thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Khung cửa sổ mở vào chữ [I-VIII]
Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn,
riêng tặng Võ Quốc Linh.

 

EDUARDO GALEANO

(1940~)

 

Eduardo Galeano (1940~) là một trong vài nhà văn Uruguay nổi tiếng nhất hiện nay. Ông còn là nhà phê bình, sử gia và ký giả. Những tác phẩm đặc sắc của ông, như Memoria del fuego [1982-1986, Ký ức của lửa] Las venas abiertas de América Latina [1971, Những mạch máu mở của Mỹ La-tinh], đã được dịch ra hơn 20 ngoại ngữ. Nhiều tác phẩm của Galeano hầu như vượt khỏi lối phân định thể loại văn học thông thường, vì đó là một kết hợp của ký sự, hư cấu, bình luận chính trị, tài liệu báo chí và lịch sử.
 
14 tuổi, Galeano bán bức biếm hoạ chính trị đầu tay cho tuần báo El Sol. 16 tuổi, ông xuất bản bài tiểu luận đầu tay, rồi bỏ học, và bắt đầu làm nhiều việc khác nhau để mưu sinh. 20 tuổi, ông trở thành ký giả, rồi làm tổng biên tập cho tờ Marcha , một tuần báo gây ảnh hưởng lớn về văn hoá và chính trị, với sự cộng tác của những tên tuổi quan trọng như Mario Vargas Llosa, Mario Benedetti, Manuel Maldonado Denis và Roberto Fernández Retamar. Rồi ông biên tập cho nhật báo Épocha và làm tổng biên tập của University Press (1965-1973). Cuốn Las venas abiertas de América Latina [1971, Những mạch máu mở của Mỹ La-tinh] làm Galeano trở thành một trong những tác giả được đọc nhiều nhất ở Mỹ La-tinh. Sau vụ đảo chính năm 1973, ông bị bỏ tù và trục xuất khỏi Uruguay. Sang Argentina, ông thành lập và làm tổng biên tập tạp chí văn hoá Crisis.
 
Năm 1975, Galeano đoạt giải Casa de las Américas cho cuốn tiểu thuyết La cancion de nosotros [1975, Bài hát của chúng ta]. Sau vụ đảo chính ở Argentina năm 1976, tên tuổi ông nằm trong danh sách những người bị tử hình, nên ông chạy sang Tây-ban-nha, sống ẩn dật trên vùng bờ biển Catalan và khởi sự viết Memoria del fuego [1982-1986, Ký ức của lửa], một kiệt tác gồm ba tập (1. Los nacimientos [Khai sinh]; 2. Las caras y las máscaras [Những chân dung và mặt nạ]; 3. El siglo del viento [Thế kỷ của gió]) được giới phê bình so sánh với những kiệt tác của John Dos Passos và Gabriel García Márquez. Năm 1978, ông lại một lần nữa đoạt giải Casa de las Américas cho cuốn tự truyện Días y noches de amor y de guerra [1978, Ngày và đêm của tình yêu và chiến tranh].
 
Galeano trở về quê hương Montevideo vào đầu năm 1985, và tiếp tục sáng tác và xuất bản liên tục rất nhiều cho đến hôm nay. Ngoài hai giải thưởng Casa de las Américas (1975, 1978), ông còn được trao các giải thưởng quan trọng khác như: American Book Award (1989), và Cultural Freedom Award (1999, Lannan Foundation).
 
Tám đoản văn dưới đây, với nhan đề chung là “Ventana sobre la palabra” [có đánh số từ I đến VIII], nằm rải rác giữa những truyện ngắn trong cuốn Las Palabras Andantes (México: Siglo XXI Editores, S.A. de C.V., 1994). Tôi xin gom tám đoản văn ấy lại thành một chùm, dịch, và gửi đến bạn đọc.
 

________________________

 

KHUNG CỬA SỔ MỞ VÀO CHỮ

 

I

 

Những người kể chuyện, những người hát chuyện, chỉ kể những câu chuyện của họ trong khi tuyết rơi. Làm như vậy là đúng cách. Thổ dân da đỏ Bắc Mỹ rất cẩn thận về việc kể chuyện. Họ nói rằng trong khi những câu chuyện được kể, cây cối quên mọc và chim quên mớm mồi cho con.

