thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
GHI BẰNG BÚT CHÌ TRONG TOA TÀU NIÊM KÍN và những bài thơ khác [II]
Bản dịch Diễm Châu
 
 
DAN PAGIS
(1930-1986)
 
 
GHI BẰNG BÚT CHÌ TRONG TOA TÀU NIÊM KÍN
và những bài thơ khác [II]
 
— bản dịch này để tặng nhà số 9,
đường Trại cau, Hải-phòng.
DC.
 
 

TẤM LỊCH TREO TƯỜNG

 
Tháng chạp. Một cơn gió bắc cực, sắc cạnh, mới.
Các thiên thần và gấu trắng rơi vào giấc ngủ mùa đông.
Đúng lúc ấy,
bên trên đầu, kín đáo trong tuyết mịn
những chiếc bẫy mùa xuân được chăng ra.
 
Tháng sáu. Trong một lễ nghi quân cách đầy ánh nắng
người đản ông được chôn cất vào giữa trưa.
Đúng lúc ấy
là nửa đêm trong bụng người đàn bà.
Thai nhi có lệnh gọi
phải trình diện để thi hành nghĩa vụ.
 
Tháng chạp. Đột nhiên con thuyền lật úp.
Tôi đắm chìm giữa vùng biển hôi tanh và, như có thể đoán trước, 
đúng lúc ấy,
trước mắt tôi, tất cả những năm tháng đã bị giật mất của tôi trôi xuôi
như một dòng sông dịu êm. 
 
 

BÁO CÁO CHUNG CUỘC

 
Những gì tìm được chứng tỏ một sự xao lãng hoàn toàn.
Sau cái trán 
là những khoảng xanh rộng lớn.
Nguyên cớ chưa xác định được.
Lúc này, trái với sự trông đợi, bắt đầu
một tiếng chíp chíp khả nghi,
và trong lồng, giữa những vồng xương mỏng mảnh,
có ai đó thức dậy: hát.
 
 

CHO MỘT CUỘC NGHIÊN CỨU VĂN CHƯƠNG

 
Anh hỏi tôi cách thức tôi viết lách ra sao. Tôi xin thuật lại hầu anh, nhưng xin anh hãy giữ kín chuyện này. Tôi lấy một củ hành chin, ép nước ra, nhúng bút vào nước ép, và viết. Ấy là một thứ mực vô hình tuyệt hảo: nước cốt hành không màu (giống như những giọt nước mắt hành gây ra), và sau khi khô rồi không để lại một dấu vết. Trang giấy lại xuất hiện trắng tinh như trước. Chỉ tới khi nào đem lại gần lửa chữ viết mới lộ ra, lúc đầu còn ngập ngừng, đây một chữ, kia một chữ, và sau cùng, như phải vậy, từng câu và hết mọi câu. Chỉ có một vấn đề. Không ai biết cái sức mạnh bí ẩn của lửa, và ai ngờ được rằng trang giấy trắng tinh kia lại có gì viết trên đó?
 
 

PHIM CÂM

 
Đêm nay trong lúc hắn nằm ngửa 
trần nhà trắng biến thành một màn ảnh
qua tấm mành ánh sáng nghiêng nghiêng soi rọi
những định mệnh, trắng đen
 
Người mẹ hôn đứa con và đi khỏi
đứa con chạy theo bà leo lên bức tường
gặp một tấm bánh ngọt bước ra với một khuôn mặt đầy kem trên bánh
người cha thật dễ thương và thanh nhã bên kia đại dương
 
Cuốn phim dừng lại một lúc những năm tháng trôi qua
chẳng bao lâu nữa là một hồi kết cục vui tươi cho hết thảy bọn họ
hắn cảm thấy mình gần gũi họ vì họ là những kẻ hoàn toàn xa lạ
chính bản thân hắn ở lại trong bóng tối
 
Trong lúc ấy hừng đông chỗi dậy trần nhà trống rỗng
Bây giờ hắn sẽ nhắm mắt lại và nhìn ngắm
tấn tuồng diễn lại
chiếu trên mặt trong của đôi mi mắt
 
 

NGHỆ THUẬT CO RÚT

 
Thoạt đầu hắn nghĩ toàn bộ đồng cỏ xanh kia thuộc về hắn, với hết thảy muôn vàn những ngạc nhiên xanh của nó. Thế rồi hắn nhận ra rằng hắn không thể chịu đựng nổi cái cảnh hỗn mang như thế. Đúng, những lá cỏ không cao lắm, không cao hơn đầu gối hắn, có lẽ chỉ tới mắt cá chân, vậy mà chúng là cả một mê cung, xoắn xuýt, lừa gạt. Không có lấy một lối mòn, và như thế là cả một vô tận những lối: tự do chọn lựa bất cứ hướng nào hắn mong muốn, hắn lạc lõng vô phương cứu vãn.
 
Ấy thế là hắn lựa chọn co rút. Không phải một cánh đồng cỏ, mà chỉ một mảnh vườn trồng cỏ. Không đến thế, mà chỉ ba lá cỏ. Không phải ba, không cả đến một (và đây là, hắn cảm thấy, điều khó hiểu nhất của vấn đề), không cả đến một sợi cỏ mà thôi, mà chỉ là hình ảnh của nó. Ấy là cái tinh chất.
 
