thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Bướm đêm
Bản dịch Diễm Châu

 

LƯƠNG BỈNH QUÂN

(1948~)

 
LEUNG PING-KWAN sinh năm 1948 tại Hương cảng. Học Pháp và Anh văn, có bằng Ph.D. về Văn chương tỉ giảo ở Hoa kỳ, tác giả nhiều tập thơ và truyện ngắn. Ông viết đều đặn cho các báo ở Hương cảng. Bắt đầu xuất hiện ở Pháp trong bản dịch của Annie Curien: Leung Ping-Kwan, Îles et continents et autres nouvelles, Gallimard, Paris, 2001.
 
Về tập truyện ngắn của ông, nhà xuất bản Pháp cho biết: cả sáu truyện trong tập này đều có một mẫu số chung: đó là thành phố Hương cảng, như một nhân vật. Cũng theo đó, họ Leung có một lối viết khác biệt cho mỗi truyện: khi thì hài hước nhẹ, khi thì nghiêm trang, hoặc «đối chất» thành phố của ông với những thành phố khác. Ông «tra vấn» ảnh hưởng của người Anh thời thuộc địa cũ và nhất là sự pha trộn về văn hoá đã đặc biệt đánh dấu nó. Tất nhiên ông cũng có những nhận định về khoảng cách giữa Hương cảng và Bắc kinh. Và «nếu họ Leung gần gũi với lối diễn tả cổ điển nào đó của Trung hoa, ông cũng là người khảo sát hay "thám hiểm" cái cá nhân chủ nghĩa của con người hiện đại, đối diện với một tổ chức đô thị phức tạp, ở giữa ngã tư của nhiều nền văn hoá...» «Chính trong công việc này, ông đem lại một giọng điệu triệt để mới trong văn chương Trung hoa hiện nay», đó là kết luận của người viết trang bìa bốn của cuốn sách...
 
Bản dịch này để gửi Phùng Thục-Anh của Cảng thơm, tác giả luận án tiến sĩ đầu tiên về văn pháp biến hoán phát sinh của Việt ngữ (Bloomington, I.U.) (DC.)
 

 

BƯỚM ĐÊM

 

Tôi thường làm việc mãi tới đêm khuya: một vài con bướm đêm nho nhỏ thường bay vào phòng. Đó thường là những cái chấm màu nâu non nhỏ xíu; nhưng, tối nay, tôi thấy một cái chấm trắng. Nó bay vòng chung quanh tôi rồi đậu lên sàn nhà màu nâu, đôi cánh nhỏ xíu đu đưa như hai cái quạt, bướm trắng.

Sự tò mò của tôi được mài bén, tôi buông cuốn sách đương đọc để chăm chú nhìn nó. Nó thật đẹp, tôi nghĩ tôi chưa bao giờ thấy gì như vậy. Nhưng, đột nhiên, nó bay đi, tôi ngẩng đầu và chỉ thấy ánh ngời trắng của một cây đèn nê-ông; tôi không biết nó đi đâu.

Tôi cúi đầu và lại chìm đắm trong cái «quân bình vũ trụ» của cuốn sách. Một lúc sau, tôi nghe có tiếng đập cánh bên tai, tôi không quan tâm tới nó. Nhưng kìa nó bay giữa bản văn tôi đương đọc và tôi; như một con bé tinh nghịch, nó tìm cách thu hút sự chú ý của tôi. Đằng khác, nó sống động hơn là cái bản văn nghiêm nghị này, và, cố nhiên là tôi chia trí. Tối nay, tôi bỏ thì giờ nhìn nó nhảy múa bên tôi; đôi khi, thật tinh nghịch nó nấp đâu đó; đôi khi nó động nhẹ vào da tôi, và tôi cảm thấy một sự tiếp xúc êm dịu, như thể đôi cánh nó là lông chim. Nó vượt qua phạm vi cái bàn viết, cất lên mãi tới vùng ánh sáng trắng bao quanh cây đèn nê-ông, như con cá bơi về đại dương; cái thân trắng của nó lâu lâu lại tan hoà vào ánh ngời trắng; như con cá chìm vào vùng nước sâu, nó biến mất. Tôi nhìn nó và tôi chạm tới nó, cảm thấy một cảm giác tinh khiết và tươi mát, như ngày xưa, vào cuối đông, khi ta cởi bỏ áo quần dầy cộm và nặng nề, và khi, lần đầu tiên, ta cảm thấy cơn gió bấc vào lúc hoàng hôn của mùa xuân.

