thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Gió Nam

 

Bản dịch Hoàng Ngọc Biên

 

J.-M. G. LE CLÉZIO

(1940~)

 

Trích cuộc nói chuyện giữa nhà xuất bản Gallimard và nhà văn Jean-Marie Gustave Le Clézio nhân ngày ra mắt cuốn Cœur brûle et autres romances:
 
Gallimard - Thay vì từ “nouvelles”, ông đã chọn từ “romances”. Ông muốn gán cho tập truyện ý nghĩa chính xác nào?
 
J.-M. G. Le Clézio – Romance, trong nghĩa tiếng Anh của từ này, là truyện kể trong đó cái huyền ảo và cái có thật lẫn vào nhau; romance, trong nghĩa tiếng Pháp, là một điệu nhạc, có khi mới ở dạng phác thảo, hay một điệu hát.
 
Gallimard – Tất cả những truyện trong sách có vẻ như xoay quanh ý niệm “số phận”. Nhưng cùng lúc, không số phận nào có vẻ hoàn toàn tuyệt vọng, ngay cả khi cái chết đôi lúc đến gần...
 
J.-M. G. Le Clézio – Số phận là cái người ta chia cho chúng ta như chia bài nhưng mỗi người vẫn có thể sử dụng những con bài được chia theo cách mình muốn, đi đến tận cùng, biến nó thành vật báu, [...]
 
Gallimard – Cùng lúc, những người đàn bà ở trung tâm mỗi câu chuyện [...] xuất hiện như những “ngôi sao lưu lạc”...
 
J.-M. G. Le Clézio – Các phụ nữ ấy* không thuộc về một nơi nào, trừ Alice mà chuyến đi lại ở ngay trung tâm sự phân định của chính cô cho mình, các phụ nữ đa phần đều là những kẻ du mục, những người thừa kế cuộc sống lang bang không ngừng của nguồn gốc tổ tiên mình.[...]

 

______________

 

GIÓ NAM

 

Tôi không còn nhớ rõ lắm cái ngày tôi gặp Maramu lần đầu tiên. Hồi ấy tôi vừa từ tuổi thơ bước ra, còn cô, cô đã là một phụ nữ. Cô tên là Jehanne, nhưng người ta gọi cô bằng cái tên Mao-hi, là Maramu, nghĩa là Gió Nam. Thời ấy cha tôi và tôi sống trong một ngôi nhà nằm ven biển, ở Punaauia. Cha là bác sĩ ở bệnh viện Mamao. Cha ly thân với mẹ khi tôi mới lên sáu hay bảy tuổi gì đó. Cái kỷ niệm mà tôi còn giữ, ấy là nụ cười của mẹ, giọng nói nghe hơi lảnh lót. Chính vì mẹ mà cha đến định cư ở đây, thế rồi sau đó mẹ bỏ cha đi theo một ông Mỹ tới Los Angeles. Cha bảo là mẹ ra đi bởi vì cha không còn làm cho mẹ vui nữa. Cha đã dẹp bỏ hết tất cả những gì có thể nhắc cha nhớ tới mẹ, thư từ, hình ảnh, ngay cả những đồ mỹ nghệ mẹ từng mua bày biện trong tủ kính. Thế tuy nhiên một ngày nọ tôi đã tìm thấy một tấm ảnh cũ, chụp từ những thời hai người mới là vợ chồng. Hai người đứng trên boong tàu, có nhiều người đứng chung quanh. Đứng bên cạnh cha, mẹ có vẻ rất bé người và mảnh khảnh, với gương mặt người Á đông và tóc màu đồng. Tôi giữ chiếc ảnh trong phòng tôi, trong một cái hộp bí mật mà tôi vẫn cất xếp những thứ quan trọng. Rồi thì tôi quên mất nó.

Maramu là con người lạ lùng nhất mà xưa nay tôi được gặp. Lúc nào bước vào nhà chúng tôi, cô cũng giống như một nữ thần có làn da màu sậm, với một gương mặt trẻ thơ, đôi mắt rất dịu dàng và cách xa nhau, và khi nhìn mỏi mắt con mắt trái của cô đảo qua lại và lúc ấy gương mặt cô có một vẻ hơi lạc lõng. Nhất là cô có một bộ tóc tuyệt vời, lượn sóng và rất đen, phủ lấy cả thân mình và chảy xuống tận thắt lưng tô điểm một vẻ man dại.