Rốt cuộc, sau khi đã treo nó lên tường, hắn hiểu: cái lá cỏ được vẽ ra này, cái lá cỏ bao hàm toàn bộ cánh đồng cỏ xanh kia, cũng chối bỏ luôn toàn bộ đồng cỏ xanh.
 
-------------------------
* Bản dịch này để tặng thi sĩ Nguyễn Quang Thiều. (DC.)
 
 

TRÒ CHUYỆN

 
Bốn người nói về cây thông. Một người định nghĩa nó bằng chủng, loại, và các giống khác nhau. Một người nhận định về những bất lợi của nó đối với kỹ nghệ gỗ. Một ngưởi dẫn những bài thơ nói về thông trong nhiều ngôn ngữ. Một người bén rễ, vươn cành, và rì rào.
 
 

CUỐI ĐÔNG

 
Này người hình nhân bằng tuyết thân mến
với đôi mắt bằng than người đã thấy trước những biến cố đen tối,
một tương lai đen tối. Biết bao can đảm đã phản chiếu từ đôi mắt người
chẳng hề chớp tới một lần! Và ở chính giữa
cái mũi vẫn còn đó, nhô ra: củ cà-rốt thật bi quan.
Hãy vui lên, hỡi người bạn trẻ, trong suy nhược già cỗi của bạn.
Quả thật, bạn và ta ở vào cuối đông 
có nhỏ hơn, yếu hơn đôi chút,
nhưng bạn cũng thừa rõ như ta:
tươi đẹp đã là những ngày mùa đông của ta, mùa đông của bạn,
và mùa hè của chúng ta cũng sẽ tươi đẹp nữa.
Tại sao chúng ta lại phải chờ đợi nó ở sân sau?
Chúng ta hãy lẻn ra khỏi đây, ngay lúc này, 
trước lớp bùn mùa xuân,
hãy vui vẻ và lẹ làng trôi xuôi xuống phố và xa hơn nữa
tới biển rộng, nếu có biển.
Ngày mai, đài phát thanh sẽ loan báo
rằng người ta, vĩnh viễn, không tìm thấy được một dấu vết nào của chúng ta
 
 

TRÒ NHÀO LỘN 

 
Một hồi trống thứ nhất—và y là một cuộn thừng bằng không khí, tứ chi bốn con rắn bằng cao-su, y xoay tròn, xuống dần trong một vòng cung rộng lớn, đáp xuống đất trên một đầu móng tay. Rất tài tình, nhưng không có gì mới.
 
Một hồi trống thứ nhì—và y là một trái banh giữa bảy trái banh, vừa đá, vừa bị đá, xuống dần trong một vòng cung rộng lớn, hấng lấy mọi trái banh trên mũi. Rất tài tình, nhưng không có gì mới.
 
Bỗng dưng, hoàn toàn bất ngờ, đôi chân y đứng trên sàn gỗ, bên trên là đôi hông y, bụng y, ngực, vai, cổ và trên chóp hết: mặt y lặng lẽ quay về bóng tối. Không có nghệ thuật nào lớn hơn.
 
 

TẬN TỤY

 
Những chiếc găng tay bằng cao-su, dùng cho nhà bếp—cục súc, có hiệu quả; dùng cho bàn giải phẫu—trơn trượt, bép xép, lần mò tới những chi tiết thầm kín nhất, và rốt cuộc, được khử trùng.
 
Trong mọi thứ găng tay bằng cao-su chỉ có một cái là cao quý: cái găng tay muôn thủa không hiện hữu, cái găng tay trong bức họa Tình Ca của De Chirico. Nó được đính vào một bức tường quét vôi trắng, trơ trụi; bên dưới nó là một trái cầu không thể dò xét đang mơ màng; và bên cạnh nó, trên tường, một đầu người bằng thạch cao, có lẽ là của Apollo, trừng trừng mù quáng nhìn vào khoảng không. Cái đầu ấy không biết rằng đằng sau nó thật xa, trong phản-không gian, có một đầu máy xe lửa đen đang phì phò nhả khói, làm bốc lên một đám mây, và trời đã muộn chiều. Nhưng cái găng tay vẫn lơ lửng nơi đây, trước mặt chúng ta, hoàn toàn tận tụy, và với tất cả những ngón tay rủ mềm nó trỏ xuống phía dưới và chỉ cho chúng ta, chỉ cho chúng ta lối đi.
 
 

TRONG BAO LÂU

 
Tuyết hỡi, lúc này mi không buồn để ý đến ta, 
dần dà bị quên lãng,
ta sẽ để lại cho mi nơi đâu
hơi thở của ta, đôi chân ta?
Trước, một cảnh yên hàn lớn thường chào đón chúng ta.
Mi đã quên sao? Mi kẻ bôi mờ những dấu chân, 
lúc này khi ta đã già như mi, đừng bỏ rơi ta.
 
 

NGOÀI HÀNG

 
Những hàng chữ trong một bài thơ, những hàng dài, hàng ngắn: mỗi hàng dành cho một cùng đích đã phân định.
Nhưng chúng ta, ở ngoài hàng, bay loanh quanh trong không gian, quay trở lại, bén lửa ở mép rìa không khí,
bừng cháy, tỏa bóng tối khắp chung quanh.
 
 

NGƯỜI NGHỆ SĨ TAY ĐUA

 
Sự cô độc 
của tay đua khoảng cách ngắn.
 
