thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
ĐI.COM [3]
Những kỳ trước: [1] [2]

 

Trong khi tôi ngậm miệng đi qua những cánh đồng ngập gió, những con chó làm mồi trong quán cầy tơ bên đường, những đám cưới giả cho một cô gái để đẹp mặt với bà con chòm xóm, những con cua biển bé xíu sẽ vướng vào vợt của những đứa bé và chúng sẽ có một cuộc đời mới. Tiến bảo không được quên con chó là để ăn. Thay đổi phẩm trật ấy là một sai lầm của văn hoá. Tôi đã có cảm giác mình được ăn một thứ thịt sạch ở một quán nhậu trên đường vào Vĩnh Châu. Cô gái nằm trên võng mời: “Các anh sang quán em nhậu ca cổ.” Tiến bảo cái này mới là nhậu văn hoá. Trong lúc cô gái ca vọng cổ, bàn tay Tiến giao lưu văn hoá trong áo cô ta. “Vô đi anh!” Vô thì vô. Cô gái bảo nếu anh giúp em trả nợ cho má thì em sẵn sàng theo anh. Những con tôm búng mình từ dưới ao lên bàn nhậu. Cô gái nói tiếp, em sẽ hầu hạ anh, em sẽ làm bất cứ điều gì anh muốn. Những con cua biển bé xíu sẽ được bán cho các trại giống. Nhưng một ngày nào đó khi ĐI.COM đến, cô bé có nụ cười hết hàm răng sẽ bỏ biển cho trùng khơi lên bờ trang điểm rồi vào quán giao lưu văn hoá.

N đang nghe nhạc ở quán Yokos, nhắn tin cho tôi: “Anh ơi, làm thế nào để điên?”

Tôi cảm thấy một nỗi khẩn thiết phải thoát khỏi sự nhàm chán của N. Như Muội. Quăng tấm thân mình vào giữa lũ đàn ông và ngồi trên miệng họ. Muội vẽ những con quái thú bằng sợi dây kẽm gai và phơi chúng giữa nắng, tìm một phiên bản trên cái bóng của chính nó, rồi bỏ quên chúng trên vỉa hè. Muội bảo cái cảm giác ngồi trên miệng một gã đàn ông cũng giống như cho con bú. Nhưng em không muốn anh nói đến tình dục. Chỉ có ĐI.COM và để cho ĐI.COM hành động. Tôi bảo ĐI.COM là đấng tự có, bởi thế ĐI.COM không hành động theo cách của vật được thụ tạo.

Muội thường ít khi mặc áo lót vì Muội có một bộ ngực đẹp. Muội nói em thích tai nạn. Nhưng đã không có một gã đàn ông nào hiếp Muội. Cuộc đời Muội như một dòng nước, nó chảy tới những chỗ trũng. Muội muốn làm ngược lại. Em đã nhìn thấy một đứa vừa uống em xong thì lăn đùng ra bất tỉnh. Em cũng muốn được bất tỉnh, nhưng em tỉnh táo quá, em như con quạ rỉa những xác chết.

Tôi nhắn tin lại cho N: “Cứ làm những gì em thích.”

Như thế là điên. N đã uống gần hết một chai Bacardi. Em không thể hứng tình được. Nhưng dẫu sao em cũng phải vất nốt cái quần lót cho một ai đó.

Ở Vĩnh Châu, ngày hôm nay có một cô gái đi lấy chồng. Chồng cô không phải Tiều hay Miên. Người đàn ông ấy nói: “Tôi cũng là dân Sài Gòn. Trước đây tôi ở quận 3.” Bây giờ hắn có vài vuông tôm, mỗi năm kiếm tiền tỉ. Cô dâu đeo vàng sái cổ. Cũng ngày hôm nay, Muội đá đít thằng nhóc bảo mày không biết đụ thì kiếm mấy con đĩ nó dạy cho, đừng làm thơ làm thẩn. Muội dùng than vẽ trên mặt đường những cái mồm vỡ. Nguyên nhân không được lý giải. Muội bảo ai thích thì cứ vẽ thêm. Có một người làm thơ khác vẽ những cái lông chim cắm vào cái mồm vỡ. Hắn tuyên bố rằng thơ là một tình trạng bệnh lý và người làm thơ là những kẻ bệnh hoạn. Muội nói chỉ vẽ thôi thì chưa đủ, cần phải biết xoá cái mình vẽ. Và Muội đã ngồi xuống đái vào những cái mồm vỡ mình đã vẽ.

