thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Thơ như là con đường

 

Thơ là con đường. Con đường khởi từ chữ “tìm học”.
Khổng Tử: Ta 15 tuổi để chí vào việc học, 30 tuổi trụ vững, 40 thì hết ngờ...

 

1.

Mở mắt chào đời, cái tôi được ban tặng cả thế giới. Cái tôi nhìn khắp xung quanh: thấy cái gì cũng lạ, bắt gặp cái gì cũng hỏi, cũng đòi được biết. Mọi người luôn tư thế chiều chuộng cái tôi: cha mẹ, anh chị, thầy dạy... Cái tôi như thể là rốn của vũ trụ. Sự vật, con người nuông chiều tôi, còn cái tôi thì không! Đôi lúc cái tôi bị cưỡng lại: mỗi khi ý thích không thể được đáp ứng, thế là cái tôi bỏ cơm, cái tôi khóc, cái tôi lăn lộn vòi. Chỉ với mục đích được cung phụng tốt hơn nữa! Cái tôi lại được tiếp tục phục dịch, cùng bao lời dịu dàng, ánh mắt trìu mến đầy cảm thông: trẻ con mà, bỏ qua cho nó.

Nhưng rồi đột nhiên cái tôi nhận thấy đòi hỏi của nó ngày càng bị thu hẹp, các đáp ứng thưa dần; chẳng những thế, đôi khi nó còn bị yêu sách ngược trở lại: nắm đuôi cày một buổi thay anh, đạp xe qua làng bên mua thùng nước mắm giúp mẹ... Một hôm cái tôi hãnh diện được cha cho ngồi ăn chung mâm cơm. Soi gương, hắn tò mò rờ hàng ria mép lún phún mọc từ hồi nào không biết. Và lạ quá, sáng nay lơ ý đụng vào cánh tay cô láng giềng quen thân, sao hắn chợt nghe máu trong người nóng ran! Ra đường, bọn làng bên châm hắn Hời nhome, hắn bỗng khựng lại, chứ không cười toe toét rồi ném lại tiếng chọc Jơk, như trước.

Cái tôi biết nó là con trai, hiểu nó là Chăm. Hắn đã ... lớn!

Thế là những tại sao đột ngột xuất hiện. Tại sao? Tại sao? Trùng trùng tại sao dồn dập ùa đến. Tại sao thế này mà không thế kia? Tại sao cái tôi sinh ra trong gia đình nông dân này tại làng quê nghèo nàn khô cằn này trong đất nước ngày đêm không ngớt tiếng bom đạn này? Tại sao cái tôi không là Kinh hay Hoa hoặc Pháp mà là Chăm? Và Chăm là gì? Hắn khởi sự tìm biết, nhưng càng học sự hiểu hắn càng mù mịt. Hắn bắt đầu làm lang thang. Càng đi thì tâm thức càng mờ mờ nhân ảnh. Cái tôi hết còn là rốn của vũ trụ. Hắn lơ mơ hiểu mình chỉ như hạt cát nhỏ nhoi lăn vô danh nơi cù lao giữa trùng khơi thẳm kia, và còn tệ hơn thế, có lẽ! Hắn mong manh quá! Mong manh đầu tiên và cuối cùng. Rồi cũng bất ngờ không kém, hắn khám phá rằng hắn sẽ chết – cái chết không thể cứu vãn, xảy đến lúc nào đó bất kì. Hắn đứng cô độc, chơi vơi không nơi bấu víu. Hắn thấy hắn đang rơi, rơi và trôi vào khoảng trống không, “vô sở trụ”. Hoang mang vồ lấy hắn.

 

2.

Một trong những cảm thức trọng yếu nhất của con người là biết mình sẽ chết!

Trực cảm con người là những sinh thể li ti yếu đuối dễ bị quét sạch khỏi mặt đất trần gian cũng rất bấp bênh có thể nát bấy bất cứ lúc nào khi đụng phải một trong muôn ngàn hành tinh khác giữa vũ trụ, ta nghe sinh thể ấy yếu ớt biết bao! Trực cảm thế giới vô tình, tự nhiên vô tình sẵn sàng dẫm qua mọi nỗ lực của con người, mọi thành tựu của các nền văn minh, ta nghe chán nản, bất lực và, thấy cuộc sống phi lí biết bao!

“Cảm thức xao xuyến (l’angoisse), là một khám phá lớn của triết học thế kỉ XX. Các triết gia hiện sinh cho rằng: trong sâu thẳm tâm hồn con người chúng ta có nỗi xao xuyến nền tảng, một khoảng trống nơi mà tất cả những hình thái âu lo và bất an tuôn trào (... ). Nỗi xao xuyến đó thình lình đến khi chúng ta đang mơ màng, tách lìa thế giới; chúng ta vùng thức giấc giữa đêm tối (... ). Thường chúng ta cố tránh né kinh nghiệm này vì nó gây đau đớn và chia xé (... ). Phật giáo cho rằng không bao giờ chúng ta có thể sung sướng, hạnh phúc trước khi chúng ta chiến thắng được nỗi xao xuyến nền tảng này... ”. (Edward Conze, Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật , Nguyễn Hữu Hiệu dịch, Đại học Vạn Hạnh xuất bản, 1969, tr.43).

