thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Nhà lãnh đạo

 

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn

 

CLARICE LISPECTOR

(1925-1977)

 

Clarice Lispector, nhà văn chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết, là một trong những khuôn mặt quan trọng nhất trong văn chương Ba-tây thế kỷ 20. Ngược lại với đa số nhà văn Ba-tây đương thời, nhãn quan nghệ thuật của bà vượt qua những giới hạn thời gian và địa lý; các trạng huống và nhân vật trong truyện của bà không phản ảnh hiện thực đời sống Ba-tây, mà mang tính hoàn vũ: đó là những gì mà con người ở mọi thời và mọi nơi trên trái đất có thể đôi khi bắt gặp và cảm nhận — những gì ở đâu đó bên trong mỗi chúng ta.
 
Tiểu thuyết đầu tay của bà, Perto do Coração Selvagem ("Bên trái tim man dại", 1944) được xuất bản lúc bà mới 19 tuổi, và được giới phê bình khen ngợi về tài diễn đạt tinh tế những khía cạnh đời sống phức tạp của tuổi dậy thì. Những tác phẩm sau đó, như A Maçã no Escuro (Trái táo trong bóng tối", 1961), A Paixão Segundo G.H. ("Niềm đam mê qua nhãn giới của G.H.", 1964), Água Viva ("Dòng nước sinh động", 1973), đều đào xới tâm cảm của những con người lạc lõng, tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, rồi gặp lại chính mình và chấp nhận tồn tại trong một thế giới mãi mãi lạ lùng.
 
Văn tài của Lispector biểu lộ rõ nét nhất qua những truyện ngắn. Những tập truyện ngắn nổi tiếng nhất của bà là Laços de Família ("Những ràng buộc gia đình", 1960), A Legião Estrangeira ("Đạo quân xa lạ", 1964), A Via Crucis do Corpo ("Những trạm thể xác", 1974) và Onde Estivestes de Noite ("Nơi có anh trong đêm tối", 1974). Thật ra, những tập truyện ngắn này không hoàn toàn gồm những truyện ngắn theo cách hiểu thông thường vì Lispector không tự giới hạn vào những ràng buộc của thể loại. Bên cạnh những gì có thể gọi là truyện ngắn, có nhiều bài trông như những đoản văn dưới dạng tuỳ bút, ký sự, hay tiểu luận.
 
Dưới đây là một truyện ngắn trong cuốn A Legião Estrangeira (bản Anh ngữ: The Foreign Legion, do Giovanni Pontiero dịch, nhà xuất bản A New Directions Book ấn hành tại New York năm 1992).

 

___________________

 

NHÀ LÃNH ĐẠO

 

Giấc ngủ của nhà lãnh đạo bị quấy nhiễu. Vợ hắn lay hắn cho đến khi hắn thức dậy từ cơn ác mộng. Nửa tỉnh nửa mê, hắn rời giường ngủ, và uống một chút nước. Trước tấm gương soi, hắn phục hồi nét mặt của một người đàn ông trung niên, vuốt lại mấy sợi tóc hai bên thái dương, rồi trở vào giường. Hắn thiếp đi và cơn ác mộng quay lại. "Không, không!" hắn cãi vã với chính hắn, cổ họng hắn khô đắng.

Nhà lãnh đạo bị khủng bố trong giấc ngủ. Có phải nhân dân đang đe doạ nhà lãnh đạo của họ không? Không, bởi nhà lãnh đạo chăm sóc cho nhân dân. Có phải nhân dân đang đe doạ nhà lãnh đạo của họ không?

Phải, nhân dân đang đe doạ nhà lãnh đạo của nhân dân. Nhà lãnh đạo vật vã lăn lộn trên giường. Đêm đêm, hắn trải qua nỗi sợ hãi. Nhưng cơn ác mộng của hắn là một cơn ác mộng bên ngoài lịch sử. Đêm đêm, đôi mắt hắn nhắm chặt, hắn thấy những khuôn mặt im lìm, từng khuôn mặt nối tiếp nhau. Và những khuôn mặt ấy đều vô cảm. Luôn luôn chỉ là cơn ác mộng ấy. Nhưng mỗi đêm, hắn hiếm khi ngủ được, càng lúc càng nhiều những khuôn mặt im lìm tụ tập lại như thể hắn đang nhìn vào một bức ảnh ghép bội trùng trong im lặng. Đó là một loạt những khuôn mặt nối tiếp nhau, tất cả đều giống nhau, như thể cùng một khuôn mặt tự lập lại chính mình một cách bất biến. Những khuôn mặt ấy đều cực kỳ vô cảm. Sự vô cảm của chúng mở rộng ra như trong một bức ảnh phóng lớn. Có cả một dãy những bức ảnh nối tiếp, và càng lúc càng nhiều thêm những khuôn mặt giống hệt nhau. Và không còn gì khác. Thế nhưng nhà lãnh đạo đổ mồ hôi đầm đìa khi đối diện với cảnh tượng vô hại của hàng ngàn đôi mắt trơ trơ không chớp. Ban ngày, bài diễn văn của nhà lãnh đạo càng lúc càng dài thêm trong mỗi lần phát biểu. Cứ mỗi bài diễn văn, hắn lại bắt cử toạ phải chờ đợi lâu hơn để nghe đoạn kết thúc hoàng tráng. Hắn chấm dứt bài diễn văn của mình bằng những lời công kích, lên án, lên án, lên án, nguyền rủa và, sau khi đạt đến khoảnh khắc khải thắng tột bậc của mình, hắn đi thẳng vào cầu tiêu, đóng cánh cửa lại sau lưng và, rốt cuộc chỉ còn một mình, hắn ngả lưng vào cánh cửa đã khoá chặt, dùng khăn mù soa lau mồ hôi vã ra trên trán. Nhưng tất cả đều vô ích. Đêm đêm, những hình ảnh bội trùng lặng lẽ lại càng lúc càng nhiều hơn. Cho đến lúc hắn thật sự cảm thấy hơi thở nóng bỏng của chúng. Những khuôn mặt vô cảm biết hít thở — nhà lãnh đạo choàng giấc với một tiếng thét. Hắn cố gắng giải thích cho vợ: Anh đã nằm mộng thấy . . . Anh đã nằm mộng thấy . . . Nhưng hắn không có gì để kể. Hắn đã nằm mộng thấy hắn là nhà lãnh đạo của những con người đang sống.

 

 

--------------------------
Dịch theo bản Anh văn: "The Leader", trong Clarice Lispector, The Foreign Legion, trans. Giovanni Pontiero (New York: New Directions Books, 1992) 205-206.

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018