Tôi thích vuốt những sợi lông măng trên cánh tay Muội. Muội bảo em muốn làm cho N vui. Ba chúng tôi đi uống rượu. N nói em thèm ăn trứng gà. Nhưng toàn bộ gà đã bị giết vì cúm. Tiếng cục tác chỉ còn trong ký ức. Tôi vẽ con gà trên bàn bằng ngón tay chấm nước. Muội nói em thích những thứ nghệ thuật phù du. Nó như một cuộc làm tình ngắn ngủi nhưng đầy cảm xúc. N đổ rượu vào lòng bàn tay rồi xoa lên mặt Muội, nói: “Trong uống ngoài thoa, mình muốn thấy Muội lên cơn.” Muội bảo chẳng cần phải cơn cớ. Muội ôm hôn N, rồi hôn tôi.

Tôi gọi những ngày như thế là ngày Muội.

Muội bảo em không thể chịu đựng nổi cái niềm tin của người ta vào thế giới này. Năm 2015, Muội đã cắt gân máu tự tử. Máu của Muội có mùi rượu và không đông. Năm 2023, tôi gặp một người y như Muội. Cô ấy cũng vẽ và viết. Cô ấy nói tôi không thích cách người ta tin vào ĐI.COM. Nhưng đột ngột cô ấy qua đời, tôi không biết cái chết của cô ấy có phải do ĐI.COM trừng phạt hay không. N nói em có cảm giác ĐI.COM đang trương nở và vì thế nó ép các cảnh giới khác co lại. Cả không khí cũng bị dồn ép trở nên khó thở. Những người đứng dưới lá cờ đen hô hoán phải giết người này người nọ. Và họ kéo nhau đi tìm kẻ đáng phải chết như thể đó là người gây ra tình trạng khó thở của họ. Bao giờ người ta cũng tìm thấy xác nạn nhân trong tư thế nằm sấp và không có bất cứ một dấu tích nào chứng tỏ có sự mưu sát. Các nhà chức trách cho rằng nạn nhân sợ hãi mà chết, nhưng các xét nghiệm pháp y đều phủ nhận điều đó. N nói em nghĩ rằng họ đã chết trong sự thống hối. Tôi hỏi tại sao lại phải thống hối khi họ không hề là tác nhân gây ra sự khó chịu cho người khác. N bảo đấy chính là cách hành xử của ĐI.COM.

Năm 2006, Muội nói em muốn có con với anh, đừng sợ em ràng buộc. Tôi bảo tôi không ngại ràng buộc nhưng tôi sợ có con. Tôi đã nhận thấy những dấu hiệu can thiệp của ĐI.COM vào đời sống mình và tôi không muốn ĐI.COM có thể làm điều gì đó với bất cứ một sinh linh nào khởi phát từ tôi. Tuy thế, tôi cũng đã làm tình với Muội và tôi cảm thấy khác thường. Tôi thật sự không biết Muội như thế nào. Trước khi Muội chết vào năm 2015, nàng đã đưa tôi đến xưởng làm việc của nàng. Đó là một kho chứa đầy những máy móc cũ. Muội bảo thật ra em không muốn tạo dựng nên sự sống, mà em chỉ muốn chứng kiến sự sống. Bây giờ đang là năm 2005, tôi tin rằng Muội thật sự yêu tôi. Và tôi biết rằng không phải tôi muốn viết gì thì viết, muốn dựng nên các nhân vật như thế nào cũng được. Muội là cuộc đời tôi sẽ là. Bởi thế Muội không là nhân vật tôi hư cấu. Trong kho chứa máy móc cũ năm 2015, Muội đã cho tôi xem những tác phẩm của nàng. Tôi nhìn thấy tôi trong đó. Dị dạng và mơ mộng. Muội bảo anh chỉ đáng là thế. Anh là một loại phế liệu, nhưng em muốn phục hồi anh bằng cách anh phải vất đi tất cả những gì đã viết. Rồi nàng lột quần áo tôi, nhìn ngắm. Tôi hỏi đùa: “Anh có phải là người em chờ đợi không?” Muội không nói gì. Đêm hôm ấy Muội tự sát. Cuộc đời tôi bị gián đoạn. Khoảng trống Muội để lại tôi vẽ vào đó những vệt màu u ám, phân cách tôi thành một tôi khác.

Tôi không thấy vẽ là một động thái có thể hoá giải được những ức chế từ cái chết của Muội để lại, tôi cũng không tin mình có thể sáng tạo được điều gì, nhưng tôi vẫn vẽ như thể tôi sống tiếp những ngày Muội. Và tôi với Muội vẫn ngày ngày lang thang các quán cà phê, nhìn ngó chung quanh. Tôi cảm thấy cuộc sống chậm lại. Bản thân tôi cũng chậm lại. Áp huyết tụt và đầu óc tôi tù mù choáng váng. Tôi không tập trung được nữa. Đã có một cái gì đấy xâm lấn vào trong đầu, tôi không muốn nghĩ ĐI.COM đã chi phối tôi, làm cho tôi ù ù cạc cạc. Quả thật, tôi thấy mình suy sụp. Nhưng một mặt khác, sự sống chậm lại làm cho tôi bình tĩnh, thanh thản hơn. Tôi không còn cảm thấy phải ganh đua về bất cứ điều gì. Đâu là chất lượng cuộc sống thật, tôi không biết. Nhưng tôi thấy rõ tôi hơn, trong từng hơi thở, từng bước đi chếnh choáng. Tôi thấy tôi mong manh. Tôi thấy tôi gần gũi với cái chết và có thể chết bất cứ lúc nào. Không sợ hãi, nhưng tôi cũng không muốn sống như đang chờ đợi cái chết.

Tình trạng sức khỏe của tôi chỉ thật sự được cải thiện sau năm 2016 khi tôi không nghĩ đến ĐI.COM nữa và cũng không nhớ Muội nữa. Có một người đàn bà mang theo ánh sáng đức tin của Phật pháp bước vào đời tôi. Tôi thích gọi Diệu An là Phật mẫu, nhưng Phật mẫu Diệu An bảo em chỉ là cái bóng của anh. Tuy nhiên, tôi lại thấy cái bóng ấy trùm phủ lên tôi, cho tôi một cảm giác an bình, mặc dù Diệu An có một xuất xứ bí ẩn, tôi không thể hiểu. Đôi khi tôi cũng hỏi nàng: “Tại sao em đến với anh?” Không bao giờ Diệu An trả lời. Có một điều gì đấy sâu xa thuộc về sự bất khả của nhận thức, tôi cảm thấy mình được phù trì, dẫn dắt đến sự đơn giản.

Trong lúc ấy ở vùng Bảy Núi xảy ra hiện tượng đá chạy. Không ai nhìn thấy đá di chuyển, nhưng sau mỗi ngày, các tảng đá lớn thay đổi vị trí như những quân cờ. Người đàn ông trước kia từng xuất hiện trong vườn tượng dưới chân núi Sam biểu diễn âm thanh và hình thể trở lại. Dường như ông ta đã mù, nhưng không phải vì thế mà không thấy đường, ông ta ngồi thiền bên cạnh các bức tượng, mông cách mặt đất ba tấc. Hàng vạn người tò mò đến chiêm ngưỡng ông và tôn vinh ông là Phật sống. Ông nói Phật sống không phải là Phật. Không một ai giác ngộ điều ông ta nói, họ tiếp tục kéo đến thắp nhang xung quanh chỗ ông ngồi. Sau bốn mươi chín ngày, ông biến mất. Chỗ ông ngồi để lại một vết lõm. Người ta tiếp tục thắp nhang xung quanh chỗ lõm màu nhiệm ấy.

Tôi bị thúc đẩy bởi một tình bạn với Tiến, vì thế tôi cũng đã đến vườn tượng, nhưng không kịp gặp người đàn ông ấy. Vẫn là Phượng vỗ vai tôi từ phía sau: “Anh cũng là người hiếu kỳ sao?” Tôi bảo không, tôi cảm thấy có một tiếng gọi. Hỏi thăm Phượng bây giờ sống thế nào? Phượng bảo em khám phá ra rằng em chỉ là một thứ tín đồ. Và không bao giờ bước qua khỏi được giới hạn ấy.

Diệu An trách tôi đi Châu Đốc mà không cho An biết. Tôi nói có những nơi, những điều, những việc có thể dành cho người này mà không dành cho người khác. An bảo tôi không nên phân biệt như thế. Biết làm sao được, Châu Đốc với tôi là Tiến và Phượng.

