thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Ba giai đoạn tập bay

 

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn,
riêng tặng Hoàng Đình Bình - Khánh Vy.

 

 

Vanessa Gebbie là một nhà văn chuyên viết truyện ngắn và truyện cực ngắn. Gần đây, chị bắt đầu viết những mẩu độc thoại và kịch bản sân khấu, và chị đang theo đuổi một cuốn tiểu thuyết. Chị sống ở Sussex, nước Anh, và dạy môn tác văn. Vanessa Gebbie đoạt giải nhất về truyện ngắn tại những cuộc tranh tài như: Willesden Short Story Competition, BBC Southern Counties/Guildford Book Festival, và Asham/Charleston Small Wonder Festival Slam. Tác phẩm của chị đã vào vòng chung kết của Fish International Prize, vào vòng bán kết của Bridport Prize, được đưa vào các tuyển tập: 2006 Fish Anthology, The Safe Life Gone AnthologyThe Turning Point Anthology, xuất hiện trên các tạp chí: Absinthe Literary Review, Aesthetica, Buzzwords, Bravado (New Zealand), Zeugma! (Canada) Smokelong Quarterly, Steel City Review, Momaya Review, Gator Springs Gazette, v.v..., và được đọc trên đài phát thanh BBC. Vanessa Gebbie sáng lập và biên tập tờ Tom’s Voice Magazine, một tạp chí điện tử cho những người nghiện ma tuý. Đồng thời, chị là phụ tá chủ bút của tạp chí văn học Cadenza.

 

_____________

 

BA GIAI ĐOẠN TẬP BAY

 

Kiến

 

Vào một đêm tháng Tám, vợ tôi biến thành một con kiến. Sáng hôm sau, tôi tìm thấy nàng trên chiếc gối. Tôi ngửi chiếc gối; nó có mùi vợ tôi.

"Suze?" tôi gọi. Tất nhiên, nàng không trả lời, chỉ quơ râu như mọi con kiến khác.

Đó là một năm khủng khiếp cho loài kiến. Vợ chồng chúng tôi đã thử mọi cách giết kiến với những mức độ hiệu nghiệm khác nhau, nào là xịt thuốc, đổ nước sôi, rắc thuốc bột. Nhưng bây giờ, tất nhiên, mọi sự đã đổi thay. Tôi nhử cho nàng leo lên một cái chảo trắng, và tôi chọn từ bàn trang điểm của nàng một chất sơn móng tay có màu sáng. Rồi tôi nhổ một sợi tóc trên đầu tôi để làm chiếc cọ, tôi đánh dấu vợ tôi bằng một chút xíu sơn móng tay hiệu "New Dawn".

Tôi mang nàng ra ngoài hiên, đặt nàng lên lớp đất trong một cái chậu to trồng cây xương rồng chậm-lớn mà chúng tôi đã mang về sau tuần trăng mật ở Acapulco. Mặc cho chúng tôi đã làm gì đi nữa, trong chậu đó luôn luôn có kiến.

Giờ đây, thỉnh thoảng, trong lúc đang đọc sách nơi hiên nhà, tôi lại thấy mình chăm chú nhìn những con kiến này. Đôi khi tôi thấy vợ tôi. Nàng luôn luôn bận bịu; luôn luôn đang cắm cúi đi đến một nơi nào đó.

 

Dế

 

Giữa mùa hè. Vợ tôi luôn luôn nói rằng những con dế kêu giống như những chiếc điện thoại reng không bao giờ dứt.

"Không, không phải vậy," tôi nói. "Chúng kêu như những con dế."

Nàng nói, "Rồi anh sẽ thấy, một ngày nào đó."

Thế rồi, cái ngày đó đã đến và vợ tôi biến thành một âm thanh trong đám cỏ. Có lẽ nàng là một con dế. Trước kia, nàng vẫn luôn luôn là một người nhỏ nhắn, khiêm cung. Thử hỏi người ta về nàng, họ đều nói "Ai vậy?"

Giờ đây, âm thanh của nàng vang lên từ đám cỏ và vọng ra khỏi mảnh vườn của chúng tôi, đến mảnh vườn nhà bên cạnh. Cứ vang vang vọng vọng như thế cho đến khi cả con đường của chúng tôi, rồi cả làng xóm chúng tôi, rồi cả thành phố chúng tôi tràn ngập âm thanh của vợ tôi.

 

Những con chim

 

Bầy chim là những cái bánh xe của vợ tôi chạy từ trên mái nhà đến những đọt cây rồi trở lại trên mái nhà.

Tôi nghĩ nàng là những con chim sáo đốm. Mỗi phần thân thể của nàng bây giờ đều bay được. Những móng tay, những khớp xương ngón tay, những ngón tay, hai bàn tay và hai cổ tay của nàng — vân vân và vân vân — nàng làm nên một đám mây dày và thay hình đổi dạng.

Một con chim là trái tim của nàng.

Trong lúc bầy chim bay tán loạn, ráp thành đội hình, xoay vòng, thì con chim này ở chính giữa nàng, rồi ra bên rìa. Thỉnh thoảng nó vượt ra ngoài, bay ra khỏi bầy. Tôi có thể nhìn thấy nó, một mũi tên đậm nét trên bầu trời thành phố.

Bầy chim bay vòng quanh, đâm bổ xuống, nuốt lấy trái tim nàng trở lại, nhanh đến nỗi tôi không nhận ra nó là con chim nào nữa.

Nhưng nó đã trở về nơi dành cho nó, tôi tin thế.

 

---------
Nguồn: "Three Stages in Learning to Fly", của Vanessa Gebbie, trên tạp chí The Cafe Irreal: International Imagination, Issue Twenty-One, February 1, 2007.

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018