Hơi thở của anh chỉ giữ vững
tới lằn mức nửa đường.
 
Duy có dấu chân anh 
là tận tụy theo anh.
Nào, khởi sự! Chỉ có hai kẻ so tài: 
chân phải và chân trái.
 
Bởi thế không có kẻ thắng, người thua.
Anh được phép ngồi xuống nghỉ mệt, 
 
trở lại nhà, hay, nếu muốn, anh còn
được phép chạy.
 
 

TẤM HÌNH BƯU THIẾP THỜI TUỔI TRẺ CHÚNG TA

 
Một pho tượng Beethoven bằng thạch cao đứng trên cây đàn dương cầm của em
và ngẫm nghĩ: Tạ ơn trời ta đã điếc.
Cả đến lũ sẻ ở vùng quanh cũng hót lạc điệu sáng nay.
 
Chỉ có người Kurd bán rong là trung thực với chính mình 
khi lê chân trên đường phố rao Quần áo cũ!
bằng thứ tiếng Hy-bá của kẻ bán-buôn-mà-cả-sống-dưới-hầm-nhà.
 
Không sao. Giữa đám âm thanh hỗn độn, tiếng nói duy nhất ấy cất lên.
Một cái chuông xanh bằng không khí  
uốn vòm trên chúng ta.
 
 

BÊN NGOÀI MỘT CĂN CỨ KHÔNG QUÂN Ở CALIFORNIA

 
Dưới đáy vùng đại dương của không khí từng xâm nhập 
và đẩy lui biển hằng thiên thu trước,
tôi đứng,
một tạo vật xen-kẽ giữa những chủng loại đang phát triển.
 
Chuyến tàu cuối cùng, một quái vật bằng sắt phờ phạc, hãy còn
bò giữa những tảng đá nho nhỏ tới chặng ngừng của nó,
và vượt qua những lớp mây trên đầu tôi chiếc Khinh khí cầu, con cá voi thời tiền sử ấy, 
vẫn còn trôi nổi yên hàn. Lấp lánh rồi biến dạng.
 
Tôi đã trễ. Những chủng loại mới biến hóa liên tục.
Cái máy bay săn mồi trên trời cao kia. Nó đã lỗi thời.
Một chiếc bóng tan ngay, không được nhận diện, giật vội của nó
một giây nhỏ li ti uổng phí.
 
Thân xác tôi, phơi trước máy ra-đa, được bao quanh bằng những dữ kiện.
KHU VỰC CẤM VÔ, tấm bảng cho tôi hay,
HÃY TRÁNH XA.
NGƯƠI ĐÃ ĐƯỢC CẢNH CÁO.
 
Tôi bước lộn lại,
trong lúc những bước chân đã trở thành đá.
Và vì những lý do thầm kín mà tôi không thể phân giải ở đây,
tôi sung sướng vì mình đã hiện hữu.
 
 

MỘT NGƯỜI YÊU MỚI

 
Người lượm tôi lên, một đồng tiền ai đó đã đánh mất,
và xoa tôi giữa ngón cái và ngón trỏ.
Tôi cố gắng trở thành mới, còn sáng lên đôi chút nữa.
 
Người tìm kiếm danh hiệu tôi, 
xem xét khuôn mặt đóng trên tôi.
Tôi hóa nên một đồng tiền hiếm, gần như một ông vua thực.
 
Vẫn chưa đủ. Người nghiêng nghiêng một vành tai hoài nghi,
đập tôi và nghe ngóng. Tôi reng lên cho người
với âm thanh trong trẻo nhất của mình, gần như hoàn hảo.
 
Cuối cùng, như một kẻ đổi bạc kinh nghiệm 
người cắn tôi: có lẽ nó sẽ cong,
cái đồng vàng giả này.
 
Nhưng tôi thật cứng, tôi chịu đựng được thử thách; không phải vàng,
nhưng vẫn là một hợp kim phải phép. Yên tâm rồi,
lúc này người có thể tùy thích, tiêu tôi.
 
 

PHƠI BÀY

 
Mặt nạ da,
bên dưới nó
mặt nạ thịt,
bên dưới ,
xương sọ, và
những khoảng đen
giữa các thiên hà.
 
 

ĐIỂM KHỞI HÀNH

 
Nấp trong thư phòng lúc nhá nhem,
chưa hẳn là cô đơn, tôi chờ đợi.
Một bàn viết làm bằng cây hạt dẻ nặng nề mở đêm tối ra.
Chiếc đồng hồ là một người lính canh mỏi mệt,
những bước chân của nó nhạt dần.
 
Khởi từ đâu? Trong máy chữ của Ông tôi,
một chiếc Underwood từ thời xửa thời xưa,
cả ngàn chữ cái đã sẵn sàng.
Những tin tức nào?
 
Tôi nghĩ rằng không phải hết mọi sự đều đáng ngờ.
Tôi theo rõi khoảnh khắc, để nó khỏi lẻn mất.
Đôi cánh tay tôi gầy gầy.
Tôi vừa chin tuổi.
 
Bên ngoài cánh cửa khởi sự
khoảng không gian giữa các vì sao mà tôi đã sẵn sàng tới.
Trọng lực rút dần khỏi người tôi như màu sắc lúc nhá nhem.
Tôi bay nhanh tới mức mình không nhúc nhích
và để lại sau tôi
lằn quá khứ trong suốt.
 