Năm 2020, tôi đã về ở nhà Phượng cả tháng, khi ấy mẹ Phượng đã mất. Phượng đón tôi như người thân duy nhất. Dù thế nào tôi cũng không thể là người thay thế Tiến. Phượng đã xuống núi và sống cuộc sống của một người đàn bà bình thường với một bè cá trong căn nhà cũ của mẹ. Phượng nói có lúc em tưởng có thể rũ bỏ tất cả để sống như mình muốn, nhưng rồi em đã quay về. Em nhận ra rằng em vẫn còn một số cái để gìn giữ.

Năm 2005, trong mùa lũ. Nước ngập lối vào nhà Phượng. Tôi và Tiến chỉ nhìn thấy thấp thoáng một mái tôn trắng loá giữa những lùm cây màu xanh. Năm 2020, cũng mùa lũ, nhưng con đường đã được tôn cao, căn nhà cũng đã được xây lại, không còn cái mái tôn trắng loá. Nhưng Phượng bảo công việc của một nông dân như em thì chẳng có gì thay đổi. Lúc rảnh vẫn mắc võng nằm nghe cải lương. Tôi hỏi còn việc tu hành của em ra sao? Phượng bảo gọi là tu cũng được, không tu cũng được. Không phải em muốn nói Phật tại tâm. Tôi hiểu điều ấy. Và tôi thấy thương cảm. “Không kể giai đoạn em sống với thằng bồ đầu tiên như em đã kể cho các anh nghe, hơn mười năm lăn lóc, em vẫn còn trinh đó.” Tôi sững sờ. Tại sao Phượng lại nói với tôi điều ấy?

Hàng ngày tôi ngâm mình dưới sông. Tôi cảm thấy vui khi nghĩ rằng thằng nhỏ của tôi cũng bơi lội tung tăng cùng đàn cá nhỏ. Phượng cũng tắm sông. Mọi thứ được rửa ráy dưới sông. Ở nhà Phượng, ngoài tôi còn có một con chó. Con chó không phải để giữ nhà vì gặp ai nó cũng vẫy đuôi mừng và lân la liếm láp. Con chó rất sạch. Phượng yêu chó. Ngoài những con cá dưới sông, trong đìa, có lẽ con chó là vật cưng nhất của Phượng. Tôi thường thấy Phượng ôm con chó và vuốt ve nó. Tôi chẳng có lý do gì để ghen với nó, nhưng đôi khi nó lại tỏ ra ghen với tôi. Đã từng hơn một lần con chó đòi nhảy xổ vào tôi khi tôi cạo gió cho Phượng. Tôi nghĩ, trong ngôi nhà không có đàn ông, không có đàn bà, trẻ con nào khác mà thiếu con chó thì Phượng buồn lắm.

Một hôm Phượng nói với tôi: “Anh có thể ở lại bao lâu cũng được.” Tôi cảm thấy ngay rằng mình phải đi, trước khi quá muộn. Tôi nói: “Anh không thể ở đâu quá lâu”.

N xuống đón tôi. Chúng tôi đi qua Sóc Trăng chơi. N muốn làm một phim về sự hợp chủng ở đây. Tôi nhớ có lần Tiến nói: “Ỡ chỗ nào người Hoa chọn làm đất sống, thì đó là nơi tốt nhất về mặt địa lý kinh tế”. Phần tôi, tôi chỉ thắc mắc tại sao đàn ông Tàu lại thích lấy vợ Miên hơn con gái Việt? Có thể tôi đã chỉ nhìn thấy sự lai giống giữa Tàu và Miên rõ ràng hơn Tàu và Việt. Bản thân các cô gái Miên cũng dễ tìm chồng đức hạnh. Hàng ngày các sư trẻ đi khất thực, cứ chọn một sư mình thích cúng dường bồ tát, chờ ba năm sư hoàn thành nghĩa vụ tu hành hoàn tục, đón sư ở cổng chùa. Thế là xong. N bảo anh bá láp quá. Tôi cười, anh nói có gì không nghiêm chỉnh đâu? Chi tiết này em cho vào phim hơi bị đắt.

