thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
TUYẾT [chương 25-28]

 

Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường

 

MAXENCE FERMINE

(1968~)

 

Lời người dịch:
 
"Ở cuối thế kỷ 19 tại Nhật Bản, một thanh niên tên Yuko ôm mộng trở thành một thi sĩ haiku. Để trau dồi nghệ thuật haiku, một thể thơ rất khó làm, Yuko lên đường về miền Nam tìm gặp một bậc thầy mà anh cảm thấy gắn bó ngay trong lần đầu gặp gỡ, mặc dù rất khó đoán biết trước giữa thầy và trò ai sẽ làm phong phú cho ai. Trong mối liên hệ này, được xây dựng trên sự nể kính, những dấu hiệu và im lặng, hình ảnh đeo đuổi mãi của một phụ nữ đã biến mất trong tuyết sẽ kết hợp họ lại với nhau. Với cách viết súc tích, sáng sủa như màu trắng, Maxence Fermine gọt dũa một câu chuyện trong đó cái đẹp và tình yêu sẽ mang sắc thái của thơ haiku. Độc giả sẽ bắt gặp ở đây bức chân dung của một nước Nhật Bản tế nhị, nơi mà, giữa sự tàn bạo và dịu dàng, truyền thống phải đương đầu với những sức mạnh bức phá của cuộc sống."[*]
 
Maxence Fermine sinh năm 1968 tại Albertville, thuộc miền Savoie, Pháp. Thời niên thiếu, ông sống ở quê nhà và Grenoble, rồi mười ba năm kế tiếp ở Paris. Nghề đầu tiên của ông là kỹ sư và kiến trúc sư, đã giúp ông đi nhiều nơi, nhất là châu Phi để ông "triển khai thiên hướng về nghệ thuật và thẩm mỹ". Ông là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn, đã tự "lăng xê" với Neige (Tuyết), cuốn tiểu thuyết đầu tay này đã gây hứng thú nơi độc giả. Từ đó ông bỏ nghề cũ và dành trọn thì giờ cho văn chương. Năm 2001, ông chiếm Giải Del Duca và Giải Murat cho L'Apiculteur (Người nuôi ong), cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông. Từ đó, độc giả đã có thêm Opium (Nha phiến, 2002), Billard blues, Jazz blanc, Poker (2003). Năm 2004 cuốn Amazone đã mang về cho tác giả Giải Europe 1. Tiếp theo là Tango Massai (Điệu tango Massai, 2005), Le labyrinthe du temps (Mê lộ thời gian, 2006). Và cuối cùng, trong năm 2007 là tác phẩm Le tombeau d'étoiles (Mộ sao).
 
Với các tác phẩm của ông, Maxence Fermine đã du hành xuyên qua các thời đại và các nền văn hoá. Nhật Bản ở cuối thế kỷ 19 với Tuyết, châu Phi với Người nuôi ongĐiệu tango Massai, nước Ý với Cây vĩ cầm đen, thành phố Chicago của Mỹ vào những năm 30 với Billard blues, Jazz blanc, Poker, và thời chiếm đóng ở Pháp với Mộ sao. Tác phẩm của Maxence Fermine đã gặt hái được nhiều thành công và đã được chuyển dịch sang nhiều ngoại ngữ. Đề tài chính trong tiểu thuyết của Maxence Fermine là sự đi tìm cái tuyệt hảo : thơ với Tuyết, nhạc với Cây vĩ cầm đenBillard blues, Jazz blanc, Poker, và mật ngọt với Người nuôi ong; dưới biểu trưng của các màu : trắng với Tuyết, đen với Cây vĩ cầm đen, vàng với Người nuôi ong, và xanh với Billard blues, Jazz blanc, Poker.
 