 

TRUYỆN

 
Có một lần tôi đọc một câu truyện
về một con châu chấu mới sinh được một ngày,
một kẻ phiêu lưu màu xanh vào lúc nhá nhem
bĩ một con dơi nuốt mất.
 
Ngay sau đó con cú già khôn ngoan
đã có đôi lời an ủi vắn tắt:
Dơi dơi cũng có quyền kiếm sống,
và châu chấu còn lại cũng nhiều.
 
Ngay sau đó là 
kết thúc: một trang trắng.
 
Lúc này đã bốn mươi năm trời trôi qua.
Vẫn còn tựa trên trang giấy trống trơn ấy,  
tôi không đủ sức 
khép lại cuốn sách.
 
 

MÁY TỰ DO

 
Trong cái chuồng nhốt một con chồn tuyết Si-bê-ri,
một tù nhân đặc biệt,
người ta đã trang bị cái máy tự do.
 
Ấy là một bánh xe bằng sắt hình thù như cái trống ngang 30 tấc [1],
với một vành bánh rộng 12 tấc [2];
trên vành có những mấu đặt chân
và trục bánh được gắn liền với vách.
 
Hễ khi nào con chồn Si-bê-ri buồn chán
nó nhẩy vô
và bắt đầu chạy.
Cái máy tự do lăn ra
một con đường choáng mặt
cho bốn trăm cẳng chân của nó
chuyển động như gió
dưới tấm thân mong mỏi
trở lại
miền Bắc xa xăm nhất.
 
Người ta thoa dầu mỡ cho bánh xe mỗi tuần một lần.
 
------------------
1. Đây là tấc Anh Mỹ, khoảng 0,76 m.
2. Khoảng 0,30 m. (ND.)
 
 

CÁCH THỨC

 
Khuôn mặt nắn theo khuôn mặt người chết được chuẩn bị 
từ âm bản của khuôn mặt thật.
Sau khi hồn bỏ đi, hãy đắp
lên khuôn mặt thật đất sét mềm,
rồi chầm chậm bóc nó ra.
Trong đó, anh được một cái khuôn lớn: 
thay vì sống mũi là một cái hố,
thay vì hốc mắt là hai khối tròn nho nhỏ.
Giờ hãy đổ thạch cao, đã hòa trước, 
vào khuôn, và chờ,
cho đến khi nó cứng lại,
rồi tách rời hai phần:
ở dương bản, cái mũi lại chòi ra,
những hốc mắt sụt xuống. Giờ
hãy lấy khuôn mặt bằng thạch cao,
đắp lên khuôn mặt bằng da thịt
và sống.
 
 

NHẬN RA

 
Ở gian phòng cuối cùng trong ngôi nhà của chúng tôi,
bên mép một áng mây uốn cong thật diệu kỳ,
một kỵ sĩ Trung-hoa phóng qua trên mình ngựa,
mệt muốn đứt hơi, được thêu trên lụa.
 
Ông phóng nhanh phóng nhanh từ Trung quốc, ra sức tới.
Bao năm tháng đã qua, và ông liếc nhìn tôi
những ánh mắt trách móc. Lẽ ra tôi đã phải tới gặp ông,
nhưng khoảng cách quá xa.
 
Và lúc này khi tôi không còn nhớ 
ông đã tan biến trong đám mây hay đã bị thiêu rụi cùng với ngôi nhà,
tôi nhận ra rằng cả hai chúng tôi đều đã nhầm lẫn và
chúng tôi chỉ là một, được thêu lên nhau.
 
 

THẤT BẠI

 
Và có một kẻ
cả trăm năm trước
đã hỏng bài trắc nghiệm toán
và sợ phải về nhà.
 
Mặt trắng bệch, mắt đen thui.
Bị nhốt lại sau những chấn song
của những trang tập vở
và đầm đìa những giọt đỏ lỗi lầm.
 
Nó phải chép phạt câu trả lời đúng
một trăm lần trên bảng đen.
Nó đã biết rằng một chia cho số không
nghiêng về vô tận.
 
Thế nhưng: nó vẫn lãnh một trái trứng.
 
Giữa những hàng ghế dài bằng gỗ trống trơn 
đối diện tấm bản đồ vấy dơ của thế giới
nó lẩn trốn người gác-dan, kẻ có thể tới
và đưa nó trở lại với cuộc đời.
 
Nhưng dẫu như nó có trở lại với cõi đời dối trá 
nó cũng sẽ chẳng bao giờ quên được câu trả lời
hệt như nó đã nhớ tới câu đó suốt những năm trời nó chết
cho đến mãi bây giờ.
 
 

MÔN THỂ THAO

 
Tôi không bao giờ tập bơi. Ở những vùng nước nông
giữa đám rong rêu, không hiểu sao tôi vẫn
nổi được. Cả đến những lượn sóng lớn cũng cuộn lại
thành những chiếc phao cho tôi. Nhưng tại sao?
 
Thực ra, tôi không cần đến nước để bơi lội. Duy tại gia 
tôi mới tỏ ra được mình là một tay vô địch lớn biết bao.
Bơi sấp mặt bơi ếch hay bơi bướm—bất cứ lối bơi nào:
như con lươn tôi trườn đi từ nhà bếp tới bồn tắm
 
và phá mọi kỷ lục của chính mình,
đoạt cúp và thong thả nếm vị sâm-banh.
Nhưng kìa cái gì thế, vị thiên sứ của tôi đã vung vẩy,
ông lên lớp và quát to:
 
“Thật là trơ tráo* khi bơi lội giữa đám người chết đuối,
thế mà mi còn biến chuyện này thành một môn thể thao? Không biết hổ ngươi sao!”
Ông nói đúng: có một thời để quay trở lại. Tôi bật qua tin tức,
nhào xuống những làn sóng phát thanh, và chìm nghỉm.
 
--------------------
* “chutzpah” trong bản Anh văn. (ND.)
 
 

PHÂN ĐÔI

 
Khuôn mặt không cân xứng. Một nửa  
vẽ trong hang ở Altamira
trước cuộc săn bò rừng. Một nửa
phác họa bằng máy điện toán.
Một vết nhăn thẳng đứng thật sắc nét
phân đôi cái trán
tách hai phần cách biệt nhau.
 
 

GIÓ TỪ NHIỀU HƯỚNG KHÁC NHAU

 
1
Cho tới nay tôi là 
một cơn bão ở cấp số không.
Gần như một hơi thở.
 
2
Xoay vòng xoay vòng
quay tít trong những chu kỳ của tôi,
có lẽ hoài công.
 
3
Khung cửa sổ mở
vào những khoảng rộng lớn ở bên trong
giữa trạn chén dĩa và chiếc bàn.
Tôi lẻn vào, hít thở,
thổi căng tấm màn như một cánh buồm,
lướt vào trong, tới nơi
với vô vàn
thương yêu.
 
4
Đôi khi, như lúc này chẳng hạn,
tôi là một cơn gió hiu hiu nhẹ nhàng tới từ phía nam
hay cận-nam. Trước tảng sáng
tôi trôi giạt qua những kim thông,
rảo qua những khu rừng,
đổi hướng, đột ngột.
 
Không ai tin tưởng ở tôi, tôi biết.
Cả một đạo quân căng thẳng gồm những lính canh bằng thủy ngân,
những kim chỉ áp lực,
dò xét tôi, giải thích tôi, đoán coi
tôi sẽ biến hóa ra sao trong khoảng kế tiếp
và với sự dữ dằn nào.
 
Nhưng tại sao?
Mọi hướng tới của tôi đều đã hiển nhiên:
bị thúc đẩy vì sự ghê rợn khoảng trống không
tôi nhào tới
khoảng trống không.
 
5
Phía Nam. Những đống cát hình kim tự tháp chuyển dời tìm kiếm huyệt.
Đột nhiên, đứng dựng, bàn tay bông lài, tỏa sáng.
 
Phía Tây. Biển cả, i-ốt* và chất mật màu lục nhạt.
Đột nhiên, những đợt lưu hoàng hé lộ chân trời.
 
Phía Bắc. Trời bị bít kín. Một thị trấn hành và một thị trấn muội đen.
Đột nhiên, một vì sao, thần thánh, sắc mắt, của tuyết.
 
Phía Đông.
 
6
Đồ bản xưa thường vẽ tôi
như một thiên thần nhỏ với khuôn mặt em bé. Tôi hoàn toàn trái ngược:
bốn hay tám khuôn mặt em bé
với đôi má phính, thổi ngược lại nhau
từ bốn góc của thế giới tới trung tâm.
Nhưng lúc này, trước mùa hè,
tôi xoay vòng hết mọi phương hướng của địa bàn
như một thứ chong chóng gió đồ chơi.
 
7
Tuổi thơ thứ nhì, hoặc thứ ba,
từ phía nam-đông nam:
tôi lật úp con đường xuống
(người kia, hoảng sợ: cái nón của ta đâu?
chiếc nón, hoảng sợ: cái đầu của ta đâu?)
 
Và đây, nữa,
ngôi nhà, đã thật cũ kỹ.
Tôi gõ vào khung cửa sổ trống rỗng và nóng nảy
chờ đợi:
ai?
 
Thế rồi, công viên, mảnh ao.
Tôi thổi thật thận trọng
trên những con thuyền giấy.
Đám trẻ mới đuổi theo tôi. Sao mà dễ
chụp bắt tôi với đôi bàn tay không.
 
8
Xứ nào cũng đặt cho tôi một cái tên riêng của mình:
Sirocco, Hamsin, Boreas.
Tên tôi biến mất trong các tên tôi.
 
Tôi chẳng thiết, quả thật tôi chẳng thiết.
Nơi đâu là quê nhà của tôi,
khi nào là ngày tôi trở về.
 
9
Một ngày vững chắc như thủy tinh:
biển thủy tinh, trời thủy tinh,
và con hải âu bị đóng đinh ở chính giữa.
Và con thuyền buồm dừng lại
ở cổ chai.
 
Cả điều này nữa cũng chỉ là một ảo tưởng,
một sự bình thản lừa gạt:
không khí tựa con rắn
cuộn tròn cuộn tròn
nằm chờ đợi
khúc đuôi của chính nó.
 
10
Bị thúc đẩy vì sự ghê rợn khoảng trống không, tôi
huýt lên trong rừng, hít thở qua những khe nứt nẻ trên vách,
thì thào trên giấy.
Nơi mái tóc xum xuê tôi còn được im lặng.
Chỉ có nghỉ ngơi là không được mà thôi,
và tôi cam đành.
Vậy thời, các bạn thân mến ơi, tôi đã qua rồi. Tôi không còn nữa.
Vĩnh biệt hết thảy các bạn,
những người xa và những kẻ còn xa hơn nữa.
 
11
Giờ đây khi mùa đông đột khởi,
ngay trước khi chẽ thành những cơn bão,
tôi lén đoạt một khoảnh khắc
và mơ, thật lẹ làng,
tới sự bình lặng muôn thủa
của chiếc bọt khí
vướng mắc nơi thủy tinh.
 
12
Phía Bắc và tây bắc là những chủ nhân khắc nghiệt.
Tôi đã bị triệu hồi,
đoàn đoàn lớp lớp khí tới tấp.
Tôi thu hết sức lực của mình trên sườn đồi
(cỏ chạy trên cỏ)
tôi bốc lên
(tờ báo bị bỏ lại
vỗ, đón chào tôi tới)
tôi tới
trong bóng tối ban trưa.
Một tia sáng sắc bén khoét
một lỗ hổng trong đám mây,
chỉ ra những mục tiêu:
một mảnh tường nhợt nhạt,
một thành phố giấy.
Nhưng trong tâm của cơn bão,
im lặng.
Cây nến đã thắp, ngọn lửa vàng yên tịnh.
 
Một cơn bão ở cấp số không.
Gần như một hơi thở.
 
-----------------------
* "iodine" trong bản Anh văn. (ND.)
 
 

KẾT TỪ CHO LỖ-BÌNH-SƠN*

 
Từ một hòn đảo nặng trĩu những vẹt và đã từ bỏ tiếng nói,
chàng đã trở về, như thể hôm qua chàng hãy còn chờ đợi
cho đến khi một cơn gió lành tới. Chàng đã trở về và giờ đây có mặt.
Nhưng ở trước cửa, tất cả những năm tháng đột nhiên  
xoay vòng trên bản lề.                                      
                                  Thế rồi,
giữa những chiếc ghế bành trống rỗng chàng biết
những gì đã xẩy ra trong khoảng thời gian trước đó, và trở thành khôn ngoan
như ai kia không có một cuộc trở về trước mặt.
Khôn ngoan quá đến không thể sống, hoàn toàn cạn kiệt và tóc đã hoa râm chàng ở lại
với những câu chuyện réo rắt của mình, và nói—
hầu dập tắt tiếng tích-tắc rả rích của những người thân đã khuất
và những hồi chuông réo gọi của họ—chàng nói, nói
về một hòn đảo có lẽ sẽ không bao giờ bước vào lịch sử.
 
-----------------------
* Robinson Crusoe. (ND.)
 
 

THÁP

 
Tôi không muốn mọc, nhưng những hoài niệm lần dở mau lẹ
đã chồng chất hết lớp này đến lớp khác, từng lớp riêng biệt,
và hòa lẫn trong ồn ào của những ngôn ngữ lạ xa
và để lại trong tôi những lối vào không canh giữ,
những bậc thang chẳng dẫn tới đâu,
những viễn ảnh tan nát.
Rốt cục, tôi bị bỏ phế.
Chỉ đôi khi trong cái hành lang quanh co 
một tiếng thì thào nho nhỏ không thành lời
còn cất lên nơi tôi và rảo qua
như một luồng gió và tôi có cảm tưởng như
mình là một cơn lốc
đầu ở trên trời trong khoảnh khắc
và trước khi tôi thức dậy
cái khối gạch bị thiêu rụi của tôi sụp đổ
và lại trở thành
đất sét.
 
 

VỎ ỐC

 
Cuộn vào chính bản thân, tôi không phải một vỏ ốc cho tiếng nói của người.
Tôi sẽ ở lại trên lớp cát không bền vững.
Nếu như có kẻ lại qua nào tình cờ lượm tôi lên,
để thử dùng tôi làm một vành tai, để lắng nghe nơi tôi những tin lành
của biển—tôi không thốt một lời.
Với tiếng rì rầm, với im lặng gạt gẫm,
tôi trả lại cho y nhịp đập tỉnh táo
của máu y. Như thể là tôi đã hát: như thể là y đã nghe.
Trống rỗng hơn bao giờ, bị cầm giữ trong vòng xoắn ốc,
làm sao tôi sống với những mệnh lệnh mà người không ban cho tôi,
và trên bãi bờ nào, để đạt được sự yên nghỉ nào?
Tôi ở lại trên làn cát chuyển.
Tôi không có cách nào thoát khỏi sự im lặng của người. 
 
 

PHÁT SÚNG

 
Đổ sập xuống, hắn vẫn
chờ, và trong tai vẫn còn
một âm vừa khởi sự
tựa như một vần
của chết, một tiếng vọng
dội lại bên trong sọ.
Một tiếng mưa mịn hạt khô khan thoát ra
từ những bao cát. Một làn gió
uốn dợn tóc rồi buông xuôi.
Nhưng hắn hắn vẫn còn có thể điều khiển
binh sĩ của thân xác hắn, hắn ra hiệu
và những tròng mắt hắn xoay vòng
hướng vào bên trong, lúc này hắn có thể thấy:
ờ mà,
một thời để im lặng.
Hắn sẽ lại điều động chính bản thân,
nấp trong đám cỏ,
nằm phục kích
những điều sẽ xẩy tới.
Nhưng dòng máu tỵ nạn của hắn
đã lang thang quanh những mạch máu
không thể bị giam cầm,
bỏ đi quá sớm
và kêu gào từ mặt đất,
mặt đất kẻ đã không mở miệng
và không muốn thuộc về hắn.
 