Chùa Mã Tộc nằm lẫn trong tiếng dơi chi chít. N ngồi dưới bậc thềm bên cạnh tấm bia khắc tên người đã cúng dường sửa chữa cái bậc thềm ấy với địa chỉ tận nước Mỹ. Cái cổ kính thuần nhất nguyên thủy gần năm trăm năm được trùng tu bằng cách vá víu cái hiện đại thô lậu của những kẻ mua ơn phước. Tôi cảm thấy một điều kỳ lạ là trước những công trình nghệ thuật đáng kính trọng thì những người kế thừa để gìn giữ bao giờ cũng là những kẻ ngu dốt và phá hoại. N bảo anh đừng quan tâm đến chuyện ấy, hãy nghe tiếng dơi gọi nhau. Chúng vẫn gọi nhau từ năm trăm năm trước và chúng sẽ tiếp tục gọi nhau hàng ngàn năm nữa nếu những ngọn cây cao tít kia không bị đốn. Nhưng có một chuyện buồn, vào một ngày mùa đông lạnh bất thường, con dơi chúa có sải cánh hơn hai thước đã rơi thẳng xuống đất và không bao giờ bay lên được nữa. Các vị sư trong chùa Mã Tộc đã chôn cất nó tử tế và làm cho nó một lễ cầu siêu. Trong ba ngày, ngôi chùa không có một âm thanh nào, kể cả tiếng chó, gà, ngoại trừ tiếng cầu kinh trầm buồn của các vị sư. Đến ngày thứ tư, người ta nghe thấy có một cơn gió lớn quét ngang, bỗng nhiên hàng ngàn con dơi đang treo trên ngọn cây đồng loạt biến mất. Liền sau đó ngôi chùa cũng đổ sụp. Sự việc xảy ra bốn năm sau ngày chúng tôi thăm chùa. Không có một vị sư nào chết trong tai hoạ này, ngôi chùa được xây dựng lại, to hơn. Tuy nhiên, từ đó không ai gọi chùa Mã Tộc là chùa Dơi nữa.

Vào ngày bi thảm ấy, tại chân núi Cấm, ông Đạo Tiếng xuất hiện. Ông ta nói: “Một thời đại mới đã bắt đầu. Thày của ta đã được giải thoát khỏi thời gian và ngài sẽ đến giữa chúng ta trong một hình dạng mới, bất khả ngộ, bất khả tri nhưng sẽ chi phối toàn bộ thế gian.”

Không ai quan tâm đến ông ta, bởi vì số người có vấn đề về tâm thần vẫn không ngừng tăng lên.

Trong chùa Mã Tộc năm 2020, N đã đứng lên khỏi bậc thềm và nàng đi theo những cô gái Miên ra phía sau nhà hội trường. N nhìn thấy mấy chuồng nuôi chim bồ câu. Các nhà sư ăn chay và tất nhiên không sát sinh, vậy thì nuôi chim bồ câu để làm gì trong chùa? N tự hỏi. Có một nhà sư đã nhìn thấy N thắc mắc, ông ta đến bên cạnh N: “Bà muốn biết tại sao nhà chùa nuôi chim?”

“Vâng.”

“Nó là của một sư trong chùa.”

“Chắc hẳn thế.” N cười.

“Chúng tôi không nuôi chim để phóng sinh. Lại càng không phải để ăn thịt. Mà chỉ để đưa thư thôi.”

“Tôi không tin là chim đưa thư thì nhanh chóng và đáng tin cậy hơn internet.”

-“Bà nói đúng. Nhưng vị sư ấy vẫn muốn đưa thư bằng chim.”

-“Một thú chơi à?”

-“Không. Chúng tôi không chơi hay một cái gì đó tương tự.”

-“À, tôi hiểu rồi. Làm gián điệp chứ gì.”

-“Bà ác khẩu đó. Nhà chùa không có gì phải giấu. Những lá thư của nhà sư ấy được gởi đến núi Cấm, trên ngọn một cây bồ đề. Bà có thể đến đó đọc.”

-“Thật sao?”

-“Bà biết là chúng tôi phải giải trừ khẩu nghiệp.”

N nói với tôi: “Chúng ta phải đến đó.”

Tôi nghĩ muốn tìm một cây bồ đề thì cách dễ nhất là vào một ngôi chùa. Ở núi Cấm, chùa lớn nhỏ nào cũng có cây bồ đề. Tôi hỏi một vị sư: “Cây bồ đề nhận thư của chim bồ câu ở đâu?” Vị sư ấy hỏi lại tôi: “Theo anh, cây bồ đề nào biết nhận thư?” Tôi nói: “Cây bồ đề nào nhận thư cũng được.” Vị sư ấy nói tiếp: “Vậy thì anh đi tìm làm gì?” N nói: “Chúng tôi muốn đọc thư của một vị sư nuôi chim bồ câu.” Nhà sư có đôi mắt tinh nghịch cười bảo: “Tại sao bà không nghĩ người ta nuôi chim bồ câu để thịt?”