Tôi đọc Tuyết cuối năm 1999, trong tủ sách Points thuộc loại sách bỏ túi của nhà Editions du Seuil, thấy thú vị nên đã dịch ngay sang tiếng Việt được hơn nửa cuốn, vì Tuyết gồm cả thảy 54 chương ngắn và cực ngắn, với ngôn ngữ giản dị rất dễ dịch. Nhưng tôi đã để bản dịch lỡ dở, có thể vì lu bu nhiều chuyện khác, vì biếng nhác, vì đã bắt đầu thấy chán sau lúc hứng khởi ban đầu. Nhưng chắc chắn là vì đã nghĩ dịch để làm gì, và nhất là vì đã biết rõ một cuốn tiểu thuyết ngắn rất dễ thương về sự gặp gỡ giữa Đông-Tây, tất nhiên sẽ hợp khẩu vị độc giả trong nước, và tất nhiên sớm muộn gì ở trong nước cũng sẽ có người dịch để in sách, nên tôi chờ, để tránh việc dịch trùng, mất thì giờ vô ích. Chờ mãi gần tám năm, không thấy xuất hiện bản dịch ở trong nước, mà cũng chẳng thấy có ai ở quốc nội nhắc nhở đến Tuyết hay tác giả của nó, nên vào đầu tháng mười 11, năm 2007, tôi lấy ra dịch tiếp và gửi cho Tiền Vệ đăng để công hiến độc giả.
 
Maxence Fermine hiện sống — trong tuyết — với vợ và con gái (Léa) tại miền Haute-Savoie.
 
Nguyễn Đăng Thường
Đầu tháng 12, 2007
 
--------------
[*] Lời giới thiệu của nxb ở trang bìa sau.
 
Độc giả có thể xem rất nhiều chương của nguyên tác Pháp văn ở website:

 

_____________

 

 

TUYẾT

 

Phần I:

 

— II —

 

 

25

 

Tất thảy đã bắt đầu với ảo thuật. Một ngày mùa đông của năm 18... lúc từ chiến trường trở về, Soseki đã luỵ tình với một phụ nữ mà ông chưa từng được gặp gỡ trong đời.

Vào thuở ấy, ông chủ của tôi là một chàng hiệp sĩ phục vụ hoàng đế.

Soseki đã tham gia một trận chiến hung bạo nơi mà đội ngũ của chàng đã đạt một chiến thắng vẻ vang, một chiến thắng đẹp đẽ bất ngờ. Chàng đã trở về trong tư thế của kẻ chiến thắng. Thắng trận nhưng chịu nhiều thương tích. Một chiến sĩ sắp chết đã dùng kiếm đâm xuyên vai chàng trước khi cái đầu của hắn bị một quả đại bác mang đi. Hình ảnh đó vẫn còn ở trước mắt Soseki: mùi vị của bùn và của máu đầy miệng, binh sĩ địch tràn tới phía trước chàng, một khuôn mặt kẻ địch nhăn nhó vì hận thù. Người đàn ông nhảy xổ về phía chàng, sẵn sàng đâm xuyên qua chàng. Rồi đến lưỡi kiếm lạnh lướt nhanh trên trán chàng, một tiếng nổ vang rền như sấm sét, rồi chẳng còn gì nữa cả ngoại trừ cái xác chết không đầu, một cái xác chết còn cử động và bước đi trước khi ngã quỵ trên mình chàng và tông luỡi kiếm sắc vào vai chàng bằng cả sức nặng của một xác chết, như để giúp chàng hiểu rõ hơn sự ghê rợn của một bãi chiến trường mà hắn cũng như chàng lẽ ra không nên biết. Thế đấy. Đó là thời kỳ của danh dự. Đó là những nỗi vui sướng của chiến tranh. Hoặc là phải chết hay là được trở về, mang đầy thương tích.

Chàng hiệp sĩ không bao giờ quên hình ảnh người đàn ông cụt đầu. Đó là điều khủng khiếp nhất mà cả đời chàng chưa từng trông thấy.

Sau lúc ấy, Soseki đã ngã lăn ra bất tỉnh. