thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Ba trích đoạn trong L’EMPLOI DU TEMPS [3]

 

Bản dịch Hoàng Ngọc Biên

 

Lời người dịch: Ba trích đoạn này là những gì còn lại trong nguyên, hay gần nguyên bản dịch [chưa đọc lại] của tiểu thuyết L’Emploi du Temps của Michel Butor, sau trận cháy ở đường Trần Bình Trọng, Saigon, tháng Năm 1975: các trích đoạn [2] và [3] nhờ đã được đưa vào Tuyển tập các nhà văn Pháp hiện đại của Hoàng Ngọc Biên, 328 trang, nhà xuất bản Trình bầy, 1969; trích đoạn đầu tình cờ được tìm thấy, sống sót trong một hẻm sâu trước vườn Tao Đàn, Sài Gòn, có lẽ nhờ Trời Phật đã khiến người bạn thân vừa qua đời của tôi là họa sĩ Nhã Bình mó tay vào một xấp giấy cũ bị mối ăn mất hơn phân nửa, một trưa tháng Sáu năm 2005. Trích đoạn cuối cùng “... em xán lạn biết bao trong bóng tối của anh!” xuất hiện trên tienve lần này bắt buộc phải dành tặng người nhạc sĩ trung hồ cầm của những hàng me Saigon: Cao Thanh Tùng.

 

 

MICHEL BUTOR

(1926~)

 

Ba trích đoạn trong L’EMPLOI DU TEMPS [3]

 

Đã đăng: trích đoạn [1][2]

 

THÁNG TÁM, tháng tám

 
Thứ Sáu 22 tháng tám.
 

Ann, anh đã không làm sao nói chuyện với em được hôm thứ Bảy; không làm sao anh gặp em được hôm Chủ nhật; hôm thứ Hai khi anh đi ngang qua trước tiệm giấy của em để đến quảng trường Hôtel-de-Ville xem ở Théâtre des Nouvelles cuốn phim chiếu về những phế tích ở La Mã, tiệm vẫn đóng cửa như mọi tuần; và hôm sau, hôm thứ Ba, khi anh từ hãng Matthews and Sons đi ra, thấy James cũng đi cùng đường với anh, cái anh chàng James bí ẩn hơn bao giờ cả, anh chàng James bên ngoài có vẻ cực kỳ ít lo âu nhất, cực kỳ ít bực bội về mình nhất, tựa như anh ta bắt đầu quên một hành vi ghê sợ và bị hỏng rồi, anh đã để cho anh ta đi trước, anh đã thấy anh ta đẩy cánh cửa kia mà anh muốn đi vào, đứng trên lề đường trước mặt gần người bán báo Evening News, anh đợi cho anh ta ra đi, nhưng em đã kéo tấm màn sắt xuống, em đi ra với anh ta từ phía trong toà nhà, em và anh ta cùng đi xa dần về phía Silver Street, và anh đã bỏ không theo nữa.

Vậy thì chỉ đến hôm thứ Tư, em Ann, hôm kia, anh mới được đợi em, sau khi nhìn James bước lên chiếc Morris đen, cho nổ máy và đi thẳng ngang trước cửa tiệm em mà không ngừng lại, chỉ đến hôm thứ Tư anh mới đến gặp em được và mời em đi ăn với anh ngày mai thứ Bảy.

Em đã có vẻ ngạc nhiên, em Ann, nhưng ngạc nhiên một cách dễ chịu, và anh đã tưởng nhìn kỹ trên khuôn mặt em, không phải cái cười của cô bán hàng nơi em, mà là một cái gì nhẹ nhàng thư thái, tựa như có một mối bất hoà phi lý lâu ngày đang tan biến, trên khuôn mặt em trong bóng tối phía trên quầy hàng, và tối hôm đó, khi tấm màn sắt được kéo xuống, chính anh đã đưa em qua Tower Street và Silver Street đến tận trạm xe buýt 24, trên quảng trường Hôtel-de-Ville, nhưng trong suốt đoạn đường em đã không nói gì cả, tựa như em đã mất thói quen đi một mình với anh, tựa như em không còn có thể nhớ lại những chữ em vẫn dùng để nói chuyện với anh trong tháng giêng kia mà anh thấy dường như sương mù vẫn bao phủ em, còn dày đặc hơn nữa, lẫn với hết những khói mù của những trận cháy vẫn tiếp diễn mấy tuần gần đây.

Ngày mai, em Ann, ở tầng lầu nhất tiệm “Oriental Bamboo”, tại bàn này, anh hi vọng thế, cạnh chiếc cửa sổ trông ra mặt tiền ngôi Nhà Thờ Cũ, tại chiếc bàn tiên tri số trời của màn đầu trong quyển Án mạng ở Bleston, dưới con mắt của vị thần da vàng, anh sẽ bày tỏ được với em nỗi cô đơn của anh và sự cần thiết có em, anh sẽ cắt nghĩa được cho em sự im lặng của anh và những sự kỳ dị, những biến chuyển đột ngột trong lối cư xử của anh, anh sẽ xé tan bức màn ngăn cách quá xa anh với em, anh sẽ hiểu đến được những suối nước sâu ngầm của lòng em, anh sẽ lại tìm thấy sự thân mật huyền diệu với em, sự thân mật mà anh đã cảm thấy được một lúc giữa sương mù tháng giêng, vào cái mùa vô cùng cô đơn lạc lõng mà ngoài đường người ta không thấy được bàn tay của chính mình dưới những ngọn đèn đường vẫn thắp sáng ngay vào giữa trưa, sự thân mật huyền diệu được cảm thấy một lúc giữa những hàng cây trụi lá của khu vườn Willow Park, được cảm thấy một lúc giữa những máy móc đứng trơ trong một căn phòng lớn của trường nha y, trước mặt Royal Hospital, trước mặt trại lính cứu hoả, ở góc Continent Street và Surgery Street.

Dạo đó anh vẫn ăn hàng ngày với em ở tiệm Sword đường Grey Street; anh bước thật nhanh từ hãng Matthews and Sons để đến đó; em xán lạn biết bao trong bóng tối của anh!

Ann, em Ann tháng giêng của anh, chính dạo đó trong năm anh ở lại đây, giữa tháng giêng, chắc là chính dạo đó em đã cho phép người em họ mang đi cuốn Án mạng ở Bleston mà anh đã cho em mượn và bây giờ em đã đưa cho James Jenkins; chắc là chính dạo đó em đã quên mất việc ấy, việc em cho người em đem sách đi một cách có lẽ là máy móc, không hề chủ ý một tí nào; chắc là chính dạo đó hơi ngạc nhiên về sự khẩn khoản của anh, em đã bắt đầu nói với anh rằng cuốn sách đó chắc chắn là em đã trả lại cho anh từ lâu, em tìm nó trong nhà chỉ để yên lòng thôi, dĩ nhiên vì em thấy em không còn nó trong tay nữa; chắc là chính dạo đó anh đã bắt đầu tin em nói đúng.

Chính sương mù tháng giêng trong đầu em cũng như trong đầu anh, sương mù vàng và thấm dần, sương mù có mùi hăng và lạnh buốt giờ đây vẫn còn toả rộng giữa chúng ta, nhưng chúng ta vẫn băng qua được cũng như chúng ta đã băng qua được dạo đó.

Anh còn nhớ, khi anh băng ngang quảng trường trước Nhà Thờ Mới, gần như không trông thấy được, giống như có một cơn đau buốt bắt đầu xoáy thủng hàm của anh; khi băng ngang quảng trường đó, quảng trường mà lúc đứng giữa trung tâm anh không thấy được bốn phía, ở đó chưa có cái gì của cửa hàng lớn bây giờ gần như đã cất xong nhô ra quá khỏi những bức tường rào dán đầy quảng cáo, không có cái gì hết, ngay cả cái sườn nhà cao ngất cân đối hồi tháng tư, trước được che kín không biết bao, và giờ đây đã khuất đi dưới lớp bọt dãi, dưới lớp đất bồi, dưới những đường viền ở các tường cột, dưới bộ mặt chết lặng, mờ đục của thành phố Bleston.

Anh còn nhớ, anh bắt đầu đi rất nhanh cho dịu cơn đau, anh bắt đầu quay lui quay tới ngoài đường phố, trong sương mù vàng và nhám, dưới những quầng sáng của ngọn đèn đường toả xuống, giống như những đàn ruồi trắng, đi tìm một nhà thuốc để mua một thứ thuốc trấn cơn đau, sau một quãng đường dài khúc khuỷu, vô ích, sau nhiều lần đi dài theo những bức màn sắt kéo kín xuống (hôm đó là Chủ nhật) dưới những đèn chữ thập đã tắt, rốt cuộc anh đi đến tiệm thuốc ở góc Tower Street và Grey Street, trước mặt “Rand’s Stationery”, đến tiệm mà phía trước người bán báo Evening News tối nào cũng có mặt.

Suốt cả đêm anh không sao ngủ được, và, sáng hôm sau, chắc hẳn khi đến hãng Matthews and Sons anh đã có yêu cầu James chỉ cho anh địa chỉ một trạm nha y, và chính anh ta đã khuyên anh đến xin chữa không mất tiền ở trường nha khoa của Viện Đại học, trước mặt Royal Hospital.

Anh còn nhớ, ông già Matthews đã liền cho phép anh vắng mặt mấy giờ còn lại buổi sáng hôm đó mà không hạch hỏi anh gì cả, nhưng với một cái nhìn thương hại có vẻ sỉ nhục; và người ta đã đưa anh vào căn phòng rộng mênh mông kia, với năm hàng ghế mỗi hàng có hai mươi cái ghế dựa của nha sĩ, kèm với những máy móc kêu vo vo, trong căn phòng đó anh đã thoáng thấy em, em Ann, vài ngày sau, anh đã bắt gặp em, anh đã thấy được nơi em nỗi sợ hãi và sự hổ thẹn, cái dáng điệu thầm kín của riêng em, sự bối rối thường vẫn được che giấu.

Ann, em Ann của anh, vậy thì làm sao anh lại có thể toan làm cho chính anh tin rằng anh chưa bao giờ yêu em thật sự?

 

 

-----------

Đã đăng:

... Chính lúc đó là lúc tôi đi vào thành phố, lúc khởi đầu những ngày tháng của tôi trong thành phố này, khởi đầu một năm mà hơn phân nửa đã trôi qua, lúc dần dần tôi tỉnh dậy trong cơn ngủ mơ màng, trong góc toa xe chỉ có mình tôi, ngồi đối diện với chỗ lên xuống, gần khung cửa kính đen bên ngoài phủ đầy những giọt mưa... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Hãy còn rất mệt mỏi vì cuộc hành trình, lại bị túi bụi với những ngày làm đầu tiên mà những công việc người ta giao cho tôi dù có đơn giản cũng vẫn là những ngày khó nhọc nhất trong năm, vì sự cố gắng phiên dịch vẫn còn đều đặn, và vì tôi còn phải làm quen với những chi tiết vụn vặt của một lề lối hành chánh mới, cho nên tối đến là tôi lại thấy cô đơn vô cùng... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018