 

II

 

Ở Haiti, người ta không kể chuyện vào ban ngày. Bất cứ ai kể chuyện trước khi trời tối thì phải chịu sỉ nhục: ngọn núi sẽ ném một hòn đá vào đầu hắn, mẹ hắn sẽ bò bốn chân như con vật.

Đêm tối mở ra những gì linh thiêng, và những người biết kể chuyện đều biết rằng cái tên chính là sự vật mà nó gọi.

 

III

 

Trong ngôn ngữ Guaraní, ñe'ẽ vừa có nghĩa là "chữ" vừa có nghĩa là "hồn".

Thổ dân da đỏ Guaraní tin rằng những người nói láo hay xài chữ bừa bãi là những người phản bội linh hồn.

 

IV

 

Magda Lemonnier cắt chữ ra từ các nhật báo, những chữ lớn nhỏ đủ cỡ, và chị giữ chúng trong những cái hộp. Trong những hộp màu đỏ, những chữ giận dữ. Những chữ yêu thương trong một hộp màu lục. Những chữ dửng dưng trong một hộp màu xanh. Những chữ buồn bã trong một hộp màu vàng. Và chị dùng một hộp trong suốt để đựng những chữ huyền diệu.

Thỉnh thoảng chị mở các hộp ra và dốc chúng lên mặt bàn, để các chữ được tự do giao thiệp. Rồi các chữ kể cho chị nghe chuyện gì đang xảy ra và tiên đoán chuyện gì sẽ xảy ra.

 

V

 

Javier Villafañe hoài công tìm kiếm cái chữ đã vuột đi mất ngay khi anh sắp nói nó ra. Nó đã nằm ngay trên đầu lưỡi của anh. Nó biến đi đâu mất rồi?

Liệu có một nơi dành cho những chữ không muốn ở lại? Một vương quốc của những chữ bị lạc mất? Những chữ vuột mất, chúng nằm đợi ở nơi nào vậy?

 

VI

 

A có hai cái chân dang ra.

M là cái cầu đu bập bênh nhún lên nhún xuống giữa thiên đàng và địa ngục.

O, một vòng khép kín, làm ta ngộp thở.

R mang bụng chửa to kềnh.

"Tất cả những mẫu tự của chữ AMOR [TÌNH YÊU] đều nguy hiểm," Romy Díaz-Perera nói thế.

Khi các chữ chạy ra từ miệng nàng, nàng thấy chúng hiện rõ nét trong không khí.

 

VII

 

Ở trong tù đã hơn hai mươi năm, chàng mới trông thấy nàng.

Chàng vẫy tay chào nàng từ khung cửa sổ buồng giam, và nàng vẫy đáp lại từ khung cửa sổ của nhà nàng.

Sau đó, chàng nói chuyện với nàng bằng những tấm giẻ rách nhiều màu và những mẫu tự to tướng. Những mẫu tự ghép lại thành những chữ mà nàng đọc được bằng một cái ống nhòm. Nàng trả lời bằng những mẫu tự còn to hơn nữa, vì chàng không có ống nhòm.

Và cứ thế tình yêu của họ nẩy nở.

Giờ đây Nela và chàng da đen Viña ngồi tựa lưng vào nhau. Nếu một người đứng dậy, thì người kia ngã nhào.

Họ bán rượu vang từ ngôi nhà đối diện với trại tù hoang phế Punta Carretas, ở Montevideo.

 

VIII

 

Những người rừng đến thăm, và ngài pháp sư không có gì để tặng cho họ. Vì thế, ngài pháp sư đi ra vườn cây và nói với nó. Ngài nói với cây cối bằng những chữ đến từ đất ẩm, cũng như chúng vậy. Và cây cối nhận lấy các chữ rồi đột nhiên mọc cao lên và sinh ra hoa trái. Nhờ đó, ngài pháp sư mới có quà để tặng cho khách của ngài.

Kinh Cabala kể lại chuyện này. Và kinh Cabala nói rằng con trai của ngài pháp sư cũng muốn làm điều đó, nhưng vườn cây không nghe những chữ của hắn và không một cái cây nào tin lời hắn, không một cái cây nào mọc cao lên.