Lúc nào cô cũng đi chân không, chỉ mặc mỗi một cái xà rông mà cô buộc trước ngực. Cô đi vào nhà từ phía bờ biển, không gây tiếng động, với kiểu vô tâm bất cần của những người chẳng có một thứ gì sở hữu trong tay. Cha tôi có lần từng kể cho tôi cô thuộc dòng dõi Ta’aroa và Temeharo, là những công chúa ở Raiatea, những bà chúa không có đất. Cô có đặt cho tôi một cái tên Mao-hi, cô gọi tôi là “Tupa”, bây giờ tôi cũng chẳng biết tại sao, có lẽ vì tôi hay bị cảm nắng, hay vì tôi bước đi hơi ngang giống như những con cua đất. Cô ôm hôn tôi. Cô đến gặp cha tôi để xin thuốc cho con trai của cô. Tôi lấy làm lạ là cô đã từng sống qua nhiều kinh nghiệm đến thế, chúng tôi gần như cùng tuổi, mà cô thì đã từng biết hết mọi thứ, yêu đương, sinh đẻ, cuộc đời. Tôi chưa hề gặp con trai cô. Nó là con của một người Mỹ có tên Summer, chính bố mẹ của Maramu nuôi nó ở Raiatea. Nó tên là Johnny. Hình như nó hiện đang làm việc tại một khách sạn ở Hawaii. Thời ấy bây giờ đã qua.

Tôi còn nhớ, cô bước vào nhà, cô lấy thuốc cho con trai mình, y như đấy là những viên kẹo, chẳng cần lắng nghe cha tôi dặn dò gì cả. Tôi mê cô, mê đôi mắt cô, mê mái tóc của cô, mê cái dáng đi lặng lẽ của cô, đôi bàn chân cứng nằm sấp trên nền xi măng. Cô nói chuyện với tôi, cô “anh anh tôi tôi” với mọi người, cô chán ngấy những kiểu quy ước của người Pháp. Tôi còn nhớ cái cách cô ngồi bệt xuống đất, mặc bộ quần áo nữ với bàn chân trái để tựa vào đùi. Cha tôi bảo đó là cách ngồi của dân Khmers, của những người Mayas xưa. Một bàn tay đặt lên đùi, bàn tay kia mở lòng bàn tay hướng lên trời, để kể chuyện.

Cô kể cho tôi nghe những chuyện lạ lùng cô từng đọc trong sách, có lẽ, hoặc do cô bịa ra, về tổ tiên cô xưa là những con cá biển, hoặc là về những cái cây khổng lồ mọc ở chân núi lửa, rễ cây là những thể xúc giác rung vang bất cứ tiếng nói nào cất lên trên thế gian này.

Những buổi sáng, khi tôi không phải đi học, cô đưa tôi đến chỗ đá ngầm. Chúng tôi bước đi rất chậm, y như chúng tôi đang tìm kiếm một thứ gì đó, trên mặt thảm rất mịn và sinh động, và sóng biển vỗ vào chúng tôi, bọt bắn tung toé cả vào mắt. Sau đó chúng tôi trở về căn nhà mát mẻ. Cha tôi đã đem trái cây tới. Tôi còn nhớ rõ là Maramu hát, và ánh sáng buổi chiều lúc ấy ấm, ai nấy có cảm tưởng như cảnh tượng hẳn phải cứ diễn ra như thế mãi.

Khi mặt trời lặn, Maramu ra tắm ở hồ nước ven biển. Cô ngồi yên trong nước không nhúc nhích. Cái cách cha tôi bơi làm cô cười. Cô biết nhào lặn, chậm rãi đưa hai gan bàn chân rất trắng của mình chĩa thẳng lên trời. Sau đó, cô trở về nhà, tắm lại dưới vòi nước với vẻ thẹn thùng, vẫn không rời chiếc xà rông trên người. Cô có cặp đùi vạm vỡ, vai dày cộm, vú rất nhỏ và nhẹ tênh. Cả thân người cô lấp lánh dầu. Cô lắc lắc mái tóc bồng bềnh của mình làm bắn tung toé những tia nước.

Với Maramu, cái gì cũng đơn giản. Chẳng có gì làm tôi thấy ngạc nhiên. Tôi nghĩ rằng tôi đã biết ngay cô là nhân tình của cha tôi. Đôi khi cô ở lại đêm trong nhà, cô nằm ngủ dưới đất trong phòng lớn, cô bảo là nằm trên giường cô thấy quá nóng. Tên cha tôi là André, nhưng cô gọi cha là Bob, tôi không biết tại sao, có thể là do cái nón nhỏ cha đội khi cha đi câu cá, vào những dịp cuối tuần. Cô không bao giờ nói gì về cha, còn cha thì hầu như chẳng biết gì về cô. Cô là con chim di trú.

Thế rồi một ngày nọ, mọi chuyện thay đổi. Cô không đến nhà chúng tôi nữa, và ngày này qua ngày khác, tôi đợi cô. Tôi nghe ngóng tiếng đôi chân trần của cô nhẹ bước trên nền xi măng, xa xa tôi cứ tưởng như thấy được bóng dáng cô, đứng trên rào cản ở chỗ đá ngầm, một ảo ảnh.

Tôi hiểu ra rằng có một cái gì đó đã xảy ra, nhưng tôi không biết là cái gì. Cha tôi trở nên xa vắng, nóng nảy, và thường về nhà muộn. Một ngày nọ, cha nói với tôi về nước Pháp, cha nói là chúng tôi sắp về nước, rằng tôi sẽ vào một trường ở Lyon, sau kỳ nghỉ hè. Cha đã tìm được việc ở đó, trong một bệnh viện.

Maramu trở lại. Bấy giờ là đã cuối kỳ nghỉ hè, tôi chỉ có một mình ở nhà. Cô bước vào nhà không một tiếng động, như thường lệ. Cô ngồi ngoài sân thượng để nhìn ra biển. Cô có vẻ lạc lõng, tóc rối tung. Có lẽ cô say rượu. Cô mặc một chiếc áo dài rất xanh. Cô có bôi chút son trên môi, miệng cô có vẻ lớn ra, như một vết thương.

Cô nói chuyện với tôi cứ y như chúng tôi mới chia tay hồi sáng. Cô nắm bàn tay tôi rất chặt, cô áp đầu sát vào vai tôi. Tôi ngửi thấy mùi cùi dừa khô trên da cô, một thứ mùi nắng giữa đêm bấy giờ đang đến. Có những đám mây lạ thường ở chân trời, phía Moorea.

“Tupa, tại sao biển thường làm tôi muốn khóc?”

Tôi rủ cô ra biển tắm. Tôi sợ cô sẽ nói điều gì khủng khiếp chăng, sẽ nói là chúng tôi sẽ không còn gặp nhau nữa. Maramu bước đi bên tôi trên cát. Cô hút thuốc. Hoàng hôn dập tắt mất biển, ảm đạm với vài con chim. Cô nói:

“Đi đi, chúng ta ra ngoài ấy chơi.”

Tôi viết mấy chữ cho cha tôi, tôi để nó trên bàn ở phòng ăn. Và tôi đi ra không đóng cửa.

Trên đường, đã có một chiếc xe chờ sẵn. Tài xế là một người Hoa, ông Wong, và ở băng ghế sau có một tên “lai” với một cây đàn ghi ta nhỏ xíu. Hắn quen Maramu. Tôi nghe cô gọi hắn là Tomy. Cô ngồi bên cạnh hắn. Đó là một người da rất nâu, gầy, với hai bàn tay nhỏ nhắn. Hắn mặc một chiếc quần màu xám than, một chiếc áo sọc vuông cổ là. Tôi không hiểu hắn ta là ai, cũng chẳng biết tại sao Maramu muốn có tôi đi cùng.

Tomy chơi đàn ghi ta kiểu hãm âm, nhạc jazz, một điệu nhạc của Billie Holiday. Trời bấy giờ nóng, xe chạy nhanh. Maramu cất tiếng hát, theo nhạc của Tomy, và sau đó cô bắt đầu những điệu nhạc của người Mao-hi, những khúc ute. Giọng cô không còn khàn nữa, bấy giờ nó trở thành thanh như làn khói. Tôi lấy làm mắc cỡ mình không biết hát, tôi thấy dường như mọi nỗi sợ và mọi nỗi đau đều tan biến trong điệu nhạc này. Maramu luồn những giải đeo chiếc áo cô dưới hai cánh tay, mặt cô để nghiêng, mái tóc dày xoã che hết phân nửa người. Tomy nhìn cô.

Đêm xuống, xe chúng tôi vẫn chạy, chúng tôi đi ngang những vùng dân cư. Hai ngọn đèn pha vẽ hai tia sáng trong đêm. Xe chúng tôi lăn bánh trên một con đường nghiêng dốc, biển là một khoảng không lớn đen ngòm, bên trái chúng tôi. Phía mũi Vénus, cuối một đoạn đường lồi lõm, chen chúc đầy những xe hơi đỗ hai bên, là một tiệm rượu. Đây là một cái nhà kho bằng tôn được chiếu sáng bằng những ống đèn néon. Một ban nhạc bấy giờ đang chơi om sòm một điệu nhạc êm dịu, bản All kinds of everything của ca sĩ Dana. Tôi còn nhớ bởi vì đây là một bài hát xưa nay tôi vẫn thích. Trời bấy giờ nóng bức. Chúng tôi ngồi vào một bàn, chúng tôi gọi bia Hinano, còn Maramu thì gọi một chai rượu vang đỏ.

Tiệm rượu bấy giờ rất ồn ào, cái đầu tôi bắt đầu quay. Có những người trông lạ lùng, những người lính lê dương, những cô gái mặt mày tô vẽ sặc sỡ. Đây là lần đầu tiên tôi đến một nơi loại như thế này. Tôi khiêu vũ với Maramu. Chúng tôi đụng vào những người khiêu vũ khác, vào ghế. Maramu dẫn tôi nhảy, nhạc là một điệu valse, một điệu paso-doble, một điệu nhảy ngày xưa. Cô cười to, mái tóc cô xoã quanh người. Tôi ngửi thấy mùi mồ hôi của cô, cảm ra chỗ lõm ở vùng thắt lưng cô dưới ngón tay mình. Ở bàn, Tomy tiếp tục uống rượu, mặt bất động. Vì mệt mỏi, mắt hắn sâu xuống, làm gương mặt hắn trông như mặt nạ người chết. Maramu cũng có vẻ mệt. Cô ngồi nghiêng người, hai cánh tay tựa vào bàn. Bấy giờ tôi thấy cô có hai nếp nhăn ở hai khoé miệng, và một dấu hình ngôi sao giữa hai bên mày. Người lái xe đã bước ra khỏi tiệm rượu. Hắn ta nóng quá, và hắn chán.

Kề đó một trận ẩu đả xảy ra, ngay bên cạnh bàn chúng tôi, do một người lính say rượu. Maramu rất sợ. Cô khẩn khoản kêu Tomy đi. Cô bước chân trần trên đường, chiếc áo dài xanh lá cây của cô lấp lánh trong đêm như ngọn lửa Saint-Elme.

Tôi dừng lại bên hố để mửa. Maramu dìu tôi vào ngồi ở băng sau, rất dịu dàng, với những cử chỉ gần như của một người mẹ. Cô đưa tay nhẹ nhàng xoa trên mặt tôi. Những ngón tay cô đầy mùi thuốc lá.

“Tội nghiệp Tupa, em không chịu nổi! Tôi thì tôi đã quen rồi, tôi vui đùa như thế này từ hồi còn nhỏ xíu.”

Ông Wong lái xe chậm, để tôi có thể ngủ. Chúng tôi dừng lại bên bờ biển, phía Pirae, vì Maramu muốn tắm. Gió thổi hiu hiu, biển đen, đêm dịu. Hai người đàn ông ngồi lại trên chỗ đất cao nhìn xuống bờ biển. Tomy chơi đàn ghi ta. Tôi nhìn thấy đốm lửa của điếu thuốc hắn hút đỏ lên từng hồi. Tôi xuống biển hoàn toàn trần truồng, tôi bơi mà không biết mình bơi đến đâu. Với tôi bây giờ không còn có thời gian, không còn có không gian. Khi tôi lên bờ, Maramu đến ngồi cạnh tôi trên cát.

