thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
[THƠ CỦA CA/NHẠC SĨ] Hoa lilas
Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường,
riêng tặng nhà nhạc sĩ tây ban cầm
Hoàng Ngọc-Tuấn.
 
 
GEORGES BRASSENS
(1921-1981)
 
 

Hoa lilas

 
Mỗi khi ghé thăm cô hàng hoa
Tôi chỉ mua những cành lilas
Bài ca này nếu có buồn bã
Là bởi tình yêu đã vắng xa.
 
Vì đã từng, có thể bảo vậy
Trót yêu thương cái loài hoa ấy
Nên tôi về qua Cửa ô đã
Cửa ô đã mang tên Lilas.
 
Hoa lilas khi ấy chẳng còn
Hoa lilas khi ấy chẳng còn
Chúng thảy tất đều đã tử trận
Từ sống vào chết chỉ một lần.
 
Tôi đã gặp một ả giai nhân
Đang trổ hoa vài đoá vân vân
Tôi muốn tháp vào thân thể ả
Cái khối tình tôi yêu lilas.
 
Tôi ghi bằng một chữ thập trắng
Để nhớ ngày hai đứa bay thẳng
Hổn hển bám vào một cành hoa
Một cành một cành hoa lilas.
 
Em ơi, cố bám cho chặt nha
Thời gian nơi đó sẽ la cà
Thời gian là một tên man dã
Man dã như chàng Attila.
 
Nơi tim mà ngựa hắn vút ngang
Tình yêu tất nhiên đã xơ xác
Cỏ ở bốn góc của thời gian
Dưới chân hắn trở thành sa mạc.
 
Tình yêu vì thế mà đã rã
Và bên kia thế giới bay qua
Chỉ để lại chìa khoá cho ta
Dưới Cửa ô mang tên Lilas.
 
Con chim bông lau của chủ nhật
Con chim đã cho tôi ngây ngất
Trên những cành khác nó đã hạ
Những cành hoa lilas lạ xa.
 
Mỗi khi ghé thăm cô hàng hoa
Tôi chỉ mua những cành lilas
Bài ca này nếu có buồn bã
Là bởi tình yêu đã vắng xa.
 
Mời độc giả thưởng thức đoạn băng ghi âm Georges Brassens hát và đệm guitare bài “Les lilas”vào ngày 27 tháng 5 năm 1957.
 
 
Nguyên tác:
 

Les lilas

 
Quand je vais chez la fleuriste
Je n'achèt' que des lilas...
Si ma chanson chante triste
C'est que l'amour n'est plus là.
 
 
Comm' j'étais, en quelque sorte,
Amoureux de ces fleurs-là,
Je suis entré par la porte
Par la porte des Lilas.
 
Des lilas, y'en avait guère,
Des lilas, y'en avait pas,
Z'étaient tous morts à la guerre
Passés de vie à trépas.
 
J'suis tombé sur une belle
Qui fleurissait un peu là,
J'ai voulu greffer sur elle
Mon amour pour les lilas.
 
J'ai marqué d'une croix blanche
Le jour où l'on s'envola,
Accrochés à une branche,
Une branche de lilas.
 
Pauvre amour, tiens bon la barre,
Le temps va passer par là
Et le temps est un barbare
Dans le genre d'Attila.
 
Aux coeurs où son cheval passe,
L'amour ne repousse pas,
Aux quatre coins de l'espace
Il fait le désert sous ses pas.
 
Alors, nos amours sont mortes,
Envolé's dans l'au-delà,
Laissant la clé sous la porte,
Sous la porte des Lilas.
 
La fauvette des dimanches,
Cell' qui me donnait le la,
S'est perché' sur d'autres branches,
D'autres branches de lilas.
 
Quand je vais chez la fleuriste
Je n'achèt' que des lilas...
Si ma chanson chante triste
C'est que l'amour n'est plus là.
 
Nguồn: Georges Brassens, Poèmes et Chansons (Paris: Les Éditions du Seuil, 1993)
 
 
Đã đăng:
“Il n'y a plus d'après” của Guy Béart (1930~), do cô ca sĩ “hiện sinh” Juliette Gréco (1927~) trình diễn, là bài ca một thời vang bóng ở Pháp... Không còn mai sau đâu nhé / Ở Saint-Germain-des-Prés / Không còn trưa mốt em ghé / Những trưa hè ấy phai rồi / Chỉ có hôm nay mà thôi... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường]
 
Nhiều lời ca của Brassens (1921-1981) đã đọng lại trong ký ức của người đương thời như những bài thơ hay, và ông đã được xem là một trong những nhà thơ hàng đầu của Pháp thời hậu chiến. "La mauvaise réputation" là một trong những bài nổi tiếng của ông... Trong làng mình dù chẳng muốn khoe khoang / Tôi được tai tiếng là không đàng hoàng / Dẫu có nói năng hay dầu câm lặng / Tôi vẫn bị coi là kẻ nhập nhằng / Thế đấy tôi đâu có chọc ghẹo ai / Khi đường tôi tôi đi rất thoải mái / Nhưng ai nấy đều không ưa những đứa / Chưa theo họ trên đường ngay ở giữa... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường]
 