Khi khám phá/cảm nhận sự kiện trọng yếu này (rất hiếm hoi, chỉ con người khuynh hướng trầm tư mới may mắn [hay rủi ro] giáp mặt), người ta có những hành vi lạ lẫm khó lường, đột ngột như một cú gẫy trong cuộc sống. Chối từ ngai vàng như Tất Đạt Đa, nhảy cầu sông Seine hay tìm đến chai thuốc độc như biết bao con người vô danh chớp mắt lướt qua mặt đất, hay ôm bom lao vào đám đông hệt bọn khủng bố, hoặc lang thang vô định như Bùi Giáng... Một số ít may mắn hơn, được trời phú tố chất nhất định, đã vượt thử thách tâm linh này. Để trở lại làm con người bình thường.

Hắn không có được may mắn đó. Hắn rời bỏ giảng đường. Hắn cạo đầu đi tu. Hắn chạy trốn “nó” bằng nhốt mình vào nghiên cứu ngôn ngữ, văn học. Lần nữa, hắn cố tìm giải thoát qua điệp điệp pho sách triết học cổ kim đông tây. Vẫn cứ bế tắc. “Nó” lù lù đó, cái “angoisse” ấy. Không tông giáo nào có thể cứu vớt hắn. Không hệ thống triết học nào.

Lớn lên,
tôi đụng đầu với chiến tranh
tôi cụng đầu với cơm áo, hiện sinh, hiện tượng
tôi chới với giữa dòng ngữ ngôn hoang đãng
rồi cuộn chìm trong thung lũng tình yêu em.
 
Tôi đánh rơi thế giới và tôi lạc mất tôi
tôi lạc mất điệu đwa buk, câu ariya, bụi ớt
trái tim đui
tôi như người bị vứt
rớt giữa cánh rừng hoang trụi lá mùa xanh.
                                   (Inrasara, Tháp nắng, 1996)

Khủng hoảng tinh thần đe dọa ném hắn vào vực thẳm của bất an và bất lực, nguy cơ đẩy hắn tiêu tán vào thế giới-người ta! Thứ khủng hoảng mà bất kì con người thiên hướng suy tưởng nào cũng phải kinh qua. Kéo dài suốt thời trẻ – tuổi tìm học. Suy tư trên bình diện lịch sử Tính thể, đó là nỗi thiếu Quê hương nơi tâm hồn con người.

“Nỗi thiếu Quê hương trở thành định mệnh của hoàn cầu. Chính vì thế, sự thiếu vắng đó cần phải suy tư trên bình diện lịch sử của Tính thể. Như vậy, điều mà khởi từ Hegel, Marx đã truy nhận theo một nghĩa tinh yếu và quan trọng như là sự vong thân của con người, điều ấy cắm rễ thật sâu trong nỗi thiếu Quê hương chung của con người thời hiện đại”. (M. Heidegger, Letter on Humanism, bản dịch của Frank A. Capuzzi, trong Basic Writings, Harper, SanFrancisco, USA, 1977, p. 219).

 

3.

Hắn trôi dật dờ vô định. “Không có quê hương trong thời gian” – nói như R.M. Rilke. Cho đến một ngày kia, sau 15 năm tha hương lưu lạc “tìm học”, như từ cơn mơ ngủ quen thuộc kéo dài, hắn kinh hoàng vùng thức giấc: Quê hương như vừa ẩn hiện phía bên kia khói sương chiều.

Hắn đi trở về với cuộc sống, với cõi người. Hắn nhìn thế giới hoàn toàn bằng con mắt khác: thấy núi là núi, sông là sông... Hắn thấy cuộc sống đáng sống làm sao, những khuôn mặt người đáng yêu làm sao, các công việc dẫu bé con cũng rất đáng gánh vác! Hắn không muốn buông xuôi, bỏ cuộc nữa. Hắn hiểu vạn sự tồn tại đều có lí do. Mỗi sinh thể có mặt đều có nguyên nhân. Mỗi tác phẩm, mỗi hành vi, mỗi dòng chữ... Hắn biết cuộc sống vô nghĩa, nhưng hắn phải làm cho nó trở thành nặng chĩu và đầy tràn ý nghĩa! Hắn nghe nhẹ hều vài thành tích bé con hư phù hắn từng giành được nơi cõi người quá phù du này. Con người không hiện hữu trong CÓ, mà là ở LÀ. Ý hướng chiếm đoạt càng cao, sở hữu – tiền của, địa vị, bằng cấp, chức tước... – càng nhiều thì con người ngày càng bần cùng, càng xa rời bản lai diện mục mình hơn bao giờ. Hơn thế, chính nỗi phong nhiêu của CÓ khiến con người tự đánh lừa làm nguy cơ khuất lấp ý thức tự phản tỉnh. Hiểm họa lớn hơn: khi con người đòi muốn CÓ quê hương, muốn sở hữu chân lí, thứ quê hương/chân lí như một đồng hóa chủ thể với tư tưởng biểu tượng, chỉ là hình ảnh phóng dọi của cái Tôi, không hơn kém gang tấc. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan hay cuồng tín ý thức hệ có đất nẩy nở và khuếch trương thế lực. Bạo động bắt tay thù hận phát sinh và bành trướng đến vô cùng.

