thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Y chiêm bao thấy mình đang ở trong tù...

 

Hải Ngọc dịch theo bản tiếng Anh.
Hoàng Ngọc-Tuấn hiệu đính theo nguyên tác tiếng Tây-ban-nha.

 

MARIO BENEDETTI

(1920~)

 

Mario Benedetti, sinh tại Paso de los Toros, Uruguay, là một trong những cây bút hàng đầu của châu Mỹ La-tinh. Ông đã xuất bản 8 cuốn tiểu thuyết, 7 tập truyện ngắn, 8 tập thơ, 2 kịch bản và 1 cuốn tiểu luận. Từ năm 1973 đến 1985, vì không chấp nhận chế độ độc tài quân phiệt ở Uruguay, Benedetti đã rời bỏ quê hương và sống lưu vong tại Argentina, Peru, Cuba, và Tây-ban-nha. Khi chế độ độc tài quân phiệt đã kết thúc, ông hồi hương. Sau đó, ông sống và làm việc tại Montevideo (Uruguay) và Madrid (Tây-ban-nha). Benedetti đã được trao tặng bằng Tiến Sĩ Danh Dự về Văn Chương tại các trường đại học như Universidad de la República (Uruguay), và Universidad de Alicante (Tây-ban-nha). Năm 2005, Benedetti được trao tặng giải thưởng văn chương Premio Menéndez Pelayo. Ông qua đời tại Montevideo ngày 17 tháng Năm, 2009.

 

 

Y CHIÊM BAO THẤY MÌNH ĐANG Ở TRONG TÙ...

 

Người tù đó chiêm bao thấy mình đang ở trong tù. Cố nhiên, các giấc chiêm bao cũng có những chi tiết và kiểu thức. Thí dụ, trên bức tường trong giấc chiêm bao treo một tấm bích chương in tại Paris; còn trên bức tường ở thực tại chỉ thấy một vết ố vì nước thấm. Trong giấc chiêm bao, có một con thằn lằn chạy dọc theo sàn nhà; trong thực tại, có một con chuột đang nhìn y.

Người tù chiêm bao thấy mình đang ở trong tù. Ai đó đang mát xa lưng cho y và y bắt đầu thấy dễ chịu hơn. Y không nhìn thấy được đó là ai nhưng y đoán chắc đó là mẹ mình, bà vốn là người cực thạo cái việc này. Ánh nắng buổi sớm tràn qua khung cửa sổ rộng rãi và y đón chào luồng ánh sáng ấy như một biểu tượng của tự do. Khi y mở mắt ra thì chẳng thấy mặt trời nào cả. Ô cửa sổ hẹp gắn chấn song (4 x 6 tấc) thông ra một khoảng sân nhỏ để lấy không khí, đối diện với một bức tường âm u khác.

Người tù chiêm bao thấy mình đang ở trong tù, thấy mình khát và đang tu nước đá ừng ực. Và ngay lập tức, nước trào khỏi khoé mắt y thành những dòng lệ. Y biết vì sao y lại khóc nhưng y không thể tự thú điều này, ngay cả với chính bản thân mình. Y nhìn đôi bàn tay vô dụng của mình, bàn tay trước kia đã từng tạc những pho tượng bán thân, những khuôn mặt bằng thạch cao, những đôi chân, những thân người bị trói, những người phụ nữ bằng đá cẩm thạch. Khi tỉnh dậy, mắt của y ráo hoảnh, bàn tay y bẩn thỉu, bản lề cánh cửa đã han gỉ, mạch của y đập dồn, trong phổi y dường như không có chút khí nào và trần nhà thì có những chỗ nứt.