Tôi chợt nhận ra, chúng tôi đã tò mò ngu ngốc.

Trên đường về, ghé thăm Phượng và kể cho Phượng nghe câu chuyện về nhà sư nuôi chim bồ câu đưa thư, rằng chúng tôi đã đi tìm cây bồ đề nhận thư như thế nào trên núi Cấm. Phượng bảo không phải ai cũng có thể tìm thấy cây bồ đề ấy. Tôi hỏi: “Em đã tìm thấy nó?”

-“Dạ. Và vì thế em đã quay về nhà.”

-“Em đã đọc được điều gì trên những lá thư ấy?”

-“Cũng không có chi lạ. Chỉ là mấy câu chú trong kinh Phật.”

Tôi đưa N ra bến phà Thị Đam. Chiếc phà từ hơn một trăm năm trước vẫn nổ ròn rã khuấy động bầu trời và nó còn làm đục nước sông Năng Gù thêm hai mươi năm nữa trước khi người ta xây một cây cầu bắc vào thánh địa Hoà Hảo. Trên phà, N bỗng nôn oẹ giống như người ốm nghén. Về tới nhà, N vẫn tiếp tục nôn ọe. Tôi hỏi: “Không lẽ em có thai?” N nói: “Em cũng không biết nữa, nhưng chắc chắn không phải là cảm mạo phong hàn.” Tôi đưa N đi thử thai. Bác sĩ bảo không có gì. Nhưng sau đó bụng N vẫn to dần lên. N đi siêu âm, chụp X quang, trong bụng N vẫn chỉ là một khoảng trống. Các bác sĩ võ đoán N bị trướng bụng. Mọi thứ thuốc thang chẳng tích sự gì. Chín tháng mười ngày sau ngày N và tôi đến chùa Mã Tộc, thêm ba ngày nữa trên núi Cấm, cộng hai ngày ở nhà Phượng trong thánh địa Hoà Hảo, tổng cộng chín tháng mười lăm ngày, cửa mình N xì ra một tiếng lớn giống như đánh rắm, không mùi. Cái bụng trướng từ từ xẹp xuống.

Khi ấy, dưới chân núi Cấm, người đàn ông chuyên tung tin đồn nhảm theo cách nói của một vài tờ báo lại xuất hiện. Ông ta tuyên bố: “Đấng hộ pháp của Thày ta đã đến trong hình dạng một cơn bão để dọn đường.” Ông ta lải nhải một câu duy nhất đó suốt ba ngày liền.

Bắt đầu có những đứa trẻ mất tích không dấu vết. Các cơ quan điều tra bó tay. Dân chúng tìm cách giải thích sự việc theo cách của họ. Có người cho rằng bọn trẻ bị bắt đi do một tổ chức bí mật muốn đào tạo một thế hệ vệ binh mới. Có người lại nói bọn trẻ bị ăn thịt bởi một người vô hình. Dù bất cứ vì lý do gì thì người ta cũng không để trẻ con ra đường một mình. Tuy nhiên, cứ khoảng một tuần lại có một đứa trẻ biến mất. Đặc biệt chỉ xảy ra với trẻ con da vàng và chuyện đó diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Nỗi sợ hãi làm nhiều phụ nữ không dám đẻ.

Chỉ có N mới để ý đến chi tiết trước khi một đứa trẻ mất tích bao giờ cũng có một cơn lốc lớn. Và cơn lốc làm N cảm thấy dễ chịu trong lòng.

Chỉ trong ít năm, số trẻ con bị mất đi một cách đáng kể. Tôi không hiểu vì sao lại có một bộ phận trong dân chúng vui mừng vì điều ấy. Họ nói con người đang được thanh lọc và bọn da vàng tất nhiên đáng được thanh lọc hơn tất cả.

Nhưng chính khi được thanh lọc, bọn da vàng trở nên mạnh mẽ khác thường. Một loạt các nhà văn, nhà triết học Trung Quốc làm khuynh đảo thế giới. Những lối sống mới thực dụng hơn Khổng Tử, khinh khoái hơn Trang Tử và bạo liệt hơn Tần Thủy Hoàng đan xen vào nhau, đẩy con người vào những thái cực bất tương dung. Món thịt người được chính thức cho phép kinh doanh tại đất nước rộng lớn này, khi dân số Trung Quốc đứng ở ngưỡng mười tỉ. Và hơn lúc nào hết, nghệ thuật ẩm thực phương Đông được đẩy lên tới tột đỉnh sự cầu kỳ. Thịt con gái trinh dưới mười tám năm tuổi là món thượng hảo hạng và được đánh giá là có khả năng làm giảm sự lão hoá, bồi bổ nguyên khí.