Lâu lắm, lâu lắm, lâu lắm / Sau khi các thi sĩ khuất bóng / Những bài ca họ còn chạy rong trên đường phố... | Ngôi làng tôi dưới đáy sông / Nhớ lại những giờ khắc rất gần gũi / Khi bắt đầu ngày mới âm thanh vui / của những cái chuông bay bổng... | Biển / Ta thấy đang tung tăng dọc theo những vịnh nước trong / Lấp lánh ánh bạc / Biển / Của những phản ảnh vạn trạng / Dưới làn mưa... [Bản dịch của Hoàng Ngọc Biên & Hoàng Ngọc-Tuấn]
 
Charles Trenet (1913-2001), ca sĩ với chiếc gậy và chiếc "mũ phớt" (feutre) hoặc "mũ cói/mũ chèo thuyền" (canotier), lúc ca hay đảo tròng mắt, nổi tiếng cuối những năm 30 và những thập niên kế tiếp. Một ca sĩ-thi sĩ hay thi sĩ-ca sĩ, đã được giới ái mộ tặng cho cái biệt danh "anh chàng hát như điên" ("Fou Chantant")... Tôi nhớ mãi một cái góc phố / Hôm nay nó không còn đấy nữa / Tuổi nhỏ tôi nô đùa nơi ấy / Tôi vẫn còn chưa quên điều đó / Chỗ ấy có một cái hàng rào / Một lùm cây để phục kích nhau / Lũ du côn trong khu phố tôi / Kéo tới đó đập đánh nhau chơi... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường]
 
Mick Micheyl (1922~) là một nghệ sĩ đa diện: hoạ sĩ, nhà trình diễn nhào lộn (acrobat), kịch sĩ, ca khúc tác gia, ca sĩ, và hiện nay bà là một nghệ sĩ điêu khắc trên thép... Một chú lỏi Paris / Là cả một bài thơ / Chưa hề ở xứ nào / Có được y như vậy / Vì chú nhỏ ti ti / Bé con tí tí này / Được mọi người đều si... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường]
 
Wassily Kandinsky (1866-1944), nhà danh hoạ của thế kỷ 20, không chỉ tập trung vào việc vẽ. Ông nói: "Marc và tôi đã ném chính mình vào hội hoạ, nhưng hội hoạ đơn thuần không làm chúng tôi thoả mãn..." Thế rồi, ông làm thơ... Mặt. / Xa. / Mây. / . . . . / . . . . / Một người đàn ông đứng đó với một cây kiếm dài. Cây kiếm dài và to bản. Rất to bản... | Ôi, hắn đi chậm làm sao. / Giá như ở đó có một người nào bảo hắn: Nhanh hơn, đi nhanh hơn, nhanh hơn, nhanh hơn, nhanh hơn, nhanh hơn... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn]
 
Paul Klee (1879-1940) luôn được thế giới tưởng nhớ như một thiên tài hội họa, nhưng... ông cũng làm thơ. Trong khi đang nhai một con người, / con sói giảng giải / cho bầy chó: // Nói cho tao biết... đâu... thế rồi... là... / nói cho tao biết... đâu? / thế rồi... là thượng đế của lũ con người?... | Tôi đứng trong bộ giáp trụ kín mít / Tôi không có ở đây / Tôi đứng trong những chiều sâu / Tôi đứng đằng xa... / Tôi đứng rất xa... / Tôi toả sáng cùng người thiên cổ... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn]
 
Léo Ferré (1916-1993) là một trong ba chàng "ngự lâm" của ca khúc Pháp, được quần chúng âu yếm gọi là ca sĩ-thi sĩ hay thi sĩ-ca sĩ, cùng với Georges Brassens và Jacques Brel... Đó là những kẻ kỳ cục sống bằng ngòi bút / Mà cũng có khi không sống tuỳ lúc của mùa / Đó là những kẻ kỳ cục xuyên qua sương lạnh / Với những bước chân chim dưới cánh của ca thi... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường]
 
Jean Hans Arp (1886-1966) là một điêu khắc gia lừng danh thế giới và cũng là một họa sĩ kiêm thi sĩ viết bằng hai thứ tiếng Pháp, Đức... Trước tiên phải để mọc lên những hình dạng, sắc màu, ngôn từ, cung độ và kế đó giải thích. / Trước tiên phải để mọc lên những bắp chân, những chiếc cánh, những bàn tay và kế đó để chúng bay chúng ca hát hình thành biểu hiện... | Thánh đường là một trái tim. / Làm sao tôi nói được / Thánh đường Lộ-trấn / là một trái tim?... [Bản dịch Diễm Châu]
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018