôn luôn dong ruổi trên đường
Tôi đang dong ruổi trên đường với cô bé Jehanne de France
Xe lửa lộn nhào rồi rơi xuống trên tất cả những bánh xe
Xe lửa rơi xuống trên những bánh xe
Xe lửa vẫn rơi xuống hoài trên tất cả những bánh xe
 
"Blaise ơi, chúng mình đã thật xa Montmartre chưa?"
 
Chúng mình đã xa rồi, Jeanne ạ, em đi tàu đã từ bảy hôm
Em đã xa Montmarte, xa khu Gò đã nuôi nấng em xa nhà thờ Sacré-Coeur em đã từng thu mình đứng nép
Paris đã biến mất và ngọn lửa bùng lớn của nó
Chỉ còn những đám tro liên tiếp
Mưa rơi
Đống than bùn trương dậy
Vùng Tây-bá-lợi-á đảo quay
Những lớp tuyết nặng nề dâng đầy
Và cái lục lạc của sự điên cuồng rung rung như một điều ham muốn cuối cùng trong không khí đã chuyển sang màu lam
Con tàu thoi thóp trong tim những chân trời xám màu chì
Và nỗi muộn phiền em cười nhạo…
 
"Blaise ơi, chúng ta đã thật xa Montmartre chưa?"
 
Những lo âu
Em hãy quên đi những lo âu
Tất cả những nhà ga nứt nẻ xiêu xiêu trên đường
Những giây điện đeo lủng lẳng các nhà ga ấy
Những cây cột xì xằng nhăn nhó khoa chân múa tay và bóp cổ chúng
Thế giới giãn ra vươn dài và co lại như cây đàn phong cầm bị một bàn tay sa đích hành hạ
Trong những vết rách của trời những đầu tàu điên cuồng
Chạy trốn
Và trong những lỗ hổng
Những vòng bánh lảo đảo những cái miệng những tiếng nói
Và bầy chó bất hạnh đuổi theo chúng ta sủa
Lũ quỷ dữ lồng lộn
Những đống sắt vụn
Tất cả là một hòa âm sai lạc
Những tiếng bờ-rum-rum-rum của bánh xe
Những va chạm
Những cái nẩy bật
Chúng ta là một cơn giông dưới sọ một người câm…
 
"Blaise ơi, chúng ta đã thật xa Montmartre chưa?"
 
Xa rồi, hỏi mãi, em biết lắm mà, chúng mình đã thật xa
Sự điên rồ bị nung nấu quá độ rống lên trong đầu tàu
Dịch chuột dịch tả trỗi lên như những lò than hồng ngùn ngụt trên đường chúng ta
Chúng ta tan biến giữa chiến tranh mịt mù trong một đường hầm
Sự đói, con điếm, bám vào những đám mây tan hoang
Và phân của những trận đánh tụ thành những đống xác hôi tanh
Em hãy làm như nó, hãy hành nghề của em đi…
 
"Blaise ơi, chúng ta đã thật xa Montmartre chưa?"
 
Rồi, chúng mình xa rồi, chúng mình xa rồi
Tất cả những con dê tế thần đã chết phanh thây trên sa mạc này
Em nghe đây những tiếng chuông tồi tàn của bầy súc vật ghẻ lở
Tomsk Tcheliabinsk Kainsk Obi Taichet Verkné-Oundinsk Kourgane Samara Pensa-Touloune
Cái chết ở Mãn-châu
Là kè bến của chúng ta là sào huyệt cuối cùng của chúng ta
Cuộc hành trình này thật là đáng sợ
Sáng hôm qua
Ivan Oulitch tóc đã trắng
Và Kolia Nicolai Ivanovitch gặm móng tay đã được mười lăm ngày…
Hãy làm như cái Chết nạn Đói kém hãy hành nghề của em đi
Cái đó giá một trăm xu, trên con tàu xuyên Tây-bá-lợi-á thì một trăm rúp
Hãy làm rạo rực những ghế dài và đỏ loe dưới bàn
Thằng quỷ sứ ngồi ở đàn dương cầm
Các ngón tay u nần của nó kích thích tất cả đàn bà
Thiên nhiên
Những con đượi
Hãy hành nghề của em
Cho tới Kharbine…
 
"Blaise ơi, chúng ta đã thật xa Montmartre chưa?"
 
Thôi mà… đừng quấy rầy anh nữa mà… hãy để cho được anh yên thân mà
Em có đôi háng xương xẩu
Bụng em chua lòm em mắc bệnh lậu
Đó là tất cả những món quà Paris đã đặt vào lòng em
Đó cũng là một chút tâm hồn… bởi vì em bạc phước
Ta xót thương ta xót thương hãy đến với ta ngả vào lòng ta
Các bánh xe là những chiếc cối xay gió của xứ Cocagne [1]
Và cối xay gió là những cái nạng một thằng ăn mày làm quay tít
Chúng ta là những đứa cụt chân của không gian
Chúng ta lăn đi trên bốn vết thương
Người ta đã chặt cánh chúng ta
Những chiếc cánh của bảy mối đại tội
Và tất cả những xe lửa là đồ chơi của quỷ
Sân nuôi gà vịt
Thế giới kim thời
Tốc độ vô dụng ở đó nhưng
Thế giới kim thời
Những miền xa xôi thì quá xa xôi
Và ở cuối cuộc hành trình, thật là ghê rợn khi ta chỉ là một gã đàn ông với một ả đàn bà…
 
"Blaise ơi, chúng ta đã thật xa Montmartre chưa?"
 
Ta xót thương ta xót thương hãy đến với ta ta sẽ kể em nghe một chuyện
Hãy vào giường ta
Hãy ngả vào lòng ta
Ta sẽ kể em nghe một chuyện…
 
Ôi, lại đây em! lại đây em!
 
Trên quần đảo Fidji có mùa Xuân bất tuyệt
Sự lười biếng
Tình yêu làm ngây ngất những cặp nhân tình trong cỏ mọc cao và bệnh giang mai nóng bỏng rình rập dưới những bụi chuối
Em hãy đến những hòn đảo xa khuất trên Thái-bình-dương!
Chúng mang tên Phượng hoàng, Hầu tước [2]
Bornéo và Java
Và Célèbes với hình thù của một con mèo.
 
Chúng ta không thể đi qua Nhật-bản
Em hãy đến Mễ-tây-cơ!
Trên vùng cao nguyên cây hàng thiên môn [3] đang trổ hoa
Những cành cây leo lòa xòa chằng chịt là mái tóc mặt trời
Cảnh trí như bản trộn màu và những cây cọ của nhà họa sĩ
Những màu sắc choáng váng như những tiếng chiêng
Rousseau [4] đã ở đấy
Ông đã để cho đời mình chói lòa ở đấy
Ấy là xứ sở của muôn chim
Chim thiên đường chim đàn huyền
Chim đại chủy chim nhạo báng
Và chim sâu xây tổ trong tim những bông huệ đen
Em hãy đến!
Chúng ta sẽ yêu nhau trong cảnh hoang phế uy nghi của ngôi đền Ác-tếch
Em sẽ là tượng thần anh sùng bái
Một tượng thần trẻ con sặc sỡ hơi xấu xí và quái đản một cách rất ngộ
Ôi, em hãy đến!
 
Nếu em thích chúng ta sẽ dùng phi cơ và chúng ta sẽ bay lượn trên xứ sở của một nghìn hồ nước
Đêm ở đó dài lê thê
Ông tổ phụ thời tiền sử sẽ hốt hoảng vì tiếng động cơ
Anh sẽ đáp xuống
Và anh sẽ dựng trại máy bay bằng những khúc xương hóa thạch của loài khổng tượng
Ngọn lửa thời cổ sơ sẽ sưởi ấm tình yêu khốn khổ của đôi ta
Bình trà sa-mô-va
Và hai đứa ta sẽ yêu nhau thật trưởng giả ở gần miền địa đầu
Ôi, em hãy đến!
 
Jeanne Jeannette Ninette nini ni-nông vú hồng [5]
Mimi ái phi gà quý xứ Pê-ru
Ầu ơ cái ngủ
Củ khoai mâm xôi
Cưng ơi cưng tim nhỏ
Bông bí bông bụp của anh
Mình hỡi mình dê con
Hòn bi yêu dấu tật tình thầm kín
Vỏ ốc tròn xinh
Cúc cu
Nàng ngủ.
 
Nàng ngủ
Và tất cả những giờ phút trên cõi đời này nàng đã không nuốt lấy được một giây phút nào
Tất cả những khuôn mặt thoáng thấy trong các nhà ga
Tất cả những đồng hồ
Giờ Paris giờ Berlin giờ Saint-Pétersbourg và giờ của tất cả các nhà ga
Và ở Oufa, khuôn mặt bê bết máu của người xạ thủ giữ súng đại bác
Và mặt đồng hồ dạ quang ngờ nghệch ở Grodno
Và sự chạy tới mãi của xe lửa
Mỗi buổi sáng người ta điều chỉnh giờ lại
Xe lửa chạy nhanh mặt trời chạy chậm
Thôi đành vậy, tôi nghe những hồi chuông vang vang
Chuông nhà thờ Notre-Dame như bầy ong vù vù rất to
Chuông nhỏ the thé của điện Louvre gióng lên ngày Barthélemy [6]
Chuông trầm rỉ sét ở Bruges-la-Morte
Chuông điện của thư viện Nữu-ước
Chuông ở Venise
Và chuông ở Mạc-tư-khoa, chiếc đồng hồ nơi Cổng Đỏ đã đếm giờ hộ tôi khi tôi ngồi trong văn phòng
Và những kỷ niệm của tôi
Xe lửa ầm ầm trên những trục chuyển đường
Xe lửa lăn đi
Chiếc máy hát lè nhè một hành khúc bô-ê-miên
Và trái đất, như kim đồng hồ của khu phố Do-thái ở Prague, mải miết quay ngược chiều.
 
Hãy ngắt từng cánh hoa thị trên la bàn
Kìa những cơn giông đang bứt xiềng chuyển mình đi rào rào
Những chuyến xe lửa quay mòng mòng trên những đường ray rối loạn
Những đồ chơi của quỷ
Có những chuyến tàu không bao giờ gặp nhau
Những chuyến tàu khác thì mất hút trên đường
Các ông sếp ga ngồi đánh cờ
Tric-trac
Bàn bi da
Những trái bi đỏ
Những chuyện dụ ngôn
Đường ray là một môn kỷ hà học mới
Syracuse
Archimède
Và bọn lính đã cắt cổ ông ta
Và những chiến thuyền xưa
Và những hạm thuyền
Và những máy móc tuyệt vời ông đã sáng chế
Và tất cả những cuộc chém giết
Sử cổ thời
Sử kim thời
Những cơn lốc
Những cuộc đắm tàu
Kể luôn cuộc đắm tàu Titanic tôi đọc thấy trên báo
Bao nhiêu là hình ảnh liên tưởng tôi chưa khai triển được trong thơ
Bởi tôi vẫn còn làm thơ rất dở
Bởi vũ trụ ngập tràn tôi
Bởi tôi đã xem thường không đóng bảo hiểm phòng tai nạn đường ray
Bởi tôi chưa biết đi đến tận cùng
Và tôi sợ.
 
Tôi sợ
Tôi không biết đi đến tận cùng
Như anh bạn Chagall tôi có thể vẽ một lô tranh điên khùng
Thế nhưng tôi đã không ghi các nhận xét trong chuyến đi vào sổ tay
"Xin tha thứ cho tôi về sự dốt nát của tôi"
"Xin tha thứ cho tôi vì cái tội không biết luật thơ cổ"
Như Guillaume Apollinaire đã nói
Tất cả những gì có liên hệ đến chiến tranh người ta có thể đọc trong Hồi ký Kouropatkine
Hay trên các tờ báo Nhật có cả những hình minh họa rất ghê rợn
Tôi thời chả cần tra cứu tài liệu chi cả
Tôi chỉ buông thả tôi
Trong những cơn giật mình của trí nhớ…
 
Từ Irkoutsk cuộc hành trình đã trở thành quá chậm
Quá dài
Chúng tôi ngồi trên chuyến xe lửa đầu tiên chạy quanh hồ Baikal
Người ta đã tô điểm đầu tàu với cờ xí và đèn lồng
Và chúng tôi đã rời ga trong tiếng nhạc buồn của bài suy tôn Sa hoàng
Nếu là họa sĩ tôi sẽ trút rất nhiều màu đỏ, rất nhiều màu vàng lên đoạn cuối của chuyến đi này
Bởi vì quả thật tôi tin rằng tất thảy chúng tôi đã hơi điên khùng
Và một cơn mê cuồng rộng lớn đã vấy máu những khuôn mặt mệt mỏi bấn loạn của những người bạn đồng hành
Khi chúng tôi tiến tới gần Mông-cổ
Đang phừng phừng như một đám cháy
Con tàu chậm lại
Và tôi thoáng nghe trong tiếng rít không ngừng của những vòng bánh
Những thanh âm điên loạn và những tiếng nức nở
Của một lễ tiết ngàn đời
 
