thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
NHỮNG BÀI THƠ TÌNH CỦA RENÉ CHAR [I]
 
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
 
 
RENÉ CHAR
(1907-1988)
 
Năm 1986, tạp chí Le Genre humain có cho ra một số chuyên đề về “Tình yêu” [số 13, tháng Giêng 1986], René Char được yêu cầu tự chọn những bài thơ tình, và rút từ tác phẩm Œuvres complètes của mình, ông đã liệt kê bảy bài thơ: “Singulier” [Arsenal] trong tập Le marteau sans maître; “Vivante demain” [Poèmes militants] trong Le marteau sans maître; “Madeleine à la veilleuse” [La fontaine narrative] trong Fureur et mystère; “L’amoureuse en secret” [Le consentement tacite] trong Les matinaux; “La chambre dans l’espace” [Poème des deux années] trong La parole en archipel; “Madeleine qui veillait” [Pauvreté et privilège] trong Recherche de la base et du sommet; và, tất nhiên bài thơ dài “thay da đổi thịt” nhiều lần: “Lettera amorosa”, tác phẩm thời thanh xuân đầy sức sống tươi mát, với những minh hoạ tuyệt đẹp của Georges Braque, mới đây nhân kỷ niệm NĂM RENÉ CHAR 2007, đã được in lại trong ấn bản in chung với Guirlande terrestre – với nhiều minh họa rất ấn tượng của Jean Arp [Poésie / Gallimard, tháng 3.2007]. Trong kho tàng thơ và thơ tình yêu của René Char, tất nhiên chúng ta thấy có nhiều hơn thế, và nếu được yêu cầu chọn thêm, người đọc chúng ta sẽ không khỏi lúng túng, nhưng chắc chắn chúng ta cũng sẽ không bỏ qua những bài như “Allégeance” chẳng hạn, hoặc “Marthe” [“em chính là hiện tại chất chồng”], hoặc “La complainte du lézard amoureux”, “La sieste blanche”... Thế nhưng phải nhìn nhận chọn lựa của tác giả là một chọn lựa cảm tính... có ý thức. Những bài đã được chọn có thể đối với nhà thơ là có vẻ như đáp ứng được một sự thôi thúc riêng tư, chứa đựng một ngọn lửa, và đã lên tiếng nói về tình yêu dưới hình thức mãnh liệt nhất, thanh khiết nhất...
 
Trong bài đóng góp cho tạp chí Europe số đặc biệt về René Char [số 705-706 tháng Giêng-Hai 1988], tác giả Nelly Stéphane viết về các bài thơ tình được nhà thơ chọn: “... Ba nhân vật ám ảnh những bài thơ ấy và có vẻ qui vào những con người riêng biệt, có lẽ nhiều hơn thế, có điều là đều được gọi là ta, em, nàng. Chúng ta không bận tâm tìm cho ra lý lịch của họ. Nếu ta là nhà thơ, em nàng có vẻ không phải lúc nào cũng vẫn là cùng một người nữ. Quả là vô ích nếu ta muốn đưa họ vào bất cứ một câu chuyện tiểu thuyết nào...”
 
 

Căn phòng trong không gian

 
Như tiếng hót của con bồ câu trong rừng khi trận mưa rào gần đến – không gian phủ bụi mưa, mặt trời ám ảnh –, tôi thức dậy rửa sạch, tôi chảy tan khi đứng lên; tôi hái bầu trời mới sáng.
 
Duỗi người nằm bên em, ta lay chuyển tự do của em. Ta là một khối đất đòi hoa của mình.
 
Có bộ ngực nào đẽo gọt rực rỡ như bộ ngực của em? Đòi hỏi tức là chết!
 
Cánh vỗ tiếng thở dài của em làm mọc những lông tơ trên lá. Phát tên tình yêu ta đóng kín trái cây của em, và uống nó.
 
Ta đang được ân huệ có khuôn mặt em mà bóng đêm của ta phủ kín niềm vui.
 
Tiếng thét ấy đẹp biết bao – ôi tiếng thét cho anh sự im lặng của em!
 