Như vậy, việc khám phá ra định mệnh ấy (nỗi thiếu Quê hương) và học chấp nhận nó (hiện thực như là thế), là hành động cao tuyệt nhất của mỗi thi sĩ.

Con không thể chọn làm đứa con tổng thống Pháp hay
                  cháu đích tôn quốc vương Brunei
con không thể chọn ra đời ở Thái Lan hay Mĩ quốc
con là Chăm ngay ban đầu vỡ ra tiếng khóc
(còn hơn thế: chín tháng mười ngày trước khi vỡ tiếng khóc)
khi con cắm rễ nơi đây
hay khi con lang bạt tận cùng trời
con cứ là Chăm cả lúc cháy lên cùng ngọn lửa cuối đời.
                                   (Inrasara, Lễ tẩy trần tháng Tư, 2002)

Quê hương ở đây không dính dáng gì đến chủ nghĩa dân tộc, cũng chẳng phải là tổng số bản sắc dân tộc các loại biện biệt với cái khác nó, một quê hương bị đóng khung trong dân tộc tính tưởng tượng với muôn ngàn hệ lụy triền phược. Quê hương phải được hiểu là nhà. Nhà mình, như là cái gần gũi thiết thân. Cùng vạn sự vật tương liên với cái nhà – chấp nhận nó, và yêu thương nó. Khi hiểu như thế, hắn “trở về” sống chung với người xung quanh, với thế giới sự vật xung quanh. Không thể chọn lựa. Cuộc sinh nhai cơ cực này là của tôi, miền đất mút mùa thiếu mưa thừa gió này, đám trẻ bụng ỏng này, đôi mắt buồn của cha và nụ cười gầy của mẹ, cánh bạn học bữa đực bữa cái này, đồi tháp chỏng chơ phơi mình dưới nắng lửa chìm khuất sau bóng dáng nền văn minh chỉ còn là huyền thoại này, những ciet sách bỏ hoang này. Tất cả là của tôi. Và ... cả thứ ngôn ngữ đang làm hoang đãng kia trong thế giới này nữa! Tôi cần học yêu nó, hằng ngày!

 

4.

Thơ ca không phải là cái đẹp thêm vào cuộc sống, của trang điểm cho tính thể con người, càng không phải là trò nhàn đàm của và cho tinh thần mệt mỏi. Ở đâu và bất kì thời đại nào cũng tồn tại bao tâm hồn đau khổ và tuyệt vọng. Chính nơi đó thơ ca có mặt. Có mặt không với tư cách chiếc bè cho sinh thể kia bấu víu mà như chất xúc tác làm cháy lên trong tâm hồn bóng tối ấy tia lửa mới của hi vọng. Như thế, xã hội tính bao giờ cũng là một trong những yếu tính của thơ ca, dù xã hội đó là sự thống khổ của cả đám đông, nỗi ưu tư của một nhóm người hay chỉ là uẩn khúc trong tâm thức của một cá thể biệt lập. “Không vỗ ngực, không tranh hơn / không trốn chạy trước phận đời thất bát / câu thơ buồn / luôn có mặt nơi khổ đau có mặt” (Inrasara, Hành hương em, 1999).

Bóng tối nhất thiết thuộc về sự vật. Nó là một phần của sự vật. Nó còn quan trọng hơn ánh sáng, vì nó đi trước ánh sáng. Tuy thế, cái làm nên ý nghĩa là nỗ lực vươn ra ánh sáng. Vươn ra ánh sáng nhưng luôn lưu giữ bóng tối sâu thẳm như là nền đất qua đó nó thúc đẩy con người ý thức vươn vượt.

Vươn ra nhưng vẫn còn lưu giữ. Vươn ra và lưu lại. Như là ra đi mà vẫn còn ở lại. Quá trình co kéo này có mặt thường trực nơi tâm thức kẻ sáng tạo. Đau đớn và bất trắc cực độ. Chính nơi khoảng giữa chênh vênh này, thi sĩ buộc phải cư trú. Cư trú trong vùng biên chông chênh này, hắn lên đường thám hiểm mọi ngõ ngách tâm hồn mình và tâm hồn người cùng thời. Hắn cố gắng nói lên tiếng nói quyết liệt của mình.

