thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Evangeline [IV]

 

Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường

 

WILLIAM FAULKNER

(1897-1962)

 

Lời người dịch:
 
Tình yêu và án mạng, tội ác và sự trừng phạt, chiến tranh, lịch sử, định mệnh... hay là “sự xâm nhập của bi kịch cổ Hy Lạp trong truyện trinh thám”.[1] Judith “Evangeline” Sutpen (sinh năm 1841), một nàng Êva tỉnh lẻ, ngây thơ trong trắng như một Thiên Thần, dù chỉ cầm trái cấm trên tay trong một khoảnh khắc — với Charles Bon (sinh năm 1929) — nàng cũng phải trả bằng một giá rất đắt, do hệ quả nguyên tội của người cha. Charles Bon là bạn đồng khoá ở đại học Mississippi với Henry Sutpen — anh của nàng — và được Henry mang về nhà nhân dịp Giáng Sinh. Nào ngờ Charles Bon lại chính là đứa con trai của một người vợ trước của ông Thomas Sutpen — cha của Henry và Judith.
 
Ông Thomas Sutpen, xuất thân là một thằng bé da trắng nghèo nàn ở miền Nam, đã vô tình biến giấc mơ Mỹ thành ác mộng. Khi còn bé, ông đã bị một tên đầy tớ da đen cản ngăn không cho vào nhà một người da trắng giàu sang. Do đó, khi lớn lên, ông muốn “thiết kế” một dòng họ Sutpen danh giá không thua các dòng họ quý phái đương thời, da trắng tinh khiết toàn hảo trăm phần trăm; và vì thế nên ông đã ly dị người vợ thứ nhất — con gái độc nhất của một chủ đồn điền mía gốc Pháp trên đảo Haiti — và vất bỏ đứa con thơ, khi Sutpen phát hiện người vợ này có vài giọt máu đen trong huyết quản. Đứa bé sẽ mang họ mẹ với cái tên Charles Bon, và sẽ trở thành dụng cụ mà định mệnh sử dụng để trả thù dòng họ Sutpen.
 
Nhưng cũng xin lưu ý độc giả về điểm đặc biệt này: định mệnh, dù có khắc nghiệt đến thế mấy đi nữa, nhân vật của Faulkner vẫn không chịu khuất phục. Họ sẽ kiên tâm lặng lẽ chịu đựng đến phút cuối cùng, như một sự chống cự bướng bỉnh, ngấm ngầm. Tuy không hẳn là, nhưng tất nhiên cũng có chứa đựng, những cảm nghĩ của tác giả, người kể chuyện vô danh trong “Evangeline”, thoạt tiên, đã cợt nhả khi nghe chuyện “con ma” trong ngôi nhà Sutpen gần đổ nát, để rồi dần đần bị cuốn hút càng lúc càng sâu thêm, và bị chi phối bởi thảm kịch của những kẻ hoàn toàn xa lạ; và độc giả cũng hoà mình, nhập xác, để cảm nhận sự đau đớn xót xa bùi ngùi đó.
 
Dù tự nó cũng đủ để làm nên một truyện ngắn đặc sắc, nhưng “Evangeline” chỉ là một phát thảo, sẽ được Faulkner thêm thắt, phong phú, phóng đại, để trở thành Absalom, Absalom! — với cốt truyện như tôi đã tóm lược ở trên — sử dụng tự sự khi thì châm biếm bông đùa, khi thì chan chứa bi thương trữ tình, được đánh giá là cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của W. Faulkner. Nếu gặp dịp, tôi sẽ trở lại với tác phẩm lừng danh này, độc sáng về cả hai phương diện nội dung lẫn hình thức: hoài bão của một cá nhân đã không lùi bước trước bất cứ một phương tiện nào, đã gạt tình cảm qua một bên, và chỉ sử dụng lý trí để thiết kế tương lai cho một dòng họ, xê dịch những cá nhân như những con cờ trên bàn cờ; sự sụp đổ hoàn toàn của công trình to tát đó tất nhiên dễ trở thành một ẩn dụ mở, sẵn sàng chờ đón mọi diễn dịch.
 