“Chị sẽ lấy anh ấy chứ?” tôi hỏi.

Cô phá ra cười.

“Tomy ấy à?”

Cô nói:

“Anh ta dễ thương, anh ta giàu, anh có một cái khách sạn ở Hawaii. Sau này tôi sẽ già, Tupa ạ. Tôi sẽ về đó, anh ta sẽ là tané của tôi, tôi sẽ chẳng có ai khác.

“Nếu chị đi, Maramu ạ, có lẽ tôi sẽ buồn chết mất.”

Tôi nói như thế là để làm cô cười, nhưng tôi chẳng làm cô cười chút nào.

“Có thể tôi cũng sẽ qua Pháp. Bob muốn tôi cùng đi qua bên ấy, đến Lyon. Pháp thì xa quá, chính tôi mới là người sẽ buồn muốn chết.”

Chúng tôi ngồi lại trên bờ biển, ngay mép nước. Maramu đưa cho tôi sờ vào gan bàn chân cô, đầy những cục chai.

“Em nghĩ là tôi có thể mang giày đi bên ấy sao?”

“Thì chị mang giày thể thao vậy.”

“Tôi sẽ đi chân trần như thế này, ta phải tập quen đi chứ.”

Tôi cố cười, cố nói đùa, nhưng đột nhiên tôi thấy đau ở khúc giữa thân mình, phía bao tử, hơi về bên phải một tí. Tôi dựa trên cùi chỏ, và tôi cảm thấy toàn thân run lên. Maramu nhận ra tình thế ấy. “Em lạnh à?” Cô ôm chặt người tôi vào lòng để cho tôi hơi ấm của cô. Tôi không biết vì sao, lúc ấy tôi đã nghĩ đến mẹ tôi. Tôi muốn cô nói với tôi về mẹ, và cô đã đoán ra. Maramu là như thế, chuyện gì cô cũng biết. Cô nói:

“Bà ấy tên là Tania, tôi còn nhớ, hồi ấy tôi mới mười hai tuổi. Bà rất đẹp, ông gặp bà ấy ở Bali, người ta kể lại như thế. Thỉnh thoảng tôi nhìn thấy bà ấy trên tàu, cùng với cha em và em. Hồi ấy em là một cậu bé con xinh xắn, tôi nghĩ là tôi đã si tình em. Tóc em cùng màu với tóc Tania. Khi bà ấy bỏ đi, Bob buồn lắm. Nhưng bà ấy không còn chịu nổi nữa. Một thời gian lâu người ta vẫn tưởng bà ấy sẽ trở lại, bởi vì Bob ở có một mình với em, ở Punaauia. Có lẽ nếu như ông qua Pháp, qua bên đó, cái thành phố rất xa ấy, ở Lyon, bà ấy sẽ trở về sống với mấy người.”

Bầu trời trong, đầy sao. Tôi nhớ đến những câu chuyện Maramu kể cho tôi nghe, trên sân thượng của ngôi nhà, vừa kể vừa nhìn những ngôi sao, đám mây Magellan nổi tiếng, và hai cánh chim khổng lồ, mà người ta gọi là chùm sao chữ Thập phương Nam. Có tiếng sóng biển trên những tảng đá ngầm. Bấy giờ trời đã sáng, ông Wong bảo là phải lên đường. Maramu đến nói chuyện với Tomy, họ có hơi cãi vả một tí, tôi nghe có những giọng chát chúa. Tôi không hiểu họ đang nói gì. Rồi thì Tomy và ông Wong bỏ đi. Tôi nghe tiếng xe đi xa trên đoạn đường đỉnh Vénus. Maramu trở lại gần tôi. Cô đưa hai cánh tay ôm quàng quanh vai tôi. Tôi ngửi thấy mùi của cô, hơi hướm bốc lên từ mái tóc phi thường của cô.