Do đó, đừng đòi hỏi mọi sự mạch lạc và sáng sủa ở thơ ca. Tệ hại không kém là khuynh hướng tự khuấy đục làm ra vẻ sâu thẳm của dòng nước cạn. Sức hấp dẫn của thơ không chủ ở bề nổi nơi tất cả được bày ra giữa ban ngày mà chính là ở đường biên ẩn khuất của đêm sáng huyền nhiệm, nơi cuộc chiến trong tâm hồn con người còn nóng hổi hơi thở.

Đó là bước khai phá dè dặt đầu tiên, khi tôi mới lờ mờ ý thức định phận mình như một thi sĩ, vào mùa hè năm 1999. Tôi thử lần bước vào không khí thơ đang xảy ra quanh tôi. Thơ hôm nay đang đi theo những nẻo đường riêng và có định phận riêng của nó. Có khuôn mặt thơ sinh ra trong khoảng sáng dễ dãi và đã dễ dãi chấp nhận nó, bám cứng lấy nó. “Thơ xuôi tay như nước chảy xuôi cầu” (Chế Lan Viên). Có người thơ trẻ nuôi hoài vọng làm nhà kĩ thuật hậu thời. Bày biện, xếp đặt, kết hợp, uốn vặn con chữ như là trò luyện đan ngôn ngữ với hi vọng một ngày đẹp trời nào đó bật lên thứ hoa tâm linh ngẫu nhĩ. Nhưng làm sao có thể cách tân thi ca khi ta còn chưa kinh qua cuộc nổ lớn nơi tâm thức? Chưa bị những mảnh vụn của cuộc nổ vùi dập đồng thời nâng đỡ và hối thúc anh lên tiếng nói?

Không hiếm người trẻ tuổi dũng cảm lặn sâu xuống đáy thẳm bóng tối và cố gắng trồi lên. Rồi, vì nóng vội muốn bày ra ánh sáng chồi biếc còn non tơ, nên khi vừa giáp mặt với tia nắng nhiệt đới đầu tiên, nhúm lá nõn kia tức khắc bị đốt cháy tàn lụi. Hoặc kiêu hãnh muốn cất lên tiếng nói lạ biệt vừa bắt gặp từ cuộc khai phá. Quá lạ biệt, quá kiêu hãnh để rồi nhận lấy ngay sau đó bao phản hồi của cơn lũ cái nhìn ái ngại kẻ cả, hay chụp mũ thô bạo. Hãi sợ, tiếng nói chợt co rúm vào vỏ sò cô độc hay, muốn có mặt – đã vội vã giải giáp, trở lại nói năng nhỏ nhẹ trên con đường mòn.

Những số ít luôn luôn đứng vững.

Sẵn sàng gây hưng phấn và tin tưởng. Những sinh thể tự giú mình thật lâu giữa đêm tối vô danh. Chờ đợi trong câm lặng ẩn mật, hoài thai và tự chín. Để đến một giây phút định mệnh, hiển lộ. Từ từ, khỏe khoắn và chắc chắn. Như mặt trời nhô lên khỏi chân trời. Cháy sáng đồng thời mang ánh sáng soi chiếu các sinh thể sẵn lòng đón nhận. Dù sinh thể đó chỉ là một cá thể dị biệt, một nhóm người hay cả một đám đông rộng lớn.

Và, bao giờ cũng là ánh sáng.

 

5.

Suy tư khởi động lãng đãng như thế vẫn còn chưa chạm tới đáy bản thể của thơ ca và ngôn ngữ. Khi gió mùa thổi bạt tôi quay trở lại quê nhà vào mùa thu năm đó, tôi bắt gặp tiếng nói khẩn thiết của sông Lu. Sông Lu dạy tôi nói bằng ngôn ngữ của suối nguồn.

Đến Phan Rang xóm làng đã ngủ
riêng dòng Lu thức, đi không nguôi
hành trình tìm một ban mai khác.
 
Buồn trở giấc
lúc gió mùa ngái ngủ
không lời, tôi bơi ngược bình minh.
 
Dấu hỏi mọc cùng nỗi buồn
lớn dậy trên bước chân câm lặng
mở hữu hạn tôi vào vô hạn.
 
Còn ai nghe tiếng hát
sáng mai ?
khi sông Lu gặp tôi nơi nguồn suối
róc rách về ngôn ngữ sạch trong.
 