Tôi, tôi đã thấy
Tôi đã thấy những đoàn tàu lặng lẽ những đoàn tàu tối đen trở về từ miền Viễn Đông xa xôi lướt trôi như những bóng ma
Và con mắt tôi, như ngọn đèn treo ở đuôi xe, còn chạy mãi theo những đoàn tàu ấy
Ở Talga 100.000 người bị thương đang hấp hối vì thiếu thuốc men và chăm sóc
Tôi đã tới thăm các bệnh viện ở Krasnoiarsk
Và ở Khilok chúng tôi gặp một đoàn xe dài chở binh sĩ điên
Tôi đã thấy nơi những trạm phòng dịch những vết thương mở toác những vết thương máu xối xả tuôn
Và những tứ chi cắt lìa nhảy múa khắp xung quanh hoặc bay lên trong bầu không khí ngột ngạt
Đám cháy trên mặt và trong tim mọi người
Các ngón tay ngu xuẩn đánh trống trên tất cả những mặt kính cửa
Và dưới áp lực của hãi sợ những cái nhìn bể mủ như ung nhọt
Trong tất cả các nhà ga người ta phóng hỏa đốt hết các toa xe
Và tôi đã thấy
Tôi đã thấy những chuyến xe lửa với 60 đầu tàu xả hết tốc độ chạy trốn bị những chân trời động cỡn truy nã và những đàn quạ chới với tuyệt vọng bay đuổi theo ở phía sau
Vụt biến
Về hướng cảng Lữ-thuận [7]
 
Ở Tchita chúng tôi được nghỉ vài hôm
Tàu đỗ năm ngày vì kẹt đường
Trong lúc đợi chờ, chúng tôi ở trọ nhà ông Iankelewitch người muốn gả cô con gái độc nhất của mình cho tôi
Rồi đoàn tàu lại lên đường
Giờ đây chính tôi đang ngồi ở đàn dương cầm và tôi bị nhức răng
Tôi có thể thấy lại bất cứ lúc nào tôi muốn phía trong ngôi nhà yên tĩnh đó, cái cửa hiệu của người cha và đôi mắt cô gái buổi tối lén vào giường tôi
Moussorgsky
Và những tình khúc Hugo Wolf
Và cát của sa mạc Gô-bi
Và ở Khai-la một thương đoàn cưỡi lạc đà trắng
Tôi chắc rằng mình đã say bí tỉ trên một quãng đường dài hơn 500 cây số
Thế nhưng tôi đã ngồi ở đàn dương cầm và chỉ thấy vậy thôi
Khi đi xa ta nên nhắm mắt
Ngủ
Tôi đã thèm được ngủ biết bao
Dẫu khép mắt tôi vẫn nhận ra được mọi xứ sở nhờ mùi riêng của chúng
Và nhận ra được mọi đoàn tàu do tiếng động chúng gây ra
Xe lửa châu Âu có bốn nhịp xe lửa châu Á có tới năm hay bảy nhịp
Những đoàn tàu khác thì chạy âm thầm tựa những bài hát ru em
Và có những đoàn tàu với tiếng bánh lăn đều đều gợi nhớ tới văn phong nặng nề của Maeterlinck
Tôi đã lần ra được hết các văn bản mù mờ của những vòng bánh và đã thu thập những yếu tố rải rác có một vẻ đẹp dũng mãnh
Vẻ đẹp tôi hiện có
Vẻ đẹp cưỡng chế tôi
 
Tsitsika và Kharbine
Tôi không đi xa thêm nữa
Đây là ga cuối cùng
Tôi xuống tàu ở Kharbine vào lúc người ta vừa phóng hỏa đốt các văn phòng Chữ thập đỏ.
 
Ôi Paris
Chiếc lò sưởi lớn tỏa nóng với những thanh củi đường phố rực hồng gác tréo nhau và những ngôi nhà xưa cũ của mi đang cúi khom để sưởi ấm
Như các bà cụ
Và đây những tấm bích chương, màu đỏ màu lá xanh rực rỡ như quá khứ ngắn ngủi của ta màu vàng
Màu vàng, màu kiêu sa của những cuốn tiểu thuyết Pháp ở hải ngoại
Ta thích cạ người vào những chiếc buýt chạy trong các thành phố lớn
Buýt của lộ trình Saint-Germain-Montmartre đưa ta đi tấn công cái Gò
Những động cơ rống như đàn bò mộng bằng vàng
Những con bò cái của hoàng hôn gặm ngôi nhà thờ Sacré-Coeur
Ôi Paris
Ga trung ương kè bến của những ý chí ngã tư của những lo âu
Duy các tiệm bán sơn còn tí ánh sáng trên cửa
Hãng Quốc tế Toa-Giường nệm và Xe lửa Tốc hành Âu châu có gửi cho ta tờ quảng cáo
Đây là ngôi giáo đường đẹp nhất thế giới
Ta có bạn hữu vây bọc ta như thành cầu
Chúng sợ ta đi không trở lại
Tất cả những người đàn bà ta từng gặp gỡ trỗi dậy nơi những chân trời
Với dáng điệu thiểu não và ánh mắt u buồn tựa những trụ hải báo dưới mưa
Bella, Angès, Catherine, và mẹ của thằng con ta bên Ý
Và bà mẹ của người ta yêu ở Mỹ
Có những hồi còi xé nát hồn ta
Nơi xa kia, tận Mãn-châu, một cái bụng còn phập phồng như trong cơn đau đẻ
Ta mong ước
Ta mong ước mình đã chẳng bao giờ thực hiện những chuyến đi
Đêm nay một tình yêu lớn khiến ta điên đảo
Và bất chợt ta nghĩ tới cô bé Jehanne de France
Chính trong một đêm buồn tênh ta đã viết bài thơ này để tặng nàng
Jeanne
Cô gái giang hồ
Ta thật buồn ta thật buồn
Ta sẽ tới quán Lapin Agile ngồi nhớ lại thời hoa niên đã mất
Và uống những cốc rượu nhỏ
Rồi trở về nhà một mình
 