Vào lúc ấy biên giới các nước châu Á đã được mở cửa tự do thông thương. Nhờ điều này mà đất Trung Quốc bớt chật chội, người Trung Quốc hiếu hỉ hơn. Khái niệm da vàng trở nên đồng nghĩa với người Trung Quốc và nó được phổ biến rộng rãi trên thế giới. Các nền văn hoá như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam… tiếp tục là bản sao của Trung Quốc như nó đã là như thế từ hàng ngàn năm trước. Triết học Phật giáo của Ấn Độ chỉ còn là thứ giải stress của người da trắng.

Có một nhà thơ là cháu đích tôn của một đạo diễn thời chiến tranh 1954 – 1975 vốn thường cắt tai kẻ thù ngâm rượu uống mà tôi biết như chính lời ông ta kể, đã mời tôi một chầu thịt người tại Nam Ninh khi tôi có dịp đến đó. Hắn ta nói: “Chưa ăn thịt người thì không thể làm cách mạng được.” Tôi bảo: “Tôi không có ý định làm cách mạng.” Hắn lại nói: “Chưa xem giết người thì không thể thành nhà văn được. Ông có muốn xem không? Tôi dẫn đi.” Tôi không nghĩ đó là một tiền đề đúng, nhưng quả thật, tôi cũng muốn nhìn thấy cái cách người ta mua bán thịt người và giết mổ, xào nấu nó. Nhưng tôi không phải là người can đảm. Tôi nghe kể những gia đình nghèo thường chọn giải pháp bán đi một người để cứu nhiều người. Cũng có khi nguồn thịt người được cung cấp từ các bệnh viện sau khi các bác sĩ đã lấy đi những bộ phận cần thiết.

Mùa đông năm 2050, bên hàng rào quán ăn trên đường Lý Thường Kiệt, Hà Nội, nhìn ra đường tôi thấy hàng trăm người mặc đồ đen chạy rầm rập qua. Chúng đến trước một cao ốc văn phòng có nhiều công ty nước ngoài thuê, giương ngọn cờ tang tóc lên, gào rú. Ở một khoảng cách khá xa, tôi vẫn nghe thấy tiếng họ lẫn lộn như tiếng mèo gào, tiếng chó tru, tiếng vượn hú, tiếng cọp gầm, có cả giọng trầm buồn của những con trâu. Kính cửa các văn phòng bung ra, rồi những cái đầu người cũng thò ra. Họ lần lượt nhảy xuống đất, chết. Không hiểu điều gì đã xảy ra trong lòng họ.

Bỗng nhiên tôi nhận ra ở bàn bên cạnh cũng có bốn người mặc đồ đen. Tất cả họ đều có đôi mắt dài dại. Họ đang uống rượu mật người. Dường như họ biết tôi quan tâm đến họ. Một người cầm chai rượu có màu nâu hồng sang bàn tôi, anh ta nói: “Mời anh một cốc. Uống một cốc thành trượng phu. Uống hai cốc thành anh hùng…” “Còn uống cả chai thì sao?”, tôi hỏi. Hắn cười khà khà: “Uống cả chai thì tự trả tiền.” Tôi không cần trượng phu với anh hùng, cho nên không cần uống rượu. Tôi bảo cho tôi yên. Ngay lúc ấy, Diệu An bước vào. Từ tâm của nàng toả ra. Và tôi đã tránh được sự phiền hà nguy hiểm. Chúng tôi rời khỏi quán.

Tôi ủ mình trong hơi ấm của tách trà. Diệu An bảo “ngồi sát vào với em.” Tôi thích cặp vú An nhỏ và thanh thoát. Hai núm vú trong veo. Chúng tôi nhìn mưa. Diệu An nói điều cốt yếu nhất đối với anh bây giờ là buông bỏ tất cả. Chỉ có như vậy anh mới tìm được sự bình an và thoát khỏi các tai hoạ.