Khi sông Lu ẩn cư miền sa mạc
còn ai nâng chông chênh tiếng hát
sớm mai?
                                   (Inrasara, Hành hương em)

Ngôn ngữ là ngôi nhà của Tính thể. Tư tưởng gia và thi sĩ là kẻ mục tử canh giữ ngôi nhà đó (M. Heidegger). Thi sĩ tồn tại qua, bởi và cho ngôn ngữ dân tộc. Không thể khác. Dù cho đó là thứ ngôn ngữ chịu phận thiểu số tới đâu, bị bỏ rơi hay quên lãng từ bao đời đi nữa. Nó là của hắn. Định mệnh hắn quy thuộc vào nó, sáng tác phẩm của hắn vĩ đại hay nhỏ bé, sống đời hay yểu mệnh cũng bởi nó.

Nhưng đâu là ngôi nhà Chăm cho hắn làm cái nhiệm vụ canh giữ!? Trong lúc mái tranh kia đang bị dông gió của thời gian cùng bão tố của lòng người làm thất tán khắp nơi? Nhìn vào bảng thống kê tỉ lệ từ tiếng Việt đang độn vào tiếng Chăm trong trao đổi ngày thường, tôi nghĩ trái tim chai cứng đến đâu cũng xót xa:

     – Lứa tuổi 20 – 35: 40 – 50%.

     – Lứa tuổi 35 – 50: 30 – 40%.

     – Lứa tuổi 50 – 70: 25 – 35%.

     – Lứa tuổi trên 70: dưới 20%.

Tiếng Chăm ngày càng bị phủ bụi, lai tạp và đang đứng trước nguy cơ trở thành tử ngữ. Chính thi sĩ là kẻ mang sứ mệnh canh giữ, phủi bụi, tắm gội và làm mới ngôn ngữ. Nhưng lúc này, nhìn tới nhìn lui, còn ai sáng tác bằng tiếng Chăm, sáng tác theo nghĩa uyên nguyên của sáng tạo? – Không ai cả! Và đâu thế hệ độc giả có thể tiếp nhận các sáng tác mới? Đáp lại câu hỏi nhiệt tình kia vẫn là tiếng vọng không. Cả nền văn học Chăm hình thành suốt 17 thế kỉ cũng đang bị bỏ ẩm mốc hay chưa được khai hoang đúng mức nữa là!

Thế là hắn phải đi, làm cuộc trở về. Nhưng từ đây hắn hết còn lang thang không phương hướng, mà lên đường như thể một phiêu lưu mới: phiêu lưu ngược vào lòng ngôn ngữ dân tộc. Đây là biện chứng của ra đi và ở lại, đi mà định; của chuyển dịch và thường hằng, dịch mà hằng. Là cuộc phiêu lưu ngàn lần gian nan hơn, bấp bênh và dễ sa sẩy hơn. “Không chỉ đường trở về chúng ta còn làm quen với khuôn mặt quê hương / không chỉ bước tha phương chúng ta phải yêu thương con đường-bóng tối... ” (Inrasara, Tháp nắng). Đó là đường trở về, trở về tắm gội tận suối nguồn của bản thể:

Một câu tục ngữ – một dòng ca dao
nửa bài đồng dao – một trang thơ cổ
tôi tìm và nhặt
như đứa trẻ tìm nhặt viên sỏi nhỏ
(những viên sỏi người lớn lơ đãng dẫm qua)
để xây lâu đài cho riêng mình tôi ở
lâu đài một ngày kia họ ghé đụt mưa – chắc thế!
                                   (Inrasara, Tháp nắng)

Nhưng làm thế nào có thể gọi sự vật đúng tên khai sinh sự vật, với vốn ngôn ngữ nghèo nàn như thế? Và đâu là chất kích thích sáng tạo, với khoảng đón đợi vô tình như thế từ phía người đọc vô hình? Các câu hỏi loại này nói lên sự thể người hỏi vẫn còn mắc kẹt phía bờ này chân trời của kẻ thiếu Quê hương. Chưa đáo bỉ ngạn thơ ca! Một thi sĩ cư trú và canh giữ ngôn ngữ dân tộc không “chê” ngôn ngữ đó nghèo nàn hay giàu sang. Bởi biết đâu, chính sự giàu sang của ngôn ngữ bạn đang che giấu nghèo nàn bên trong nó, một giàu sang không gì hơn tố giác nỗi sa đọa ngôn ngữ của người sử dụng. Sự chộn rộn đầy nôn nóng của người làm thơ hôm nay trong sự giàu sang-nghèo nàn của ngôn ngữ thơ ca đang làm cho nỗi sa đọa kia lộ thiên đồng thời che khuất chân tướng của nó. Đã không ít thi sĩ rời bỏ bổn phận canh giữ ngôi nhà của Tính thể, mà chỉ lo chạy vạy cạnh tranh tăng giá thương hiệu trước công chúng, tự hiến mình làm nô lệ cho đám đông thụy du. Thế hệ thi sĩ thiếu Quê hương bị cuốn phăng vào cuồng lưu ngôn ngữ sa đọa, để cuối cùng chịu thao túng và trôi giạt cùng đám mảnh vỡ của vô số phương tiện truyền thông đại chúng. Họ tự vuốt ve và vuốt ve nhau trong nỗi khốn cùng của kẻ mất nhà, không nơi nương tựa.