William Faulkner sinh năm 1897 tại tiểu bang Mississipi, trong một gia đình quý phái đã suy tàn vì cuộc nội chiến (1861-1865). Học vấn của ông, một học sinh không chăm chỉ ở trường, phần lớn đã được cha và chú đảm nhận ở nhà. Cùng với chữ nghĩa, Faulkner cũng được tham gia các cuộc săn bắn của người lớn trong các đầm lầy Oxford — điều này sẽ để lại dấu ấn sâu đậm trong tác phẩm của ông. Lúc trưởng thành ông đã tới New Orleans sống vài tháng. Ở đó ông gặp nhà văn Sherwood Anderson, một tác giả người miền Nam như ông. Rồi ông lên New York, sang Paris, rồi lại về Oxford cư ngụ cho tới khi ông được mời đến Hollywood làm thư ký riêng cho đạo diễn Howard Hawks.
 
Oxford, dưới ngòi bút Faulkner, sẽ trở thành Jefferson trong hầu hết các tác phẩm, trong khi huyện Lafayette — địa phận thực sự của Oxford — sẽ hoá thành hạt Yoknapatawpha huyền thoại. Miền đất bé nhỏ như một “con tem” này, “cái mỏ vàng” để ông khai thác, sẽ là vị trí lý tưởng cho những câu chuyện về miền Nam có liên quan mật thiết với lịch sử và giữa các họ tộc Sartoris, Compson, McCaslin, Snopes... Jefferson và Yoknapatawpha là biểu tượng của “miền Nam sâu thẳm”, quý phái và nông nghiệp, một trong những tế bào nguyên thuỷ của đất nước Hoa Kỳ, sẽ bị lãng quên, bị xâm lấn bởi miền Bắc công nghiệp, thô lỗ — miền Bắc đáng ghê tởm đã dùng sức mạnh để cưỡng bức, xâm nhập “thánh cung” (Sanctuary) miền Nam.
 
Tôi nghĩ tới một cuộc xâm lấn gần chúng ta hơn, một nền văn minh “miệt vườn” quý phái ở cung cách hiền từ, chân chất, nhân ái, trọng nghĩa khinh tài, một pha trộn tốt đẹp giữa nho giáo và tây học, xuất phát và triển nở dưới thời thuộc địa khai hoang, đã và đang bị huỷ diệt, cuốn theo chiều gió bởi đồng đô la đỏ vô nhân đạo. Bầu hoa hậu này, cử á hậu nọ, để che đậy cái thân hình gái điếm loã lồ lở loét nhiễm trùng của xứ sở và nhất là của một chính quyền đã mất hết nhân cách.
 
“Hãy nói cho tôi nghe về miền Nam. Nó như thế nào ở nơi xa xăm ấy? Người ta đang làm gì ở nơi đó? Tại sao người ta còn ở nơi đó? Tại sao người ta sinh sống ỏ nơi đó?”, Shreve (Shrevlin McCannon) anh sinh viên người Canada, một “kẻ xa lạ” chia phòng với Quentin Compson — một đứa con của miền Nam đang gánh chịu cái quá khứ của gia đình và cái gánh nặng lịch sử miền Nam (trong Âm thanh và cuồng nộ) — Shreve (Don trong “Evangeline”) đã hỏi Quentin (người kể chuyện vô danh trong “Evangeline”) những câu hỏi đã kể, trong một đêm đông ở Đại học Harward (1909-1914) khi cả hai đang cố lắp ráp và suy diễn từ những phần mảnh về tấn thảm kịch của gia đình ông đại tá Thomas Sutpen và tìm hiểu cái chiều sâu của lịch sử trong tiểu thuyết Absalom, Absalom!
 