 

LÚC BẮT ĐẦU

 
Trong hỗn mang tràn ngập đá băng trước khi chấm dứt cuộc sáng thế,
những hạm đội thép ở xa xa đang chờ đợi.
Những đường biên được âm thầm ghi dấu.
Từ nơi cao bên trên làn khói và mùi mỡ múi da lơ lửng
một vết nhơ vàng vàng cuốn hút;
những tia sáng xiên xiên ở địa cực, lanh lẹ, sắc mắt,
lùng kiếm hiệu lệnh. Mật hiệu thật chát chúa.
Lúc này khi hết thảy đã sẵn sàng chìm vào bóng tối,
một cơn gió, khoác lông thú man rợ, từ chân trời, thổi
trong những hốc xương rỗng của những ngọn núi,
và vào không giờ
con Gấu Lớn, rực lửa, bước tới
hừng hực. Lúc này các tầng trời sững lại,
và trái đất, và tất thảy những khách trọ của chúng nữa.
Một thời chiến tranh.
 
 

SẴN SÀNG CHIA TAY

 
Sẵn sàng chia tay, như thể mình đã quay lưng lại, 
tôi thấy những người thân đã khuất của tôi tiến tới gần tôi, trong suốt và sống động.
Tôi không ưng thuận:
một cuộc đi dạo vòng quanh công viên, một cơn mưa nữa,
thì tôi sẽ trở thành một kẻ khác, với những mép viền méo mó, như mây.
Rầu buồn trong thị trấn đang qua, đang qua và sung sướng,
giữa những ngọn đèn đường tạm bợ,
tôi khoác vẻ xa lạ của mình, thong thả đứng
với những người đang đứng ở khởi đầu một khoảnh khắc
nơi một cửa ngõ tình cờ, vô danh như những hạt mưa
và, là những kẻ không quen biết, gần kề và hòa lẫn vào nhau.
 
Sẵn sàng chia tay, chỉ còn chờ trong giây lát
những dấu hiệu của đời tôi, những dấu xuất hiện trong lớp thạch cao xắt mỏng
đang nhìn ra từ khung kính cửa nhơ nhớp. Một thoáng bông hồng bất chợt.
Bật mở và đã là tương lai, được xoắn lại thành những huyết mạch của nó—
một sự khai hoa trước mọi làn gió. Có lẽ
ấy không phải là ở thời của riêng tôi vào bản thân tôi và từ bản thân tôi và tới nữa
từ cánh cổng bên trong cánh cổng tôi nhất định sẽ bước ra khu rừng mưa,
tự do tiếp tục con đường như một kẻ đã thử thách sức mạnh của mình
tôi nhất định sẽ bước ra
từ không gian xen kẽ giữa mọi người như thể từ những bức tường khước từ.
 
 

BỌ HUNG

 
Giữa trưa ngươi trở lại với cát bụi
của những thành phố đã được cày xới và thu hoạch và ngươi tìm thấy những mảnh gốm
từ những hốc mắt chúng. Giờ đây, trong thế kỷ nào,
theo tấm lịch đã nát tan nào, chạy qua trước mặt mi
người kỵ sĩ đã sụm xuống trong gió,
và lúc này trở lại với mùa gặt của những mũi tên và gươm đao, như ngươi.
Kinh ngạc trong cơn gió của tro bụi
y uốn cong cái vòng cung trống rỗng của đôi chân mày, tìm kiếm
những kho tàng vàng bạc và rơm rác.
 
Mọi sự vẫn còn chưa dứt khoát. Và lại bắt đầu mãi 
trong cát bụi nơi—đen đủi, âm thầm—
những con bọ hung,
với tất cả những hàng chân,
nặn gạch cho những bức tường và kho lẫm
của những thành phố kho tàng,
và máu tung tóe lên đất sét.
 
 

CHẤM DỨT BẢNG CÂU HỎI

 
Tình trạng gia cư: số thiên hà và ngôi sao,
số mộ.
Mi ở một mình hay không.
Thứ cỏ nào mọc trên người, 
và từ đâu (thí dụ: từ bụng, mắt, miệng, v.v.)
 
Mi có quyền kháng cáo.
 
Ở khoảng trống dưới đây, hãy kể ra  
mi tỉnh dậy đã bao lâu và tại sao mi ngạc nhiên.
 
 
Đã đăng:
 
-------------------------------------
Ghi chú về tác giả và tác phẩm:
 
DAN PAGIS (1930-1986) sinh năm 1930 tại Bukovina (ngày trước thuộc Áo, rồi thuộc Ru-ma-ni, và kế đó thuộc Liên Sô...), lớn lên trong một khu vực nói tiếng Đức, chia sẻ cùng một quê hương với Paul CelanRose Ausländer (xin xem Tiền Vệ). Vào Đệ nhị Thế chiến, ông đã phải trải qua ba năm trời sống trong một trại tập trung của quốc xã Đức.
 