Vẫn còn là chưa đủ! Thi sĩ hậu hiện đại đang chịu một thách thức nghiêm trọng và bức bách hơn.

 

6.

Tuyên bố khai tử Thượng đế, F.W. Nietzsche quyết đảo ngược tất cả giá trị từng hiện hữu trước đó để thiết lập bảng giá trị mới. Thế nhưng – nói như M.Heidegger – đảo ngược siêu hình học vẫn cứ là siêu hình học. Con người vẫn cần một cái gì đó để tin vào, một cái gì đó đều bị quy định bởi một lối giải thích nào đó, nghĩa là cứ ở lại trong chân trời của ngôn ngữ tiền tưởng. Sau cái chết của Thượng đế, con người hiện đại đặt trọn niềm tin vào Lí tính và Sự thật. Rồi suốt cả thế kỉ, nhân loại quay cuồng trong hỗn mang của trùng trùng “giải thích” và hệ thống. Để chính những giải thích và hệ thống đó đẩy loài người rơi vào vực thẳm khốn cùng và tuyệt vọng. Chủ nghĩa hư vô (nihilism) lan tràn. Từ tuyệt đối tin tưởng vào Lí tính, con người không còn tin cái gì cả! Thế là khủng hoảng! Chối từ đại tự sự, chủ nghĩa hậu hiện đại quyết đẩy sự khủng hoảng đến tận đầu mút bên kia của hỗn mang, hi vọng tìm một lối thoát khả dĩ.

Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ
Liễu ám hoa minh hựu nhất thôn.

Hậu hiện đại và hư vô chủ nghĩa phân cách rất mong manh tơ trời. Chối bỏ lề thói tiệm tiến rù rì nhích từng bước sang bờ bên kia – quá diệu vợi, mơ hồ và siêu hình, Hậu hiện đại sử dụng mọi chất liệu cận tay có sẵn trong sinh hoạt thường nhật, như là một lối đi tắt, thẳng để đạt đến thực tại như thực, siêu vượt nỗi vong thân. Hậu hiện đại trong văn học-nghệ thuật có thể ví như Thiền trong truyền thống Phật giáo. Thiền sư vận dụng mọi phương tiện thiện xảo: la hét, chẹt cửa, đánh bằng hèo, nói tục nói phét... với mục đích tối hậu là đưa kẻ mê sang bến giác, ngay tức thì; nhưng muốn chạm mặt cái sát-na ngay tức thì ấy, người tu tập cần kinh qua mấy tầng khổ luyện. Còn Thiền “giả” vẫn có thể kêu yếu chỉ của đạo Phật là cọc phân khô (càn thỉ quyết – Lâm Tế), nhưng loại phân đó khô vẫn hoàn khô! Hậu hiện đại cho phép nghệ sĩ sáng tạo sử dụng mọi chất liệu, xáo trộn mọi phong cách, lắp ghép mọi vật làm sẵn... Thế nhưng nếu sản phẩm của anh/chị không đạt mục tiêu cuối cùng là hiệu quả nghệ thuật, chúng chỉ là trò chơi vô tăm tích của hư vô chủ nghĩa, không hơn (Inrasara, “Khủng hoảng như được tín hiệu tốt lành”, Tham luận tại Hội thảo Mĩ thuật Việt Nam 20 năm đổi mới – Hà Nội, 05.2007).

Thơ trẻ hôm nay đã bước đi trên cửa hẹp chông chênh ấy, có lẽ.

Viết, trong một nền thơ ca thành thật đầy giả tạo, bằng thứ ngôn ngữ giàu sang một cách nghèo nàn, giữa một dòng văn chương trịnh trọng già nua nhưng không chịu chết, vài nhóm thơ trẻ nhất tề đứng lên làm loạn.

Nhóm Ngựa Trời và hàng loạt nhà thơ nữ thời đại toàn cầu hóa không còn kiêng nể gì nữa, họ đột ngột nổi dậy và bung phá, tự do thể hiện cái Tôi chủ quan của mình. Như thể phản ứng bột phát ở giai đoạn sơ khởi, khi họ khám phá ra rằng mình là một nửa của thế giới! Không cứ mãi chịu phận tòng thuộc dưới bóng chế độ phụ quyền qua sự áp chế của chủ nghĩa duy dương vật. Trong nghệ thật [và cả trong cuộc sống], tất cả đều được phép. (Inrasara, “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố 'nữ'”, Talawas.org, 18.04.2006 và tạp chí Nhà văn, tháng 03.2007)