Năm 1949, William Faulkner lãnh giải Nobel Văn Chương. Qua kinh nghiệm gia đình và kinh nghiệm sống, Faulkner biết rõ hơn ai hết về những mối liên hệ rất phức tạp giữa người da trắng và người da đen, giữa chủ và tớ, không hẳn phải là những liên hệ bốc lột một chiều từ trên xuống dưới. Faulkner đề tặng cuốn truyện Go Down, Moses (1942) cho bà vú già da đen của ông — có thể đã là hình mẫu của Dilsey, bà quản gia trong Âm thanh và cuồng nộ (1929), người mẹ thật sự của đám con nhà Compson: “Kính tặng ‘Mammy’ Caroline Barr, Mississipi (1840-1940) chào đời trong nô lệ, đã chứng tỏ lòng trung thành sâu sắc và không vụ lợi đối với gia đình tôi và đã bao bọc tuổi thơ tôi với sự tận tâm và một tình thương vô hạn.”
 
Nguyễn Đăng Thường

 

_____________

 

EVANGELINE

 
Đã đăng: Evangeline [I-II][III]
 

IV

 

Chúng tôi trở xuống căn bếp đắm chìm trong bóng tối, ngồi đối diện nhau. “Và ông ta sắp chết,” tôi nói. “Ông ta đã ở trong tình trạng đó từ bao giờ?”

“Độ một tuần lễ nay. Cậu ấy có thói quen hay dắt chó đi dạo ban đêm. Nhưng, khoảng tám hôm trước, tiếng chó sủa trong đêm đã đánh thức tôi; tôi mặc đồ, và lúc tới đấy, tôi thấy cậu nằm trong vườn với con chó đang tru trên đầu. Tôi mang cậu về đây, đặt cậu nằm trên giường, và từ hôm đó cậu không cử động nữa.”

“Bà đã đặt ông ấy trên giường? Bà muốn nói rằng bà đã mang ông ấy về nhà và đã mang ông ấy lên lầu một mình à?”

“Tôi cũng đã mình ên đặt Judith vô hòm. Henry không còn nặng bao nhiêu. Tôi sẽ một mình đặt cậu ấy vô hòm.”

“Chúa cũng dư biết rằng đã cận kề rồi,” tôi nói. “Sao bà không cho người gọi bác sĩ?”

Bà cụ nói lầm bầm; tiếng nói thoát ra từ một nơi không cao hơn thắt lưng tôi. “Đây là người thứ tư sẽ chết trong ngôi nhà này không cần có bác sĩ. Tôi đã chu toàn cho những người kia. Tôi sẽ chu toàn cho Henry.” Và bà bắt đầu kể lể, tại cái chỗ đó, trong căn bếp tối mờ, khi trên căn phòng bẩn thỉu kia, không ai hay ai biết kể luôn cả ông ta, Henry Sutpen đang yên tĩnh hấp hối. “Giờ đây tôi phải tự giải phóng mình. Tôi mang cái gánh nặng quá lâu rồi, đã đến lúc phải trút bỏ.” Bà lại kể chuyện Henry và Charles Bon, đã sống với nhau như anh em cho tới mùa hè năm sau, khi tới phiên Henry theo Charles về nhà. Và Henry định ở đó chơi ba tháng nhưng đã trở về sau ba tuần lễ, vì anh ta đã phát hiện một điều bí ẩn.

“Bí ẩn gì?” tôi nói.

Đêm đã xuống trong căn bếp. Khung cửa sổ độc nhất cắt một hình chữ nhật từ đêm hè trên căn vườn như rừng rậm. Dưới cửa sổ nhà bếp có một vật gì đang cựa quậy, một con thú có những bước chân êm ả và mạnh mẽ; người ta nghe tiếng sủa đầu tiên, rồi tiếng sủa thứ hai, đầy đặn hơn. Tôi bình tĩnh nghĩ thầm: “Mi đã hết thịt và tiêu rồi. Bị mắc kẹt trong nhà rồi.” Thế nhưng người phụ nữ già nua đi lại phía cửa sổ, trong cái khung cửa ấy bóng bà hiện ra rất rõ. “Suỵt,” bà nói. Con chó ngừng sủa một lát, rồi, khi người đàn bà quay lưng lại với cửa sổ, nó lại phát ra một tiếng kêu tàn bạo, dã man, sâu thẳm, kéo dài như một âm vang. Lần này, tới phiên tôi tiến về phía cửa sổ.