Theo lệ thường, sự giao du của chúng ta với một con bướm đêm khá lắm cũng chỉ kéo dài một đêm. Thế nhưng, ngay từ lúc thức dậy, sáng hôm sau, tôi thấy nó bay trước mặt khi tôi mở mắt, và tôi hiểu rằng cái tiếp xúc êm dịu tức thì trong mơ không phải hoàn toàn là giả tưởng. Bởi tôi biết mình không còn đương mơ, nên tôi chắc chắn rằng đây không phải là một con bướm đêm tầm thường. Thông thường, một con bướm như thế chỉ là một giấc mơ lúc nửa đêm, nó bay chập chờn chung quanh những ánh sáng giả, và, để kết thúc, chỉ còn lại một vài mẩu thây ma của nó. Nhưng con bướm đêm màu trắng này không biến đi trong ánh sáng trong trẻo ban mai; khi tôi vươn bàn tay ra, nó không bỏ đi, nó bay và nhảy múa chung quanh bàn tay tôi, cho tôi cái cảm tưởng chạm tới cát lún; những cái vòi của nó khi bay có vẻ như những sợi tơ mơn trớn, điều này khiến tôi hiểu rằng nó luôn luôn có đó.

Khi tôi ra ngoài, nó cũng ra theo; có lẽ tôi đã ưng nó ở lại nhà; tôi e ngại, là vì tôi không rành những thói quen sinh sống của nó và tôi không biết cách chăm sóc nó. Nhưng kìa tôi đã nguôi ngoai thật mau chóng. Nó bay thong thả khi ra ngoài; lúc mỏi mệt, nó đậu trên vai tôi, như con két trên vai tên hải tặc một giò, trong truyện. Hôm ấy, trời có sương mù; khi băng ngang những vùng cây xanh lân cận, ta thấy vô số những đống rác. Ấy là công trình của những gia đình lối xóm, mà lười biếng và ích kỷ đã huỷ hoại cảnh vật. Những chiếc ghế dựa xanh bên đường bị người ta đẽo vạc; cũng do người ta, lớp sơn mới trên các vách tường lại bị phủ trùm những lớp sơn phết, những hình vẽ thô tục. Mỗi lần tôi bước đi trên mẩu đường này, bức tranh ấy lại khiến tôi bực tức. Nhưng, hôm nay, con bướm đêm trắng nho nhỏ bay múa bên tôi, đôi khi nó đi trước tôi mấy thước, đôi khi nó rù rờ phía sau; đến lượt tôi, tôi cũng cảm thấy vui vẻ và nhẹ nhõm. Ấy đó là điều tiết lộ cho tôi rằng một con bướm đêm cũng có thể sống ban ngày.

Trong lúc tôi băng qua mặt đường để trở lại văn phòng, mưa bắt đầu rơi. Tôi đang có ý định băng qua thật mau theo thói thường thì chợt nghĩ nó quá mỏng manh nên mình phải tránh cho nó khỏi bị mưa thấm ướt, và tôi chờ ở đó. Mãi tới lúc có một người tráng niên bước tới, ông ta đã cẩn thận mang theo một cái ô; trước khoảng đường đóng đinh dành cho người đi bộ, ông ta chờ cho đèn đỏ bật qua đèn xanh; lập tức tôi nhờ ông ta giúp để tránh mưa. Con bướm đêm trắng của tôi đậu trên vai tôi thật dễ thương. Nhưng đoạn đường băng qua rồi, khi tôi vừa cảm ơn người bạn, thì con bướm bay khỏi vai tôi, khiến người nọ không sao tin được; đứng sững đó, thật lâu ông ta quên cả khép cái ô đang nhỏ giọt lại. Ông ta chưa từng thấy một điều gì tương tự!

Lúc này tôi đã trở lại với công việc; tôi bắt đầu thanh toán những chuyện thông thường. Tôi chịu trách nhiệm hằng ngày ấn một con dấu lên một chồng hồ sơ; đôi khi, tôi cố ý làm công chuyện đó thật nhẹ nhàng chậm rãi, sao cho những cái dấu quy định hình bầu dục biến thành hoa nhiều cánh, thành nét mày cong của phụ nữ hay thành vỏ trứng vỡ tung. Tôi tìm tới những trò vặt vãnh này để giải trí. Đằng sau tôi, những công nhân viên có tuổi đang bàn thảo những đề tài câu chuyện ngày nào cũng y hệt; họ nhớ tới những cái lộng lẫy ngày xưa và nhạo báng cái lối sống của bọn trẻ hôm nay. Nếu không đi bắt chấy rận trong mái tóc dài của lũ con trai thì họ nói về âm nhạc của bọn trẻ mà họ phê là chán ngắt. Có thể nói rằng chỉ cần họ không biết một điều gì đó cũng đủ để họ nạt nộ chối bỏ luôn. Trước, khi tôi không chịu nổi nữa, tôi còn có đôi câu xung trận với họ; nhưng, hôm nay, lòng tôi vui sướng, con bướm đêm trắng in lên chiếc áo sơ-mi của tôi như một đoá hoa; tôi ư ử trong miệng cho nó một điệu ca nho nhỏ, và tôi không tranh luận với bọn ngu đần ấy.

Trong lúc bọn họ tiếp tục la rầy, tôi nghe thấy một người trong bọn kêu lên: «Ê! một con bướm đêm!» Tức thì nhiều người xô ghế, chạy lại bên tôi. Tôi đưa mắt liếc trộm, con bướm đêm trắng quả thực đã rời vai tôi và đang chống trả trên không. Tôi đứng dậy và nói để che chở nó: «Không có gì hết, các ông nhầm!» Khi thấy họ, hoàn toàn bị khích động, đứng sững ở kế bên, vung vẩy một tờ báo hay một cái kẹp giấy như thể họ xáp lại quân thù, tôi cảm thấy tim tôi lạnh buốt. Ấy chỉ là một con bướm đêm bay thong thả, một sinh vật sống động, xinh đẹp và vô hại; tại sao họ lại hăm hở tìm cách huỷ diệt nó đến thế?

Tôi mượn cớ đi nhà cầu, và kéo con bướm đêm trắng đi theo. Tôi yêu cầu nó đậu lên bàn tay tôi, rồi, nhè nhẹ, tôi lùa nó vào túi cái áo trắng của tôi, đồng thời hạ lệnh cho nó không được lại bỏ trốn một cách vô chính phủ nữa. Tôi trở lại chỗ của mình và ngồi xuống, nhưng một con bướm đêm đâu có sẵn sàng ở ẩn trong một cái túi, lẽ ra tôi phải biết thế... Một lần nữa nó lại ra đi, từ túi tôi cất lên như một cuộn khói; như một thiên thần ngay thẳng, nó rong chơi không nghi ngại. Tôi không thể bắt nó được, đã quá trễ, tôi nghe phía sau tôi những tiếng đập tay, tiếng ghế bị lật đổ và những tiếng kêu la; tim tôi sa sầm! Khi quay đầu lại, tôi thấy mọi người vung những thứ vũ khí họ có trong tay, như những người đi săn ác độc đuổi theo một con thỏ nhỏ bé. Tôi phóng tới như một thằng điên. Quá muộn! «Băng!» một cử chỉ, một nụ cười chiến thắng, để kết thúc tôi thấy một đám bụi trắng rơi xuống đất như mưa.

 

Mười năm sau, những bước chân tôi đưa tôi về lại cái bàn giấy năm xưa. Đó là một toà nhà cũ kỹ đã bị bỏ phế, có lẽ đang chờ được phá huỷ; thang lầu đầy rêu; trên các vách tường, có những chiếc lá xanh và nước chảy ròng ròng. Tôi leo lên những bậc thang, tôi đẩy cánh cửa hé mở, một đám mây trắng trỗi dậy như một người duy nhất và tiến lại phía tôi — vô số những con bướm đêm đã lãnh phần trông nom thế giới ấy! Những con bướm đêm còn non trẻ này đã tạo thành một đội ngũ mạnh mẽ, chúng đã thiết lập lực lượng vũ trang phòng vệ của chúng, chúng dàn trải sức lực để bảo toàn vị trí, chúng tiến đánh kẻ xâm nhập xa lạ! Bọn chúng xung phong bằng cách bay; bằng cách bay, chúng xung kích, đôi cánh trắng của chúng đã biến thành những ngọn cờ loại bỏ kẻ khác, thành những vũ khí được vung lên; chúng kêu gào báo thù trước con người đơn độc là tôi, kẻ tượng trưng cho giống người. Tôi chỉ có thể xoay chiều và bỏ trốn, không nhìn lại phía sau, đổ xuống thang lầu, thoát ra ngoài đường phố...

 

(tháng Sáu 1976, hoàn tất năm 1994)

 

------------------------
Về tên của tác giả:
Leung Ping-Kwan tức là Lương Bỉnh Quân (theo cách đọc Hán-Việt). Leung Ping-Kwan là phiên âm theo lối Wade-Giles. Liáng Pǐng Jūn là phiên âm theo lối chính thức (Pinyin) của Trung quốc hiện nay. — Tiền Vệ.

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018