Cô với buổi rạng đông bây giờ hợp làm một. Thật là tuyệt diệu và khủng khiếp bởi lẽ tôi vừa hiểu ra đây là lần cuối. Cô nói giọng thấp, sát ngay bên tai tôi, như một bài hát:

“Toàn là những vỏ ốc, Tupa ạ, thế giới là một vỏ ốc, bầu trời là một vỏ ốc lớn hơn nữa. Con người toàn là những vỏ ốc, và bụng của đàn bà là cái vỏ ốc chứa hết những người đàn ông.”

Cô cũng nói tới những chiếc thuyền độc mộc, những chiếc lá là những ngón tay của cây, và những hòn đá rễ mọc đâm xuống đất. Cô nói những điều ấy như thể cô để lại cái biết của cô cho tôi, bởi lẽ tôi sẽ không còn gặp cô nữa. Khi ánh sáng buổi rạng đông đến, tôi mới biết là tôi đã ngủ được một giấc. Trên cát bấy giờ hãy còn dấu chân Maramu. Tôi tưởng là cô đã đi với những người khác trong khi tôi ngủ, tôi cảm thấy một nỗi lo âu rất lớn. Tôi cất tiếng gọi: “Mara-amu!”

Cô đi ra từ phía sau một bụi cây, nơi cô vừa ngồi xổm để đi tiểu. Còn tôi thì bấy giờ tôi run rẩy, tôi lên cơn sốt. Mặt trời ló dạng ở phía núi. Phía chân trời có những cụm mây hình cái đe, về hướng Raiatea. Maramu rực rỡ trong chiếc áo dài màu xanh lá cây. Khuôn mặt màu sậm của cô láng bóng, cái nhìn không ai dò hiểu được. Một cách chậm rãi, cô chải tóc ngược ra phía sau, cô quấn thành một búi và cắm vào búi tóc một cái lược lớn của người gitan. Khi bước về phía đường cái, tôi thấy xe của ông Wong đang đợi. Ở băng sau, Tomy đang hút thuốc lá. Bởi ánh sáng của buổi ban mai, mọi vật đều lạnh lẽo và nhạt nhoà.

“Tôi sẽ lấy tàu đến Raiatea.” Maramu nói khẽ. Đó là quyết định của cô. Không ai có thể thay đổi cô.

Xe chúng tôi chạy về phía hải cảng. Tomy không nói gì, hắn ta cũng chẳng còn chơi đàn ghi ta. Hắn cũng có vẻ rất mệt, có lẽ hắn bị sa sút tinh thần. Trên bến cảng, Maramu chạy đi tìm hành lý của mình ở một khách sạn của người Hoa, gần chỗ tàu đậu. Tôi ra khỏi xe và tôi đứng chờ cô dưới bóng cây. Khi cô trở lại, cô đã thay áo quần khác. Cô mặc một cái quần dài và một áo sơ mi đàn ông, mang giày có gót làm cô rất đau chân. Cô ôm hôn tôi.

“Tạm biệt. Có thể chúng ta sẽ còn gặp nhau, một ngày nào đó.”

Tôi nói: “Tạm biệt.” Tôi nghẹn ngào, tôi thấy đau trong lòng. Ông Wong vẫn ngồi trong xe, ông không nhìn chúng tôi. Chắc chắn mọi chuyện như thế này đều chẳng có ý nghĩa gì đối với ông, những người đến đó, rồi đi đó. Nhưng tôi thì tôi nghĩ là tôi sẽ không còn gặp lại Maramu, tôi sẽ không còn nghe được cái giọng trong trẻo của cô khi cô hát những khúc ute. Tôi sẽ không còn ngửi thấy mùi nhựa hương trên da cô. Bởi thế nên ánh sáng buổi ban mai hôm ấy chẳng có một sức mạnh nào cả.

Tomy bây giờ đã bước xuống xe. Hắn nhìn tôi, nhưng hắn không nói gì cả. Hắn cầm trên tay một cái va li nhỏ màu đen. Hắn cùng với Maramu đi xa về phía con tàu. Tôi lên xe trở lại, và ông Wong đã chở tôi về tới Punaauia. Ông không muốn lấy tiền tôi trả. Tôi nghĩ chính Tomy đã yêu cầu như thế.