Năm 1946, ông tới Israel, học tiếng Hy-bá (Hebrew) và trở thành một giáo viên ở một kibbutz. Ông định cư ở Giê-ru-sa-lem năm 1956 và đoạt được cấp bằng tiến sĩ của Đại học Hy-bá, nơi ông đã trở thành giáo sư về văn chương tiếng Hy-bá thời Trung cổ trong nhiều năm. Ông cũng giảng dạy tại trường Thần-học Do-thái (Jewish Theological Seminary) ở New York, Harvard, và Đại học California tại San Diego và tại Berkeley. Chỉ ba năm sau khi tới Giê-ru-sa-lem, Dan Pagis đã bắt đầu cho in thơ bằng tiếng Hy-bá và được chào đón như một trong những nhà “cách mạng” đem lại một nguồn sinh lực mới cho thi ca của một ngôn ngữ đang hồi sinh. Tác phẩm của ông gồm bảy tập thơ và nhiều công trình nghiên cứu về văn học tiếng Hy-bá. Dan Pagis mất ngày 29 tháng Bảy 1986.
 
Một số nhà phê bình Anh Mỹ, khi nhận định về Dan Pagis, thường nhắc đến Yehuda AmichaiNathan Zach (xin xem Tiền Vệ). Cả ba đều lựa chọn viết bằng tiếng Hy-bá. Cả ba đều được coi như những người có công lớn đối với ngôn ngữ này. Daniel Weissbort, thi sĩ kiêm dịch giả Anh, cho rằng Dan Pagis là “một thi sĩ của lưu lạc, đổi dời”. Nhà phê bình Robert Alter lại ghi nhận thêm: “sự mau chóng dứt khoát chọn lựa trở thành một thi sĩ tiếng Hy-bá (của Dan Pagis) không phải chỉ là một hành động cương quyết thích nghi của một người trẻ tuổi mà còn là sự biểu lộ một nhu cầu tâm lý: tìm lối diễn tả qua một trung gian (tiếng Hy-bá) tự nó đã là một sự dời đổi triệt để đối với ngôn ngữ nơi ông sinh.”
 
Tất nhiên, Dan Pagis thật gần gũi với Yehuda Amichai trong tưởng tượng sáng tạo và trong cách diễn tả nhuần nhuyễn bằng tiếng Hy-bá, nhưng nhận định căn bản của Daniel Weissbort, cũng như chính tác phẩm của Dan Pagis, cho thấy một mối liên hệ khác, thật khắng khít, giữa ông và những người như Paul Celan (cùng quê với ông), Nelly Sachs (xin xem Tiền Vệ),... là những người vẫn sử dụng tiếng Đức để diễn tả. Như họ, Dan Pagis là một kẻ mang những dấu vết không sao gột bỏ được của cuộc Tàn sát người Do-thái, ông hoàn toàn đồng hóa với những kẻ phải chịu cảnh lưu lạc, đổi dời .. và hơn thế, những kẻ mà mệnh số đã dành cho sự triệt tiêu, không để lại một dấu tích... Cái cảnh ác độc này đến từ đâu, mãi mãi họ vẫn không thể hiểu. Trong khung cảnh đó, nét hài hước buồn rầu trong thơ Dan Pagis lại tăng lên tới tột độ nỗi chua xót khôn nguôi. Dan Pagis là một nhà thơ của đớn đau đã lận vào thành máu thịt trong người. Chính vũ trụ bạo ngược của những kẻ theo Caïn, giết em mình, dội vào trong thân xác, trên trái tim nhà thơ, đã bật ra thành những tiếng kêu...
 
Theo Shimon Zandbank, Dan Pagis đã để lại rất nhiều thơ mà ông xếp thành ba loại: “Thơ nghiêm trang”, “Thơ kỳ cục, hài hước” và “Thơ văn xuôi”; những bài “thơ văn xuôi” cũng thường được ông viết lại thành.. thơ, hoặc ngược lại.
 
Tuyển tập thơ Dan Pagis này, tuy có tham khảo một số bản dịch Anh văn của Tsipi Keller,... hầu như hoàn toàn dựa trên các bản dịch Anh văn của Stephen Mitchell, người đã có dịp trực tiếp thảo luận với Dan Pagis, và sau khi ông mất, làm việc dưới sự hướng dẫn của Chana Kronfeld. Tư liệu Anh văn sử dụng trong tập này là do nhà thơ Phương Sinh (Chân Phương) cung cấp: Dan Pagis, Variable Directions, nxb North Point Press, San Francisco, 1989. Cộng với những khiếm khuyết có thể tránh nếu ở vào một nơi khác, một thời khác, tôi chỉ góp thêm một chút tình đối với Pagis. Xin cảm ơn nhà thơ Phương Sinh. (DC., 14.3.1994)
 
Bản dịch này gồm cả hai bài đã đăng trên Tiền Vệ và được lặp lại ở đây: bài “Tự sự” (mở đầu tuyển tập) và bài “Những cây viết” (theo sau bài “Hai chân”), nhưng lần này, có thêm những chú thích. Bạn đọc Pháp văn có thể tìm đọc một số thơ dịch (10 bài) của Dan Pagis trong cuốn Anthologie de la poésie en hébreu moderne, 464 trang, nxb. Gallimard, Paris, 2001. (DC., 2005.)
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018