 
 

Còn sống ngày mai

 
Qua khoảng trống lớn trên tường
Ta nhận em lễ tạ ơn từ những bàn tay mùa đông
 
Ta thấy em băng qua những vòng cát trên áo giáp
Như thế hệ những kẻ u buồn băng qua sân chơi
 
Trên đám cỏ chì
Trên đám cỏ than đá
Trên đám cỏ không bao giờ đứt hơi
Bên ngoài nó sự tương đồng của những vết cháy với
      phần số chúng không bao giờ hoàn hảo
Ta hãy làm tình đi thôi.
 
 
 

Người tình giấu mặt

 
Nàng đặt bát đĩa xuống bàn và một cách tuyệt vời nàng dẫn câu chuyện người yêu đang ngồi đối diện nàng lát nữa đây sẽ nhìn thẳng vào nàng, nói nhỏ. Thức ăn này giống như lưỡi kèn ôboa.
 
Dưới gầm bàn, gót chân trần của nàng giờ đây mơn trớn hơi ấm của người yêu, trong khi những giọng nói nàng không nghe được đang ngợi ca nàng. Ánh đèn toả rối, dệt thành cuộc giải sầu nhục dục của nàng.
 
Một chiếc giường, rất xa, nàng biết, kiên nhẫn và run rẩy trong cõi lưu đày của tấm vải phủ thơm ngát, như một mặt hồ trên núi sẽ không bao giờ bị bỏ phế.
 
 
 

Điều an ủi

 
Trên những con đường thành phố có tình yêu của ta. Nàng đi đâu trong thời gian bị chia cắt chẳng có gì quan trọng. Nàng không còn là tình yêu của ta, ai cũng có thể chuyện trò với nàng. Nàng không còn nhớ ra; ai đúng ra là kẻ đã yêu nàng?
 
Nàng tìm hình ảnh giống mình trong những cái nhìn mong ước. Khoảng không nàng đi qua là lòng chung thủy của ta. Nàng vẽ ra hi vọng và nhẹ nhàng khước từ nó. Chẳng cần dự phần nàng vẫn có ưu thế hơn cả.
 
Ta sống trong sâu thẳm tình yêu như một xác thuyền trôi hạnh phúc. Nỗi cô đơn của ta không hề biết nó chính là kho báu của nàng. Trong kinh tuyến bao la nơi tình yêu ta cất cánh, sự tự do của ta đào chỗ cho mình.
 
Trên những con đường thành phố có tình yêu của ta. Nàng đi đâu trong thời gian bị chia cắt chẳng có gì quan trọng. Nàng không còn là tình yêu của ta, ai cũng có thể chuyện trò với nàng. Nàng không còn nhớ ra; ai đúng ra là kẻ đã yêu nàng và soi sáng cho nàng từ xa để nàng khỏi ngã?
 
 
 

Marthe

 
Marthe mà những vách tường cũ không thể nào chiếm đoạt được, mặt giếng nước mà nền quân chủ đơn độc của ta soi bóng, làm sao ta có thể quên được em một khi ta không cần phải nhớ lại em; em chính là hiện tại chất chồng. Chúng ta sống bên nhau mà không cần phải đến gần nhau, không cần phải tiên liệu, như trong tình yêu hai cây thuốc phiện làm ra một cây cỏ chân ngỗng khổng lồ.
 
Ta sẽ không bước vào trái tim em để giới hạn ký ức của nó. Ta sẽ không giữ miệng em lại để ngăn nó hé mở trên nền xanh không trung và sự khát khao lên đường. Với em ta muốn mình là tự do và là gió của cuộc sống đi qua ngưỡng cửa muôn đời trước khi đêm mất hút.
 
 
-----------------
“Căn phòng trong không gian” dịch từ nguyên tác “La chambre dans l’espace” trong René Char, La parole en archipel (Paris: Gallimard, 1962). “Còn sống ngày mai” dịch từ nguyên tác “Vivante demain” trong René Char, Le marteau sans maître (Paris: José Corti, 1934). “Người tình giấu mặt” dịch từ nguyên tác “L’amoureuse en secret” [Les matinaux] trong René Char, Commune présence (Paris: Poésie/Gallimard, 1978). “Điều an ủi” dịch từ nguyên tác tiếng Pháp “Allégeance” [La Fontaine narrative, 1947] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962). “Marthe” dịch từ nguyên tác “Marthe” [Le poème pulvérisé] trong René Char, Fureur et mystère (Paris: Poésie / Gallimard, 1962).
 
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018