Ngay trong trạng huống đó, người tù quyết định: tốt hơn nên chiêm bao thấy mình ở trong tù. Y nhắm mắt lại và thấy mình cầm trên tay bức ảnh của Milagros. Nhưng y không thỏa mãn khi chỉ có bức ảnh mà thôi. Y muốn Milagros bằng xương bằng thịt kia, và nàng xuất hiện trước y với nụ cười rạng rỡ trong tấm áo ngủ màu xanh da trời. Nàng sát lại bên y để y có thể cởi bỏ tấm áo ấy, và dĩ nhiên, y làm vậy. Dĩ nhiên, thân hình trần truồng của Milagros thật tuyệt vời, và y đã lặng ngắm nàng bằng cả sự hồi tưởng và niềm hoan lạc tuyệt đích. Y không muốn thức dậy nữa, nhưng y đã thức dậy, chỉ một vài giây trước khi y đạt đến cơn cực khoái ảo trong giấc mơ. Và chẳng còn có ai ở đó cả; chẳng có bức ảnh, chẳng có Milagros, chẳng có tấm áo ngủ xanh da trời. Y thừa nhận một thực tế rằng sự cô độc là điều không thể chịu đựng được.

Người tù chiêm bao thấy mình đang ở trong tù. Mẹ y không làm công việc mát xa nữa, kể cả những công việc khác, vì bà qua đời đã nhiều năm rồi. Y nhớ mẹ khôn tả, nhớ khuôn mặt, giọng hát, nhớ lòng mẹ — nơi y được bế bồng, nhớ sự vỗ về, những câu mắng và cả sự thứ tha của bà nữa. Y ôm ghì lấy mình nhưng không thấy có cảm giác tương tự như khi được ôm trong lòng mẹ. Milagros đang vẫy tay giã biệt từ nơi rất xa. Với y, nơi đó trông giống như một nghĩa địa. Nhưng không thể thế được. Nơi đó là công viên. Nhưng chẳng có cái công viên nào trong ngục, thế nên mặc dù y đang ở trong chiêm bao, y vẫn nhận thức rõ đấy chỉ là: một chiêm bao. Y cũng nhấc tay lên vẫy chào từ giã. Nhưng bàn tay y chỉ là một nắm đấm và những nắm đấm, như người ta vốn biết, có bao giờ học được cách nói giã từ.

Khi y mở mắt, cái giường xếp cũ kỹ quen thuộc bỗng trở nên lạnh toát. Run rẩy và tê cóng, y cố phả hơi thở để sưởi ấm đôi tay mình. Nhưng y không thể thở được. Đó, ở góc phòng, con chuột vẫn nhìn y; hình như nó cũng ớn lạnh như y vậy. Y cử động một bàn tay và con chuột nhích một cái chân về phía trước. Y và con chuột quen biết nhau từ lâu. Thỉnh thoảng, y còn quẳng cho nó một ít thức ăn đáng ghê tởm của mình.

Mặc dù vậy, người tù vẫn nhớ con thằn lằn màu xanh lục và rất nhanh nhẹn trong những giấc chiêm bao của y; và y tìm vào giấc ngủ để có thể thấy lại nó. Y phát hiện ra con thằn lằn đã bị mất đuôi. Một giấc chiêm bao như thế thì có đáng chiêm bao? Dẫu biết thế, y vẫn bắt đầu bấm đốt tay đếm xem mình còn lại bao nhiêu năm tù nữa: một, hai, ba bốn, và y tỉnh dậy. Còn lại sáu năm tất cả, và y đã ở tù trọn ba năm rồi. Y đếm lại lần nữa nhưng lần này với những ngón tay đã thức giấc.

Y không có đài, không có đồng hồ, sách, bút chì, cũng không có một cuốn sổ tay. Đôi khi, y lẩm nhẩm hát để tạm thời lấp đầy sự trống rỗng. Nhưng càng ngày những bài hát mà y nhớ được càng ít. Hồi bé, y cũng đã thuộc mấy bài kinh cầu mà bà ngoại dạy cho. Nhưng giờ y biết cầu nguyện với ai? Y cảm thấy mình đã bị Chúa Trời lừa dối, nhưng y lại không muốn lừa dối Chúa Trời.