Con trai của ngài pháp sư chẳng làm được điều đó. Nhưng ngài pháp sư? Liệu ngài pháp sư có lặp lại được kỳ tích của chính ngài? Kinh Cabala không nói về chuyện này. Điều gì sẽ xảy ra cho ngài pháp sư nếu không cây cam nào, cũng chẳng cây cà nào, cũng chẳng cây bông lài nào đáp lại lời ngài một lần nữa?

Liệu chữ có biết giữ im lặng khi cái khoảng khắc cần đến nó đã trôi qua rồi, hay cái nơi cần đến nó đã rời xa rồi? Và cái lưỡi, liệu nó có biết chết đi không?

 

 

---------------------
Nguyên tác: " Ventana sobre la palabra" [I-VIII], trong Eduardo Galeano, Las Palabras Andantes (México: Siglo XXI Editores, S.A. de C.V., 1994).

 

 

Tác phẩm của Eduardo Galeano đã đăng trên Tiền Vệ:

"Những kẻ thật sự biết chơi đàn acordión có thể làm cho nó nói," Don Alejo Durán thích phát ngôn như thế. "Đối với họ, người và chiếc đàn là một." ... | Khi một con dao cắm ngập vào thân thể Papá Montero, đêm Havana đột nhiên câm nín. Nhưng... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... tại sao ngài lại tạo ra con người để con người mài lưỡi dao để lưỡi dao giết con bò để con bò uống nước để nước dập tắt lửa để lửa đốt cái que để cái que đánh con chó để con chó rượt con mèo để con mèo ăn con chuột để con chuột khoét bức tường để bức tường chặn ngọn gió để ngọn gió thổi sương mù để sương mù che mặt trời để mặt trời làm tan tuyết để tuyết làm què chân tôi... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Và Ngài giáng thế. Ngài đến bằng cách đu vào một chiếc ô mở bung ra. Một ngọn gió bất ngờ thổi khiến ngài bay lơ lửng một hồi lâu trên đầu đám người chen chúc. Hai tay níu lấy cán ô, con trai của Chúa Trời không thể ngăn ngọn gió thổi tốc tấm áo chùng làm lộ ra cái khoảng nhục thể phàm trần của ngài... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Những nghịch lý  (truyện / tuỳ bút) 
Nếu sự mâu thuẫn là buồng phổi của lịch sử, thì nghịch lý, theo tôi nghĩ, chắc hẳn phải là tấm gương soi mà lịch sử dùng để trêu chọc chúng ta... Ngay cả con trai của Chúa Trời cũng không thoát khỏi nghịch lý... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Đàn bà? Một nòi thấp hèn như mọi da đen, như lũ người nghèo khổ và bọn điên khùng. Như trẻ nít, họ không thích hợp với sự tự do. Họ mang số phận phải khóc lóc và gào thét, nói xấu hàng xóm láng giềng, và thay đổi ý nghĩ và kiểu tóc xoành xoạch hàng ngày. Trong giường và trong bếp, đôi khi họ cho ta khoái lạc. Ở những nơi khác thì họ chẳng gây nên cảm giác gì ngoài sự lợm giọng... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Định nghĩa Nghệ Thuật  (truyện / tuỳ bút) 
"Tôi chỉ biết mỗi một điều: nghệ thuật là nghệ thuật, nếu không, nó là cứt." ... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Nhiệm vụ của người đọc / 1 & 2  (truyện / tuỳ bút) 
... Lucía chưa bao giờ đọc lại cuốn sách ấy. Chị không còn nhận ra nó nữa. Nó đã âm thầm mọc lên quá lớn trong chị, đến nỗi giờ đây nó không còn là cuốn sách, mà trở thành một điều gì khác: giờ đây nó là sức sống của chị... | ... Đại uý Castañón, anh hùng của đạo quân chiến thắng, ngồi chong mắt suốt đêm, chìm đắm vào cuốn sách, đọc đi đọc lại tác phẩm của César Vallejo, nhà thơ của phe bại trận... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Ngay đêm đầu tiên, con thằn lằn nhảy chồm lên, đè vợ nó xuống và ăn thịt nàng. Khi mặt trời lên, trên chiếc giường hợp cẩn chỉ có một kẻ goá vợ nằm ngủ, chung quanh đầy những mảnh xương vụn. Thế rồi con thằn lằn đòi một cô vợ khác, và một đám cưới khác và một cuộc ăn thịt khác lại xảy ra... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018