Khi tôi về đến nhà, cha tôi không nói với tôi một tiếng, cũng không hỏi han gì cả. Sau đó chúng tôi không hề nói gì về cái đêm tôi đi chơi. Cũng không bao giờ cha nhắc tên Maramu nữa.

Sau đó, chúng tôi trở về Pháp, về cái thành phố Lyon là nơi mùa đông kéo dài hơn một mùa, nơi chúng tôi không bao giờ nghe sóng biển, và không hề có thổi qua một ngọn gió nam. Tania trở về sống với cha tôi. Tôi nghĩ đó là điều Maramu mong muốn. Về Maramu tôi không còn biết được gì đáng kể. Có người bảo tôi là cô đã làm đám cưới với Tomy, và cô đã đi vòng quanh thế giới. Thời gian trôi qua. Ta nói ra những chuyện này chuyện nọ, ta đau khổ và ta tưởng vì thế ta có thể chết được, thế rồi vài năm sau mọi chuyện đều chỉ còn là kỷ niệm.

 

 
-------------------
“Gió Nam” [từng xuất hiện trên tạp chí Văn ở California, số 70 & 71, tháng 10 & 11 năm 2002] dịch từ nguyên tác “Vent du Sud” của Jean-Marie Gustave Le Clézio trong tập truyên tác giả gọi là “những chuyện diễm tình”: Cœur brûle et autres romances (Paris: Gallimard, 2000).

 

* Xem 4 truyện diễm tình của Le Clézio “Kalima”, “Khách sạn cô đơn”, “Trái tim cháy” (bản dịch Nguyễn Thu Hồng), và “Ba cô gái phiêu lưu” (bản dịch Hoàng Ngọc Biên) đã đăng trên Tiền Vệ:

Kalima  (truyện / tuỳ bút) 
Em đã đi khỏi nơi này, và em đã để lại cả thế giới này trong trật tự của nó, trong mưu đồ của nó, cái thế giới mà những quảng trường cứ tiếp tục ồn ào, với những máy nước và những cô gái, và những tiếng gà trống gáy và tiếng chó sủa, và bụi bặm không ngớt tung lên rồi rải xuống, tung lên rồi nằm yên nghỉ. Thế nhưng em, em không còn ở đấy nữa... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Khách sạn Cô Đơn  (truyện / tuỳ bút) 
Đối với Eva, đấy là kỷ niệm của một đời sống khác, một thời gian không hạn định. Nàng đã ở khách sạn suốt đời nàng, du lịch trên những con tàu chở khách lao vào cuộc phiêu lưu trên biển, từ bến này đến bến kia, giữa Venise và Alexandrie, hay trên lãnh hải Cortés, từ Topolobampo đến La Paz... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Trái tim cháy  (truyện / tuỳ bút) 
... Khi đêm xuống, có một cơn sốt, một cái gì giục giã. Ta có thể nói là có một lễ vui đang được chuẩn bị. Nhất là vào những ngày đẹp trời, tháng chín, tháng mười, tháng mười một. Không khí dịu và mát, có những dây bìm bìm nở hoa trên các hàng rào, những con đôm đốm đậu trên ngọn cỏ. Những con cóc ca hát dưới mương rãnh... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Ba cô gái phiêu lưu  (truyện / tuỳ bút) 
... Sự cô đơn cùng tận là sức mạnh của cô. Chính cô giữ cho thân hình mình đứng thẳng và mạnh, chống chọi với năm tháng, chính cô lúc nào cũng đem lại cho đôi mắt mình sự rạng rỡ của cuộc sống... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)

 

 