Người tù chiêm bao thấy mình đang ở trong tù và Chúa Trời đến bên y; y thú nhận với Người rằng y thấy mệt mỏi, y phải chịu đựng chứng mất ngủ và điều đó làm y kiệt sức, rằng thỉnh thoảng, khi rốt cuộc, y có thể chợp mắt được, y lại gặp những cơn ác mộng, trong đó y thấy Jesus trên cây thập giá cầu xin Chúa Trời cứu giúp; nhưng Chúa Trời đang bận bịu đủ thứ và không đáp lại lời khẩn nài ấy.

“Điều tệ nhất,” Chúa Trời nói với y, “là chính ta, ta không có một vị Chúa Trời nào để giao phó mình. Ta như đứa bé mồ côi với chữ M viết hoa.”[*] Người tù thấy cảm thương cho vị Chúa Trời quá đỗi cô đơn và bị ruồng bỏ ấy. Y hiểu, bất luận thế nào, căn bệnh của Chúa chính là sự cô độc, bởi vì uy danh bất hủ, vĩnh hằng của Người — một Đấng Tối Cao — đã khiến các vị thánh, các cha dòng cũng như các cha xứ kính sợ. Tỉnh dậy và nhớ ra mình vốn là kẻ vô thần, y dừng ngay nỗi thương cảm dành cho Chúa Trời; thay vào đó, y tội nghiệp cho chính bản thân y, cho cái thân phận bị giam cầm, cô đơn và bị đọa đày trong sự ô uế và chán chường cực độ.

Sau vô số những giấc chiêm bao và những lần trằn trọc, một buổi chiều nọ, y bị lay dậy mà không phải chịu thái độ lỗ mãng như mọi khi và một tên lính canh bảo y đứng lên vì y đã được thả tự do. Chỉ đến khi cảm nhận được cái lạnh toát của chiếc giường xếp và chứng thực sự hiện diện muôn thuở của con chuột, y mới tin đấy không phải là giấc chiêm bao. Y đón nhận điều đó với nỗi ngậm ngùi, rồi y đi ra cùng với viên lính để nhận lại quần áo của y, một ít tiền, chiếc đồng hồ của y, một cây bút, một chiếc ví da, những món đồ nhỏ nhoi mà y đã bị tịch thu khi vào tù.

Không có ai đợi y ra tù cả. Y bắt đầu rảo bước trên đường. Y cuốc bộ suốt hai ngày ròng, ngủ vật bên lề đường hay giữa những bụi cây. Trong một quán nhỏ ở ngoại ô, y ăn hai mẩu bánh mì kẹp thịt và uống một cốc bia có hương vị xưa cũ, dễ nhận ra. Cuối cùng, y đến nhà chị gái mình, bà chị y gần như ngất xỉu bởi ngạc nhiên. Họ ôm chầm lấy nhau đến chừng mười phút. Sau khi khóc lóc một hồi, bà chị hỏi y định làm gì. “Giờ thì chỉ muốn tắm và ngủ, thế thôi, tôi mệt lắm,” y trả lời. Tắm rửa xong, y được bà chị dẫn lên gác mái, ở đó có một cái giường, không phải cái giường xếp bẩn thỉu mà là một cái giường sạch sẽ, mềm mại và tươm tất. Y ngủ li bì liền mười hai tiếng đồng hồ. Lạ lùng thay, trong lần ngơi nghỉ dài hơi ấy, người cựu tù lại chiêm bao thấy mình đang ở trong tù, với con thằn lằn và tất cả mọi thứ.

 

 

---------
Dịch từ bản Anh văn “He dreamed that he was in prison” của Harry Morales đăng trên tạp chí Word Without Borders, tháng 5 năm 2007. Nguyên tác tiếng Tây-ban-nha, “Soñó que estaba preso”, được in lần đầu trong Mario Benedetti, Buzón de Tiempo: Cuentos (Buenos Aires: Seix Barral, 1999).

 

_________________________

[*]Để Việt hóa, trong bản dịch này, tôi viết hoa chữ M trong từ “mồ côi”, tương đương với chữ O trong “orphan” (tiếng Anh).


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018