“Suỵt,” tôi nói, giọng nói gần như rất thấp. “Suỵt,” mày ơi. “Bình tĩnh nào.” Nó hết sủa rồi, và tiếng động nhẹ nhàng của bốn cái chân mạnh mẽ của nó nhỏ dần rồi mất hút. Tôi xoay lại. Người đàn bà lại vô hình. “Chuyện gì đã xảy ra ở New Orleans?”

Bà lão không trả lời ngay tức khắc. Thân hình bà hoàn toàn bất động; tôi cũng không nghe tiếng thở của bà. Rồi tiếng bà tới từ cõi bất động nơi mọi hơi thở đã bị đình chỉ. “Charles Bon đã có vợ.”

“Ô,” tôi nói. “Ổng có vợ rồi à? Bởi thế mà—”

Giờ thì bà nói, không nhanh hơn, dù từ này không thích hợp; tôi không biết phải diễn tả như thế nào cho thích hợp: tựa một chuyến xe lửa đang tiến lại gần ta trên đường sắt, không nhanh, nhưng cũng khá lẹ để ta phải tránh né. Bà nói Henry cũng để cho Charles Bon có một cơ hội. Cơ hội nào, để làm gì? Bà không nói rõ. Không thể là chuyện xin ly dị; bà nói, và hành động cuối cùng của Henry đã chứng minh, chỉ mãi về sau, có thể trong lúc còn chiến tranh hay sau đó, Henry mới biết đã có đám cưới theo đúng nghi lễ. Dường như đã có chuyện khác nữa ở New Orleans, một chuyện gì nhơ nhuốc hơn chuyện xin ly dị. Nhưng chuyện gì thì bà cụ không cho tôi biết. “Anh không cần biết. Vì nó không thay đổi thêm được điều gì cả. Judith đã chết rồi, Charles Bon cũng đã chết rồi và tôi nghĩ người đàn bà ở New Orleans cũng đã qua đời ở nơi đó rồi, bất kể những chiếc áo kết ren, những chiếc quạt rườm rà và bọn tôi tớ da đen, nhưng tất cả hẳn là đã phải khác hơn xưa ở nơi đó. Vả lại, có thể đó là những điều mà Henry đã nói với Charles Bon khi đó. Và bây giờ vì Henry không còn sống được bao lâu nữa, nên không quan trọng.”

“Bà có nghĩ rằng ông Henry sẽ tắt thở trong đêm nay không?”

Giọng nói của bà từ bóng tối bay ra không cao hơn thắt lưng. “Nếu Trời muốn vậy. Henry đã cho Charles Bon một cơ hội nhưng Charles Bon không nắm bắt.”

“Tại sao Henry không thổ lộ điều ấy cho Judith và cho cha biết? Nếu đó là một duyên cớ quan trọng đối với Henry thì nó cũng phải quan trọng đối với hai người kia chứ.”

“Bộ Henry cần phải cho gia đình biết hết cả, trước khi cậu tìm đủ mọi cách để dàn xếp rồi mới nói, cái chuyện mà tôi không muốn cho anh biết vì anh không phải là người trong gia đình? Bộ tôi không đang nói với anh rằng Henry đã thử làm nhiều chuyện khác nữa và Charles Bon đã nói láo với Henry?”

“Nói dối à?”

“Charles Bon đã nói láo với Henry Sutpen. Henry đã nói với Charles Bon rằng làm như vậy là không đúng với cung cách của dòng họ Sutpen, nhưng Charles Bon vẫn nói láo với Henry. Bộ anh tin rằng nếu Charles Bon không nói láo với Henry, Henry sẽ để cho Charles Bon kết hôn với em gái mình à? Charles Bon đã nói láo với Henry trước đêm Giáng Sinh. Và hắn đã nói láo với Henry sau hôm Giáng Sinh; nếu không, Henry đâu có để cho Charles Bon cưới em gái của mình.”

“Nói láo như thế nào?”