Paris
 
Thành phố của chiếc Tháp độc nhất của Giảo đài lớn và của Bánh Xe.
 
                                                                                  Paris, 1913
 
 
Dịch theo bản gốc tiếng Pháp: "Prose du Transsibérien et de la Petite Jehanne de France" trong thi tập Du monde entier (Poésies complètes: 1912-1924), Blaise Cendrars, nxb Flammarion, trong tủ sách Poésie/Gallimard, 1967, Paris. Bản dịch mới này có sửa chữa thêm từ bản dịch cũ mang tựa đề "Văn xuôi của chuyến xe lửa xuyên Tây-bá-lợi-á và của cô bé Jehanne de France" nhà Trình Bầy in năm 1989. Tôi thích tựa đề cũ hơn, nhưng phải hy sinh chọn một cái tựa mới không có "của" (du / de la) cho thích hợp với "văn phạm" tiếng Việt. Từ nay xin độc giả vui lòng sử dụng và trích dẫn bản dịch mới này với tựa đề mới hay cũ tùy nghi.
 
Ngoài những cách tân về ngôn ngữ và cấu trúc, "Prose du Transsibérien et de la Petite Jehanne de France" còn được tác giả coi như một tấu khúc với những âm thanh và tiết điệu mới mẻ để riêng tặng các nhạc sĩ. Theo thiển ý của tôi, tuyệt phẩm này vẫn còn hợp thời, nếu không muốn nói là rất hợp thời, vì những điểm tương đồng giữa đầu thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, với nạn đói khổ, hạn hán, si đa của thế kỷ này thay thế nạn đói kém, dịch chuột, dịch tả của thế kỷ trước, và khủng bố và chiến tranh và tsunami thay thế cho cách mạng và chiến tranh và cơn lũ phù sa của dòng Amour. (NĐT)
 
 
---------------------------------
Chú thích của người dịch:
 
[1] Pays de Cocagne, một miền hoang tưởng rất phong phú, xứ sở của "bờ xôi giếng mật".
[2] Iles Marquises, do nhà hàng hải Tây-ban-nha Alvaro Mendoza đến từ Pê-ru phát hiện đầu tiên (năm 1595) và đặt tên "Islas Marquisas de Mendoza" để vinh danh phu nhân phó vương xứ Pê-ru.
[3] Tulipier / tulipe tree: cây hàng thiên môn, theo Pháp-Việt tân tự điển minh họa của Thanh Nghị, nxb Sudasie, 1979, Paris.
[4] Henri Rousseau (1844-1910) nhà họa sĩ  nổi tiếng với những bức họa "ngây ngô" vẽ những cảnh rừng nhiệt đới rực rỡ.
[5] Nguyên tác:
    Jeanne Jeannette Ninette nini ninon nichon
    Mimi mamour ma poupoule mon Pérou
    Dodo dondon
    Carotte ma crotte
    Chouchou p'etit-coeur
    Cocotte
    Chérie p’tite-chèvre
    Mon p’tit-péché mignon
    Concon
    Coucou
    Elle dort.
[6] Barthélemy, cuộc thảm sát các tín đồ đạo Tin Lành (Cơ Đốc) tại Paris trong đêm 24 tháng 8, 1572.
[7] Port-Arthur, một hải cảng ở Đông-Bắc Trung Hoa, nhượng lại cho nước Nga năm 1896, đã bị Nhật chiếm năm 1905.
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018