Tôi hiểu ý An là đừng có đa mang nữa. Thật ra, tôi đã nắm giữ được gì? Cả N và Diệu An và Muội và những buổi chiều trống không vẫn là ngoài tôi. Trong tôi chỉ có mỗi con chim ngọ nguậy không phân biệt địch ta, mơ hồ. Diệu An nói tại sao anh cứ phải qui chiếu mọi sự vào cái ngọ nguậy mơ hồ trong hố thẳm? Tôi cười bảo vì mọi cái khác đều đáng chán. Như Muội cũng từng nói với tôi “hãy làm cái gì với em cho vui.” Cái đáng chán sâu thẳm và ẩm ướt thiên thu. Cái ngôn ngữ bao cao su xa lìa nhân thế. Rồi Muội quăng bỏ giá vẽ. Rồi Muội ra đường nhặt nhạnh phế liệu. Một thế giới khác từ đáy vực sống lại chỉ để cho một nhận thức phù du. Rồi Muội chết. Những sợi lông măng trên cánh tay Muội về đâu?

Diệu An nói anh hỏng rồi. Em bảo anh buông bỏ thì anh lại nhớ lung tung.

Thật ra, điều tôi cần là buông bỏ chính tôi. Nhưng ĐI.COM chưa tới. Tôi vẫn ngồi với N trong quán cà phê xoay nhìn ra các cửa hàng bán dưỡng khí và cây si chằng chịt rễ, năm 2055. Một khớp cổ tay của N bị sưng. Đến một tuổi nào đó, cơ thể sinh chứng, bắt đầu cho sự tàn tạ. Những nốt ruồi và thịt thừa đã mọc lan quanh cổ N tràn xuống vai. Cái cổ ngày xưa ngon như một cây giò lụa. Thẳng và đầy. Diệu An năm 2016 là một phụ nữ chín ứa. An dạy Toán ở đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, nhưng An lại thích triết lý nhà Phật và những thứ bị coi là của nhà Phật. An khát sống một tình yêu lãng mạn, nhưng An chỉ đi được một nửa mùa cổ điển. Một nửa mùa còn lại An hồi hướng chân như.

Tiến nói khi chưa thọc sâu vào một phụ nữ bằng cái dương vật cứng và nóng hổi thì không thể nói đã biết cô ta như thế nào.

Những ngày cuối đông 2010, kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long, tôi cũng đã ở Hà Nội với Muội. Đối với tôi, Hà Nội một ngàn năm hay Hà Nội một năm cũng như nhau. Tôi có mặt ở Hà Nội chỉ vì Muội. Muội nói “hãy đi với em.” Cuộc triển lãm của Muội gây một ấn tượng khác thường về sự tái sinh của những hồn ma lạc loài. Nhưng điều thật sự quan trọng của một ngàn năm Thăng Long là tôi đã đâm vào lồn Muội. Hết linh hồn và thân xác tôi. Con rồng bay lên. Tôi bay lên. Muội bay lên. Muội bảo việc em có con hay không không còn quan trọng nữa. Suốt những ngày còn lại ở Hà Nội mưa. Tôi và Muội nhìn mưa trên hồ Gươm. Những con rùa rét cóng thụt đầu vào trong mu.

Diệu An bảo để em cầu siêu cho những linh hồn đã chết.

Diệu An độ lượng lâm râm mấy câu thần chú. Tôi nghĩ Diệu An chỉ đùa cho vui, nhưng Diệu An bảo em là sự bằng an của anh. Những con rùa trong hồ Gươm đã thò đầu ra ngó trời. Tôi nói: “Đôi khi anh cảm thấy mình lơ ngơ.” Diệu An dí ngón tay vào trán tôi: “Ông là thứ ăn thịt người.”

 

[còn tiếp]

 

 

Đã đăng:

ĐI.COM [1] (tiểu thuyết) - Nguyễn Viện
Một nửa trái đất bị bao phủ trong bóng tối sợ hãi. Mỗi ngày lại có một tin đồn mới về sự xuất hiện của “ĐI.COM.” Chưa ai dám khẳng định là mình đã nhìn thấy “ĐI.COM,” nhưng tất cả các chính phủ, các phương tiện thông tin đều không thể trấn an dân chúng thoát khỏi sự hoang mang... (...)
 
ĐI.COM [2] (tiểu thuyết) - Nguyễn Viện
... Chúng ta còn đầy một thế kỷ trước mặt. Và chúng ta sẽ phải khóc trước ĐI.COM. Tôi đã biết gì về ĐI.COM ở thời điểm năm 2005 khi ĐI.COM chưa xuất hiện? Tại sao tôi lại hỏi? Tại sao tôi buột miệng nói ra? Tôi không hiểu được khi viết những dòng này người tôi lại ớn lạnh... (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018