“Bộ tôi chưa vừa cho anh biết Henry đã phát hiện điều bí ẩn như thế nào ở New Orleans hay sao? Có thể là Charles Bon đã đưa Henry tới gặp người đàn bà ấy và chỉ cho cậu xem cách xử thế ở New Orleans và Henry đã nói với Charles Bon rằng nó không thích hợp với cung cách của dòng họ Sutpen.”

Thế nhưng tôi vẫn chưa hiểu nổi. Nếu Henry không biết rằng họ đã kết hôn rồi, thì ông ấy có vẻ quá ngờ nghệch. Có thể là hiện nay người ta không thể hiểu nổi những người của thời kỳ đó. Có thể vì vậy mà dưới mắt chúng ta, những hành động của họ, dù được viết ra hay được kể lại đều có vẻ như cường điệu—thậm chí can đảm, anh hùng, không thiếu tính phi lý. Và tôi bình thản nghĩ: “Đó là một điều mà tôi không bao giờ được biết rõ. Và thiếu nó thì cả câu chuyện sẽ không đúng khớp, và tôi chỉ mất toi thì giờ chỉ uổng công mà thôi.”

Tuy nhiên cũng có một điều đã dần dần sáng tỏ; vì thế mà khi bà ta tiếp tục kể chuyện Henry và Charles đã hòa hoãn ra sao khi cùng nhau ra chiến trường, chí ít là ngoài mặt, và Judith với cuộc hôn nhân vừa đúng được một giờ đã một mình ở lại lo thu xếp chuyện nhà ra sao, chôn cất mẹ và chuẩn bị sẵn sàng để đợi ngày chồng nàng trở về; họ đã hay tin chiến tranh chấm dứt ra sao và Charles Bon vẫn khoẻ mạnh—và như thế nào, hai hôm sau, Henry tới nơi với một cái xác chết trên cỗ xe ngựa, cái xác của Charles Bon bị bắn chết bởi phát súng cuối cùng của cuộc chiến, tôi nói: “Phát súng cuối cùng đã do ai bắn?”

Bà cụ không trả lời ngay tức khắc. Bà chỉ ngồi trong thế bất động hoàn toàn. Tôi dường như có thể ngó thấy bà ngồi đó, thân hình ngay đơ, đầu hơi cúi—khuôn mặt với những nét bất động và chằng chịt vết nhăn, bình thản, khôn nguôi và hoàn toàn tự chủ. “Tôi muốn biết Henry đã phát hiện việc họ đã thành hôn bằng cách nào,” tôi nói.

Bà cũng không trả lời. Rồi bỗng dưng bà lại tiếp tục nói, giọng lạnh lùng đều đều; bà kể chuyện Henry đã đem cái xác của Charles vào nhà như thế nào, đã mang nó lên căn buồng Judith chuẩn bị đợi ngày chồng trở về, và nàng đã xua đuổi mọi người ra ngoài và khoá cửa lại với cái xác của chồng và bức chân dung. Và bà—con mọi nhỏ; bà đã ngồi suốt đêm trong tiền sảnh lắng nghe tiếng bước chân đi tới lui giữa đêm khuya và, khi buổi sáng trở về, Judith lại xuất hiện với nét mặt không thay đổi y hệt như hôm trước. “Lúc đó cô ấy gọi tôi, tôi bước vô phòng, và chúng tôi đã tẩm liệm cậu ấy; rồi tôi nhặt bức chân dung để trên bàn và nói, “Cô ơi, cô có muốn để nó vô luôn hay không?” và cô bảo, “Không, tôi không để nó vào,” và tôi thấy cô lấy cái cơi lửa đập mạnh vào cái bấm khoá để đóng chặt nó lại vĩnh viễn. “Chúng tôi đã chôn cất cậu ấy ngay trong ngày hôm đó, và hôm sau tôi mang thư ra thành phố để gởi nó đi theo chuyến xe lửa—”

“Thư gửi ai?”