-----------------------
Jean-Marie Gustave Le Clézio sinh năm 1940 ở Nice, bắt đầu nổi tiếng từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Le Procès-verbal, Giải thưởng Théophraste Renaudot 1963. Từ ấy đến nay – hơn 40 năm trôi qua một sự nghiệp văn chương đa dạng, phong phú và độc đáo, có thể chỉ căn cứ là nhà văn đầu tiên nhận giải thưởng Paul Morand cho toàn bộ tác phẩm (1980)? – ông đã xuất bản trên dưới 40 cuốn sách: tiểu thuyết, tiểu luận, truyện ngắn, hai bản dịch thần thoại thổ dân châu Mỹ, và vô số những bài viết, bài tựa và nhiều đóng góp cho những tác phẩm tập thể. Từ thời trẻ, mới nổi tiếng, Le Clézio đã được biết đến như một nhà văn “ẩn dật”: ông sống ở Nice (tôi còn nhớ một tấm ảnh chụp ông bước đi trên một bến cảng, người cao lêu nghêu, nổi bật trên một cái nền sông nước và thuyền bè đăng trên báo Le Figaro Littéraire hơn một phần tư thế kỷ trước) và rất ít khi đến Paris, rất ít khi thích ngồi xuống cho ai phỏng vấn, bởi vì “ẩn dật” chỉ là một thái độ: thật sự, ông là một người bước đi. “... đối với tôi là dân ở đảo, một người ở bên bờ biển nhìn những chuyến tàu chở hàng đi qua, gót chân mài trên những bến cảng, như một người bước đi dọc theo một đại lộ nhưng là người không thể thuộc một khu phố hay một thành phố nào, mà là thuộc về mọi khu phố và mọi thành phố, ngôn ngữ Pháp là quê hương duy nhất của tôi, là nơi duy nhất tôi sống .” (trả lời Catherine Argand, 1994). Chúng ta sẽ không ngạc nhiên: Le procès-verbal thai nghén ở Anh, L’extase matérielle lên men ở Bangkok, và nhiều tác phẩm khác nẩy sinh từ những chuyến đi, sống và viết: Mexique, Panama, quần đảo Maurice và Rodrigues... Từ một nhà văn trẻ, mà những cuốn sách viết rất đẹp làm người đọc liên tưởng đến những nhà văn trong nhóm Tiểu thuyết Mới, nhạc pop, nhiều nét Lautréamont, Artaud, nhất là Michaux, cái nhìn theo tinh thần Blake – cả Keats, Auden, Salinger mà ông đọc đi đọc lại nhiều lần - đến nay Le Clézio đã vạch con đường riêng của mình, và năm 1994 được chọn là nhà văn viết tiếng Pháp lớn nhất còn sống.
 
Trong truyện ngắn "Le mone est vivant", Le Clézio có mô tả một phương pháp viết đơn giản, quá mức đơn giản: Đây là những gì cần làm: phải đi về đồng quê, như một họa sĩ Chủ nhật, với một tờ giấy lớn và một cây bút bi. Chọn một nơi vắng vẻ, trong một thung lũng nằm trong hốc núi, ngồi trên một tảng đá và nhìn lâu chung quanh mình. Khi đã nhìn no, phải lấy tờ giấy ra, và vẽ ra bằng chữ những gì ta thấy... Nhưng ta hãy coi chừng: nhà văn của chúng ta không đơn giản như thế: tác phẩm Le Clézio đi từ những vấn đề liên hệ đến nhà văn và ngôn ngữ (ngôn ngữ chỗ quê hương), lý do phải viết, ngôn ngữ-thực tại, ngôn ngữ-âm nhạc, ngôn ngữ-hội họa, thần thoại cổ, cái nhìn, sự cô đơn, nỗi đau, con người chuyển động trong một thế giới mà công việc đẹp nhất của người viết là... sao chép lại.
 
[Ngoài nhiều giải thưởng văn học giá trị, J-M G. Le Clézio còn nhận được một giải thưởng không văn học: mùa Hè 1999, theo thăm dò đặc biệt của Ipsos/L’Evénement, nhà văn được bầu là người thứ 11 trong số 12 “ngôi sao nam” được phụ nữ Pháp chọn là hấp dẫn nhất trên toàn thế giới – cùng với Robert Redford, Sean Connery, Antonio Banderas, Johnny Depp, Alain Delon, Leonardo di Caprio, Hugh Grant, vân vân.]
 
Tác phẩm Jean-Marie G. Le Clézio có thể gọi là đồ sộ. Có lẽ đây là một trong những tác giả ít ai muốn ghi danh sách tác phẩm trong một vài dòng giới thiệu sơ sài, sợ mang tiếng khập khiễng chăng...
(Hoàng Ngọc Biên giới thiệu)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018