Nhóm Mở Miệng quyết liệt và cực đoan hơn nữa! Họ tuyên bố khắp nơi cái nỗi “không làm thơ”! Họ đập phá và đảo lộn mọi ranh giới phân cách ngoại vi/trung tâm, từ ngôn ngữ thơ đến quan điểm sáng tác hay định kiến cố hữu về cái gọi là chất thơ, cả dạng thức hiện hữu của một văn bản tác phẩm văn chương như lâu nay bao nhiêu thế hệ cha ông từng nhìn nhận. Là những điều chưa từng xảy ra trước đó trong truyền thống văn chương tiếng Việt. (Inrasara, “Khủng hoảng thơ trẻ Sài Gòn”, Tham luận tại Đại hội Nhà văn Tp.HCM, 03.2005 và Tienve.org, 17.03.2005).

Tương lai thuộc về chúng tôi, các nhà thơ thế hệ mới có toàn quyền tự tin tuyên như thế! Thế nhưng, giữa lòng khí hậu văn chương Hậu hiện đại, bên cạnh nỗ lực vươn vượt của thi sĩ chân tính, các món cách tân hay cách mạng giả hiệu nẩy nở và bành trướng, là không thể tránh. Bởi ranh giới thật/giả tế vi khó biện biệt. Ngay từ những năm 80 của thế kỉ trước, J.F. Lyotard đã chỉ ra xu hướng hậu hiện đại giả hiệu mà ông gọi đó là chủ nghĩa phản-hiện đại (anti-modernist), những kẻ lớn tiếng kêu đòi chấm dứt mọi thử nghiệm trong văn chương!

Bất ngờ trước quá khích của “bọn trẻ”, nền văn chương nếp nhà đã có phản ứng, như nó phải thế. Thế nhưng, ý định dẹp bỏ hay phủi tay từ chối nó thì không gì dễ hơn. Bởi, không có sự phủ nhận hay phản bác nào hiệu nghiệm bằng khai mở thực chất của vấn đề. Tôi đã thử đi vài bước khởi động như thế, để dò tìm nguyên động lực và nhất là lật mở mạch ngầm triết học đã sản sinh loại thơ ấy, thời gian qua.

 

7.

Như thế vẫn còn chưa đủ. Giữa cõi hỗn mang kia – và tạm dẹp qua bên thái độ hư vô chủ nghĩa vô trách nhiệm cùng các sáng tác phẩm thứ cấp mang tính học đòi –, cho dù thế hệ nhà thơ Hậu hiện đại thu hoạch những thành tích chói lọi làm phong phú văn chương bao nhiêu chăng nữa, một câu hỏi cấp thiết hơn bao giờ hết vẫn phải được nêu lên: Cơ đồ lớn lao, sự nghiệp vĩ đại mà chi, khi chúng ta vẫn còn chưa vượt thoát khỏi nỗi sợ hãi căn nguyên đẫm thú tính? Và nhân loại, họ cư trú và sống như thế nào giữa lòng thời đại khủng hoảng, trước đe dọa của vũ trụ vô tình, trong nỗi thiếu Quê hương ngày càng nghiêm trọng? Cuối cùng: Thi sĩ – làm gì, để một lần nữa đưa thơ ca vượt qua nỗi giàu sang vô độ của nền văn chương đương đại, từ đó tiếp cận với cõi miền uyên nguyên của ngôn ngữ.

Ví tự quảng bá tên tuổi, tuổi trẻ chỉ làm nô lệ cho đám đông dễ thay đổi. Còn tuyên bố sản phẩm mình là rác, thi sĩ chỉ mới dừng lại ở ngưỡng phản ứng và phản kháng. Khi sự phồn vinh giả tạo của thế giới đang đẩy con người ngày càng xa rời bản thể giản đơn của thực tại, mải bơi vô căn giữa vũng vô minh của thứ ngôn ngữ giả trá, thi sĩ làm gì? Trước tiên và trên hết, bên cạnh tri nhận phản kháng chỉ là một hành động khởi sinh từ ý hướng dứt áo lên đường tìm cầu, chúng ta cần phải khám phá ra rằng con người đang bị trục xuất khỏi Quê hương, đúng hơn – Quê hương che giấu con người thời hiện đại ánh sáng soi rọi đường trở về của nó. Trục xuất, nhưng Quê hương luôn vẫy gọi đứa con lưu lạc.

Bổn phận của thi sĩ là canh giữ ngôi nhà của Tính thể: ngôn ngữ. Nhưng ở hôm nay, thi sĩ của ngày hôm nay, có ai thức nhận sâu thẳm sự thể đó và tự nguyện dâng tặng mình cho công cuộc nặng nhọc đó chưa?