“Tôi không biết. Tôi không biết đọc. Tôi chỉ biết rằng nó được gởi về New Orleans vì tôi đã biết phân biệt chữ New Orleans từ khi cô sai tôi đi bỏ các lá thư cô viết gởi cho Charles Bon trước chiến tranh và trước khi họ thành hôn.”

“Gửi về New Orleans,” tôi nói. “Nhưng Judith làm sao tìm ra chỗ ở của người đàn bà kia?” Rồi tôi nói: “Trong thư có—Trong thư có để tiền hay không?”

“Chưa. Lúc đó ở nhà không còn tiền. Chỉ có tiền sau đó, khi ông đại tá đã trở về, đã chết, và đã chôn; lúc đó Judith mới mua mấy con gà và chúng tôi nuôi gà để bán với trứng. Lúc đó cô mới có tiền bỏ vào bao thư.”

“Và người đàn bà đã nhận tiền? Đã lấy tiền thật sao?”

“Ả đã lấy tiền,” bà lầm bầm. Bà lại tiếp tục câu chuyện của bà, giọng nói vẫn lạnh lùng và đều đều trơn chảy như một giọt dầu. “Rồi một hôm Judith bỗng nói, 'Chúng ta phải dọn dẹp lại căn phòng của Charles.' 'Dọn dẹp thế nào?' tôi nói. Và cô ấy nói, 'Làm được cái gì thì chúng ta phải ráng làm.' Và chúng tôi đã sửa sang căn phòng lại, và tám hôm sau cỗ xe ngựa đã tới nhà ga vào giờ chuyến xe lửa New Orleans đỗ bến, và nó đã trở về với người đàn bà. Hành lý chất đầy xe, và người đàn bà với chiếc quạt và cái mạng che mặt phòng muỗi trên đầu và một con mọi theo hộ tống; và ả đã không thích chuyến xe ngựa. 'Tôi không quen ngồi xe ngựa,' ả nói. Và Judith đứng chờ trong hành lang trong chiếc áo dài cũ, và ả đã xuống xe với mớ hành lý và con mọi và thằng bé—”

“Thắng bé?”

“Đứa con của ả và Charles Bon.[2] Khoảng chín tuổi. Thế nhưng khi nhìn thấy ả tôi đã hiểu, và Judith khi nhìn thấy ả cô đã hiểu.”

“Hiểu cái gì?” Tôi nói. “Người đàn bà ấy đã có điều gì khác lạ?”

“Anh sẽ được biết với những gì tôi sẽ kể ra. Những cái tôi không nói ra anh sẽ không được biết.[3] Bà vẫn vô hình, bình thản và lạnh lùng. “Ả đã không ở chơi lâu. Ả không thích cái chỗ này. Chẳng có việc gì để làm và chẳng có ai để gặp. Ả không bao giờ thức dậy trước giờ điểm tâm. Và khi ả xuống lầu là để tới ngồi ngoài hành lang trong một của những chiếc áo ả đã lấy ra từ trong rương, để phe phẩy chiếc quạt và ngáp ngáp trong khi Judith đã loay hoay trong bếp từ hừng đông trong một chiếc áo không tươm tất hơn áo của tôi.

“Ả không ở chơi lâu. Vừa đủ thời gian để mặc hết các chiếc áo để trong rương, chắc hẳn là như vậy. Ả bảo với Judith cô cần sửa sang lại ngôi nhà và có thêm vài thằng mọi để khỏi phải tự tay chăm sóc đàn gà, rồi ả ngồi xuống chiếc dương cầm. Nhưng ả không thích nó vì nó không được lên giây đúng mức. Ngày đầu tiên ả đã ra khỏi nhà để tới xem chỗ chôn cất Charles Bon, với chiếc quạt và cây dù không thể làm cho mưa tạnh; ả đã trở về với những giọt lệ trong chiếc mùi xoa ren, ả đã đi nằm và con mọi đã lấy dầu xoa bóp trán ả. Thế nhưng vào bữa tối, ả đã xuống lầu trong một chiếc áo mới, ả nói ả không hiểu được tại sao Judith lại chịu đựng nổi một cuộc đời như vậy, và ả vừa chơi dương cầm vừa khóc, và ả kể chuyện về Charles Bon như thể Judith chưa từng thấy mặt cậu ấy bao giờ.”

