thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Điều ấy làm thay đổi tất cả

 

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn

 

CATHRYN ALPERT

(1952~)

 

Cathryn Alpert — nhà văn, đạo diễn sân khấu — đậu Tiến sĩ về kịch nghệ tại University of California, Los Angeles, năm 1979, rồi giảng dạy nghệ thuật sân khấu tại Centre College từ 1980 đến 1984. Bà bắt đầu đăng truyện ngắn trên các tạp chí văn học từ năm 1988, và đã xuất hiện trên những tạp chí như Spectacles, Parting Gifts, Thema, ZYZZYVA, CPU Review, The Amaranth Review, Good Times, Surface Tension, Puerto del Sol, Aim Magazine, CrazyQuilt, Rag Mag, The Wittenberg Review, và Calliope. Truyện ngắn của bà được in lại trong nhiều tuyển tập (chẳng hạn, O. Henry Festival Stories, Best of the West 5, Walking the Twilight: Women Writers of the Southwest, An Anthology for Creative Writers: A Garden of Forking Paths, v.v.) và đem đến cho bà nhiều giải thưởng. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của bà, Rocket City, được xuất bản năm 1997 và được trao tặng Bread Loaf Fellowship. Bà cũng viết bài điểm sách thường xuyên trên tờ The San Francisco Chronicle Book Review từ năm 1996 đến nay.
 
Cathryn Alpert hiện đang sống tại California cùng chồng, hai đứa con trai, và hai đứa con gái nuôi (Senna, từ Việt Nam; và Sofia, từ Ấn-độ).

 

___________________

 

ĐIỀU ẤY LÀM THAY ĐỔI TẤT CẢ

 

I

 

Cảm nhận điều gì đó sai lầm từ gốc rễ. Không phải sai lầm từ nền móng, như một số người có thể nói thế, nhưng từ gốc rễ, như sai lầm đến tận cốt lõi. Máu và xương. Như thể trong đó có các chất liệu mà chúng ta được tạo ra và không cách nào trút bỏ.

 

II

 

Chải răng một trăm lần trước khi đi ngủ. Thức giấc lúc tám giờ và phủi những mảnh vụn bột bắp giòn trên quầy tủ. Tô son phấn lên mặt theo một thứ tự khác để ngày hôm ấy có thể mang đến những điều ngạc nhiên.

 

III

 

"Hãy biết ơn về những gì em có," chàng vừa nói vừa trét bơ hột cải cay lên ổ bánh mì. Chàng muốn nói đến hai con mắt, vì chàng đã mất một con mắt ở Việt Nam. Chàng muốn nói đến số hai của bất cứ thứ gì tưởng như luôn đi cặp với nhau, như những nhịp tim, những bước chân, và vâng, cả con người nữa.

Và tôi muốn nói với chàng cuộc sống thì khác hơn là thế. Nhưng làm sao bạn nói điều này với một người đàn ông đã từng cúi nhìn trân trối những mảnh bom.

 

IV

 

Khi chàng mất một con mắt, chàng mất cảm nhận về chiều sâu. Chàng vói tay lấy một chai bia nhưng lại chụp vào không khí. Đã có lần chàng va đầu vào một khung cửa. "Nó trở lại," chàng nói với tôi. "Nó phải mất chút ít thời gian, nhưng bộ não học lại cách nhìn sự vật theo phối cảnh."

 

V

 

Mỗi buổi sáng tôi lập một danh mục những việc cần làm. Ban đêm, tôi chuyển bất cứ điều gì chưa làm sang một danh mục khác và đặt nó vào hộc bàn cạnh giường ngủ. Cái danh mục khác ấy đã dài đến mười trang. Ở đầu trang nhất có ghi, "Xếp quần áo em bé vào các thùng". Tôi có sẵn chúng trong các thùng, nhưng không đúng là những thùng để đựng thứ quần áo bạn muốn để dành cho các cháu nội ngoại.

 

VI

 

Bạn có thể nói con mắt nào không phải là con mắt thật qua cách nó nằm trong hốc của nó, ngó trao tráo vào thế giới như con mắt của một con cá thu mắc vào chiếc lao móc. Tôi thích nhìn nó, quả cầu thuỷ tinh không nhãn giới ấy. Khi ánh sáng chiếu đúng góc độ, tôi có thể thấy chính mình trong đó.

 

VII

 

Tôi nằm trong giường và đếm những ngôi sao ngoài cửa sổ. Chúng chậm rãi trải ngang một bầu trời không mây. Đêm hôm qua có năm mươi bảy ngôi sao.

 

VIII

 

Cách đây nhiều năm, chàng đeo một miếng che mắt, nhưng rồi lại vất nó đi khi thấy những người đàn bà bị nó lôi cuốn. "Những bà mẹ đất," chàng nói với tôi. Những người đàn bà ấy chùi xúp dính trên râu chàng và tỉa lớp da chết từ rìa những móng ngón chân cái của chàng. Trong giường, họ cưỡi chàng như phi nước đại trên một con ngựa gỗ.

Rồi chàng chọn tôi, chàng nói, vì tôi dường như lãnh đạm.

 

IX

 

Vài buổi sáng, khi bọn trẻ con đã đi học, tôi ngồi trong giường và ngắm hơi nước bốc lên từ cốc cà-phê của mình. Nó có mục đích, hơi nước ấy. Nó biết điều gì nó phải làm.

 

X

 

Chàng cắn mạnh vào miếng bánh mì kẹp thịt của chàng. Khom mình xuống sát mặt bàn. Ngước lên nhìn tôi qua khoé mắt.

Và tôi muốn nói với chàng rằng tôi biết tôi được yêu. Và rằng điều ấy làm thay đổi tất cả.

Và đó hẳn sẽ là một lời nói dối dễ dàng biết mấy.

 

 

---------------------
Nguyên tác: "That Changes Everything", trong Irene Zahava, ed. Word of Mouth II (California: Crosssing Press, 1991). In lại trong Robert Shapard & James Thomas, eds. Sudden Fiction [Continued] (New York, NY: W.W. Norton & Company, 1996). In lại trong Beth Anstandig & Eric Killough, eds. An Anthology for Creative Writers : A Garden of Forking Paths (New Jersey: Prentice Hall, 2006 [sắp xuất bản]).

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018