thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Ðào | Cái chết của một nhà tự nhiên học | Mạch nước riêng tư
Bản dịch của Lê Đình Nhất-Lang
 
 
SEAMUS HEANEY
(1939~)
 
Seamus Heaney (đọc là “Shâymơtx Hâyni”) sinh năm 1939 gần Belfast, Bắc Ái Nhĩ Lan. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông dạy Anh ngữ tại St. Joseph’s College từ 1963 và bắt đầu viết trong thời gian này.
 
Năm 1966, tác phẩm chính đầu tay Death of a Naturalist (London: Faber and Faber) được xuất bản, mang lại cho ông nhiều giải thưởng như E. C. Gregory Award, Cholmondeley Award năm 1967, Somerset Maugham Award, và Geoffrey Faber Memorial Prize năm 1968.
 
Từ đó, Heaney di chuyển giữa Ái Nhĩ Lan, Anh, và Hoa Kỳ nhiều lần để dạy tại những đại học danh tiếng tại các nơi này, và không ngừng sáng tác. Số sách ông đã xuất bản lên tới hàng trăm. Robert Lowell coi ông là “nhà thơ Ái Nhĩ Lan quan trọng nhất kể từ Yeats.” Ðối với các nhà xuất bản Anh ngữ thì Heaney là nhà thơ được ưa chuộng nhất, vì sách của ông in hàng chục ngàn bản, và những buổi đọc thơ của ông thường lôi kéo mấy trăm người dự.
 
Năm 1999 ông được trao giải Nobel Văn Chương. Trong số những tác phẩm nổi tiếng của ông có các tập thơ Death of a Naturalist (1966), Door Into the Dark (1969), North (1975), Field Work (1979), Sweeney Astray (1983), Station Island (1984), The Haw Lantern (1987) viết sau cái chết của bà mẹ, Seeing Things (1991) sau cái chết của ông bố, The Midnight Verdict (1993), The Spirit Level (1996), Open Ground (1999); các bản dịch Laments: Poems of Jan Kochanowski (1995) dịch cùng với Stanisław Barańczak, Beowulf (2000) dịch từ tiếng Ái Nhĩ Lan; tập tiểu luận Homage to Robert Frost (1996) viết chung với Joseph Brodsky và Derek Walcott.
 
Thơ của ông chủ yếu đào sâu vào quá khứ của dân tộc và vùng đất Ái Nhĩ Lan, dày đặc những miêu tả về cái chết và nỗi buồn mất mát người thân và bạn bè. Ông nhận ảnh hưởng của các nhà thơ Robert Frost, Ted Hughes, Gerard Manley Hopkins, William Wordsworth, Thomas Hardy, và cả Dante.
 
 

Ðào

 
Giữa ngón trỏ tôi và ngón cái
Cây bút lùn nằm vào; khít như một khẩu súng.
 
Dưới cửa sổ tôi một tiếng soạt gọn
Lúc cái thuổng ngập vào đất đầy sỏi:
Cha tôi, đang đào. Tôi ngó xuống
 
Tới khi cái lưng căng của ông giữa những luống hoa
Oằn xuống, co lên hai mươi năm liền
Cúi xuống theo nhịp qua những luống khoai
Nơi ông đang đào.
 
Chiếc giày ống thô tựa lên cái hộc, cái cán
Sát đầu gối phía trong được bẩy lên vững chãi.
Ông nhổ những lá cao, chôn cạnh tươi sâu xuống
Ðể rải những củ khoai tây mới chúng tôi chọn
Mân mê sự cứng cáp mát mẻ của chúng trên tay.
 
Nhờ Chúa, ông già còn cầm được cái thuổng,
Y như ông già của ông ấy.
 
Ông nội tôi có thể xắn nhiều đất trong một ngày
Hơn bất cứ người nào ở vùng lầy Toner.
Một lần tôi mang cho ông sữa trong một cái chai
Ðậy cẩu thả bằng miếng giấy. Ông thẳng người dậy
Ðể uống, rồi chúi xuống ngay tức khắc
Khía và xắt gọn gàng, hất đất cỏ
Qua vai mình, đào xuống mãi xuống mãi
Tới đất tốt. Ðào.
 
Mùi lạnh của meo khoai tây, tiếng vỗ bì bõm
Của than bùn nhão, những nhát thuổng cắt ngọt
Qua những cọng rễ tươi thức dậy trong đầu tôi.
Nhưng tôi không có thuổng để đi theo những người đàn ông như họ.
 
Giữa ngón trỏ tôi và ngón cái
Cây bút lùn nằm vào.
Tôi sẽ đào bằng bút.
 
 

Cái chết của một nhà tự nhiên học

 
Quanh năm hồ cây lanh thối rữa trong trung tâm
Thị trấn; đám lanh lá xanh và nặng đầu
Mục tại đó, trì xuống bởi những mảng đất to.
Hàng ngày nó phơi trong nắng gay gắt.
Bong bóng sủi lên li ti, ruồi xanh
Ðan một lưới âm thanh cứng quanh mùi hôi.
Có những con chuồn chuồn, những con bướm đốm,
Nhưng hay hơn cả là bãi nước nhờn ấm sệt
Của đám trứng ếch lan rộng như nước đang đông
Trong bóng râm bờ hồ. Tại đây, tới mùa xuân
Tôi sẽ vớt từng hũ mứt đầy những hạt
Sền sệt này bày trên khung cửa sổ ở nhà,
Trên kệ ở trường, rồi chờ và ngắm tới khi
Các đốm mọng lên vỡ ra thành những con
Nòng nọc bơi tung tăng. Cô Walls sẽ dạy chúng tôi
Ếch cha gọi là gì ộp oạp ra sao và ếch mẹ
Ðẻ hàng trăm trứng nhỏ ra sao và đây là
Nòng nọc. Ta cũng đoán thời tiết được bằng ếch
Vì chúng màu vàng trong ngày nắng và màu nâu
Trong ngày mưa.
 
Rồi một ngày nóng khi những cánh đồng đầy
Phân bò trong cỏ bầy ếch hung hãn
Xâm lăng hồ cây lanh; tôi chui qua bờ rào
Tới một tiếng ộp oạp thô bạo chưa từng thấy
Trước đây. Không khí dày với giàn đồng ca bè trầm.
Ngay dưới hồ những con ếch bụng trướng ngồi vểnh
Trên bờ đất; cổ lỏng đập đập như sên. Vài con nhảy:
Tiếng tạch tõm là những hù dọa tục tĩu. Vài con ngồi
Chình ình như lựu đạn sình, những cái đầu bẹt đang đánh địt.
Tôi kinh tởm, quay đi, rồi chạy. Các vua bùn vĩ đại
Ðều tụ tập ở đó để trả thù và tôi biết
Rằng nếu tôi nhúng bàn tay xuống lũ nòng nọc sẽ chộp.
 
 
Mạch nước riêng tư [*]
 
                                    cho Michael Longley
 
Hồi nhỏ, chẳng ai ngăn nổi tôi tới gần giếng
Và những máy bơm cổ với dây kéo và thùng nước.
Tôi mê cái hố sâu đen, bầu trời khép kín,
Mùi tảo, nấm và rêu ẩm ướt.
 
Một cái, trong một sân gạch, với nắp ván mục.
Tôi đắm mình trong âm dội vang khi cái thùng
Lao nhanh xuống ở đầu dây trục.
Không gì phản chiếu lại, sâu vô cùng.
 
Một giếng cạn dưới một con đê đá khô nẻ,
Như bất cứ hồ nuôi cá nào, cũng kết trái.
Dưới lớp rơm phủ mềm, kéo ra những dây rễ
Một khuôn mặt trắng chờn vờn nơi đáy.
 
Những giếng khác có tiếng vọng, trả tiếng gọi lên
Lẫn với âm nhạc lạ trong. Và một cái thật
Làm hết vía, từ đám dương xỉ và mao địa hoàng lênh khênh,
Một con chuột tạt qua hình tôi ngang mặt.
 
Giờ đây, cạy rễ, móc sình, nhìn trừng,
Narcissus mắt to, mỗi khi thấy nước một vũng
Thì còn gì phẩm giá người lớn. Tôi gieo vần
Ðể thấy chính mình, để bắt bóng tối vang vọng.
 
 
--------------------
[*] Nhan đề nguyên bản tiếng Anh là “Personal Helicon.” Núi Helicon ở Hy Lạp, theo thần thoại cổ, là nơi linh thiêng của thần Apollo và các Tiên Nữ. Từ đây phát xuất hai con suối chứa “nguồn thơ.” Trong bài này, Seamus Heaney trình bày một nguồn thơ riêng của mình: giếng!
 
Ba bài thơ trên được dịch từ nguyên bản tiếng Anh: “Digging,” “Death of a Naturalist,” và “Personal Helicon” từ tập Death of a Naturalist (London: Faber and Faber, tái bản 1985).
 
Người đọc có thể vào trang dành cho Seamus Heaney của ibiblio.org để đọc và nghe bài “Personal Helicon” bằng tiếng Anh.
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018