“Bà muốn nói rằng người đàn bà ấy không biết Judith và Charles đã kết hôn với nhau?”

Không một lời đối đáp. Tôi có cảm tưởng như bà đang nhìn tôi với một thứ khinh bỉ cao ngạo. Bà nói tiếp: “Ả đã khóc Charles Bon rất nhiều, trong lần đầu tiên. Buổi trưa, ả dạo bước tới chỗ có các ngôi mộ, với cây dù và chiếc quạt, và thằng bé và con mọi theo sau với lọ muối và chiếc gối để ả ngồi cạnh ngôi mộ, và thỉnh thoảng ả bật khóc trong nhà và gần như muốn nhảy tới ôm choàng lấy Judith vào lòng, và Judith trong chiếc áo cũ, thân hình cứng đơ như ông đại tá và với nét mặt của buổi sáng hôm sau khi cô rời khỏi căn phòng của Charles Bon; rồi ả thôi khóc, ả trở về phòng đánh phấn lại rồi ngồi vào đàn dương cầm và kể cho Judith nghe họ đã vui đùa như thế nào ở New Orleans, bảo Judith nên bán ngôi nhà cũ dọn ra đó mà ở.

“Rồi ả ra đi, ngồi trên chiếc xe ngựa, vẫn mặc một trong các chiếc áo phòng muỗi, với cây dù đó; ả đã bắt đầu khóc lóc trong chiếc mùi xoa, và rồi ả vẫy vẫy khăn về phía Judith vẫn đứng trên hành lang trong chiếc áo cũ và không rời chỗ cũ cho tới khi chiếc xe ngựa khuất bóng. Rồi cô Judith nhìn tôi và nói: “Raby, tôi cảm thấy mỏi mệt quá rồi, mỏi mệt vô cùng.”

“Và cả tôi nữa, tôi cũng cảm thấy quá mỏi mệt. Tôi đã gánh chịu khá lâu. Nhưng chúng tôi phải nuôi đàn gà để có tiền bỏ vào bao thư mỗi tháng—”

“Và người đàn bà ấy vẫn nhận tiền? Ngay cả sau khi tới nơi để quan sát mà vẫn nhận tiền à? Và Judith vẫn gửi tiền, sau khi đã nhìn thấy tận mắt?”

Lần này bà đáp ứng ngay, đột ngột nhưng không lên giọng: “Anh là ai mà dám chất vấn hành động của một cá nhân Sutpen?”

“Xin lỗi. Ông Henry đã trở về nhà từ bao giờ?

“Ngay sau khi người đàn bà ấy ra đi, tôi mang hai lá thư ra nhà ga, một lá thư ghi tên Henry Sutpen. Các chữ đó tôi cũng có thể nhận ra.”

“Ô, vậy thì Judith cũng biết rõ Henry lúc đó ở đâu. Và Judith đã viết thư cho Henry sau khi gặp người đàn bà kia? Tại sao Judith đã chờ đến lúc ấy?”

“Bộ tôi chưa nói với anh rồi hay sao, Judith đã hiểu ngay khi thấy người đàn bà ấy, hệt như tôi đã hiểu ngay khi thấy ả?”

“Nhưng cụ chưa cho cháu biết cụ đã hiểu rõ cái gì. Có điều gì bí ẩn ở người đàn ấy? Cụ có thể hiểu chứ, nếu cụ không nói điều đó ra cho cháu biết thì câu chuyện sẽ vô nghĩa đối với cháu”

“Cô ấy đã có khá đầy đủ trí khôn để chôn cất ba người rồi. Anh còn muốn thêm gì nữa?”

“Vâng,” tôi nói. “Vậy là ông Henry đã trở về nhà.”