Không ít bạn trách tôi mất giờ cho thơ tiếng Chăm
có bao lăm kẻ đọc? Rồi sẽ còn ai nhớ?
nhưng tôi muốn lãng phí cả đời mình cho nó
dù chỉ còn dăm ba người
                  dù chỉ còn một người
                                   hay ngay cả chẳng còn ai!
                                                    (Inrasara, Tháp nắng)

Lối nói to này dễ tạo ngộ nhận là một thể cách gây chú ý. Nhưng không! Đấy là tâm thế “trụ vững”, của tâm hồn thi sĩ kiên trì bất thối chuyển trong sử mệnh mục tử của mình: chăn giữ ngôn ngữ. Khi ý thức minh nhiên bổn phận, người mục tử kia hoàn toàn không quan tâm đến cái nỗi mình đã vang tiếng hay còn chìm trong vô danh, không phân tâm trước vô số ống kính thông tin đại chúng chĩa vào mình!

Đây là thời đại của văn minh phương Tây. Không thể chạy trốn. Chúng ta đang thở hơi thở của siêu hình học phương Tây. Dấn bước lên con đường thơ ca, thi sĩ buộc phải đi đến tận đầu mút con đường chọn lựa. Đã từ lâu rồi, người ta không còn tin tưởng vào mọi thứ chủ nghĩa. Các trường phái văn chương chỉ có thể tạo nên trào lưu khả năng làm sôi động không khí sinh hoạt văn chương, trong một giai đoạn – rất nhất thời. Nhưng dù thế nào đi nữa, thi sĩ hôm nay cần trải nghiệm trọn vẹn hành trình thơ của nhân loại: tiếp nhận và thể nghiệm. Nhập cuộc chịu chơi, trò chơi của thế giới (le jeu du monde – M. Heidegger). Để cuối chặng đường, chúng ta làm cuộc đi xuống, tận đáy thẳm của bản thể thơ ca.

Bởi, thơ ca như là thơ ca thì không có tiến bộ. Hành trình thơ ca là hành trình đi ngược về nguồn, đến tận suối nguồn uyên nguyên của ngôn ngữ. Người mục tử chăn dắt ngôn ngữ như thể được ngôn ngữ ban tặng cho họ bổn phận chăn dắt giản đơn mà khó nhọc, đời thường nhưng tràn đầy linh thánh. Đó là quà tặng độc nhất của và từ suối nguồn. Nó mang ở tự thân lời tạ ơn cao vời sâu thẳm.

Quỳ gối trước đoá hoa dại nở đồi trưa
tạ ơn bàn tay đưa ra bất chợt
tạ ơn câu thơ viết từ thế kỷ trước
giọng cười xa, nụ hôn gần.
 
Quỳ gối trước mặt trời thức giấc mỗi sớm mai
tạ ơn chén cơm đói lòng, điếu thuốc hút dở
tạ ơn dòng sông mơ hồ chảy qua tuổi nhỏ
tên ngọn đồi, cánh rừng trong mơ chợt vang lên
tạ ơn bước chân hoang, trái tim lầm lạc.
 
Bởi không thể sống mà không tạ ơn
tạ ơn trang giấy trắng, tạ ơn dòng thơ cuối cùng chưa viết
tạ ơn không gian vô cùng, thời gian bất tuyệt
và... dẫu không là cái đinh gì cả / tôi vẫn cần thiết có mặt.
 
Vậy nhé – tôi xin tạ ơn TÔI.
                                   (Inrasara, Lễ tẩy trần tháng Tư)

Qua dấu vết tinh khôi giản đơn của ngữ ngôn được đêm sáng Quê hương soi rọi, thi sĩ trì trì đưa bước chân đi vào khoảng thanh bình ẩn mật của Quê hương, một miền trụ xứ thiết thân. Qua hành vi đi vào này, tính thể con người được tìm thấy trong chân tướng của nó, từ đó khả tính họ được phơi mở trọn vẹn, như nó vốn là thế. Khả tính này là một tặng vật. Tặng vật từ Quê hương ban tặng cho Quê hương. Để thi sĩ hát ca về con đường.

Trên đường trở về, thi sĩ và ngôn ngữ thơ ca hết lang thang lạc lõng. Họ ưu tư cho canh giữ ngôn ngữ như là sứ mệnh cao cả duy nhất mà không một lần liếc sang các lĩnh vực nghệ thuật khác đầy thòm thèm, đố kị. Thi sĩ ném mình trong vùng đêm sáng khai mở, buông xả trên con đường. Khi buông xả như thế, không phải thi sĩ an cư vĩnh viễn như thể một về vườn hưu trí mà, luôn ở tư thế sẵn sàng chịu bị đẩy rơi vào miền tối trở lại. Cắt lìa khỏi Quê hương. Sự thể gây đau khổ và chia xé. Thi sĩ mãi mãi là kẻ lưu trú nơi ngoại ô Quê hương. Một trú xứ mang tính sử mệnh.

Tương lai thế giới thuộc về hành vi cư lưu này.

 

Sài Gòn, 25.03.2007

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018