“Chưa về ngay. Một hôm, cách một năm sau khi ả tới chơi nhà, Judith đã trao cho tôi một lá thư khác có đề tên Henry Sutpen. Nó đã sẵn sàng để mang ra nhà ga. ‘Chị biết lúc để gửi chứ,' Judith nói. Và tôi nói với cô tôi biết rõ lúc phải gởi nó đi. Khi lúc đó tới, Judith nói, 'Bây giờ đúng là lúc để gửi thư”, và tôi nói 'Tôi đã gởi đi từ ba hôm trước.’

“Và bốn đêm sau, Henry cỡi ngựa trở về. Chúng tôi tới gặp Judith đã lên giường nằm và cô bảo: 'Henry. Henry. Em mệt mỏi rồi. Henry. Em mệt mỏi lắm rồi.' Và lúc đó chẳng cần có bác sĩ hay mục sư, và bây giờ tôi cũng không cần có ai hết.”

“Vậy là ông Henry đã ẩn nấp bốn chục năm trong ngôi nhà này. Chúa ơi.”

“Vậy là bốn chục năm trội hơn bất cứ ai đã ở trong ngôi nhà này. Lúc đó cậu ấy còn trẻ, và khi lũ chó bắt đầu già nua, cậu ấy đi ra ngoài lúc đêm xuống, vắng nhà hai hôm, và trở về khi đêm xuống với một con chó khác y hệt. Nhưng bây giờ thì cậu ấy không còn trẻ nữa, và lần chót, chính tôi đã đi tìm một con chó mới. Nhưng nay thì đã hết rồi, không cần có chó nữa. Và tôi cũng vậy, tôi không còn trẻ nữa, và tôi cũng sắp ra đi. Bởi vì tôi cũng mệt mỏi lắm rồi, như Judith.”

Trong căn bếp thảy đều yên tĩnh, bất động, một màu đen dày đặc. Bên ngoài, đêm hè đầy những tiếng côn trùng; xa xa có tiếng hót của một con chim hót nhại. “Tại sao cụ đã làm các chuyện ấy cho Henry Sutpen? Bộ cụ, chính cụ, cụ không có một cuộc đời riêng để sống, con cái để nuôi nấng hay sao?”

Bà ấy nói, tiếng nói không cao hơn thắt lưng, đồng đều, bình thản. “Henry Sutpen chính là anh tôi.”

 

[còn 3 chương]

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[1]André Malraux, trong Lời Tựa viết cho Thánh Cung (1949), bản dịch tiếng Pháp của Sanctuary (1931), một cuốn tiểu thuyết nhại truyện trinh thám để mô tả cái ác đã gây chấn động khắp nước Mỹ vào đầu thập niên 30.

[2]Charles Etienne St. Valery Bon, sinh năm 1959 tại New Orleans, con trai của Charles Bon và người đàn bà da màu, người vợ (trong Evangeline) / người tình (trong Absalom, Absalom!) của Charles Bon.

[3]Bà mọi già muốn dấu nhẹm sự loạn luân có thể xảy ra giữa Charles và cô em gái Judith một cha khác mẹ.

 

Đã đăng:

Evangeline [I-II]  (truyện / tuỳ bút) - Faulkner, William
Tôi không gặp mặt Don đã từ bảy năm nay và bặt tin hắn đã sáu năm rưỡi khi tôi nhận điện tín này: KIẾM ĐƯỢC CHO CẬU MỘT CON MA HÃY TỚI LÃNH TUẦN NÀY TỚ VỀ NHÀ. Không đắn đo, tôi suy gẫm: ‘Hắn nghĩ mình có thể làm gì với một con ma?’ ... [Bản dịch và lời giới thiệu của Nguyễn Đăng Thường] (...)
 
Evangeline [III]  (truyện / tuỳ bút) - Faulkner, William
Đêm đó, tôi thấy mình đứng ngay dưới một trong những cửa sổ hai cánh khép của ngôi nhà, trong bóng tối dày đặc của những lùm cây có những nhánh cây leo sum suê và tôi nghĩ, ‘Mi chỉ cần bước vào nhà. Nàng sẽ nghe và sẽ gọi. Nàng sẽ hỏi “Chị đấy phải không?”...’ [Bản dịch và lời giới thiệu của Nguyễn Đăng Thường] (...)

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018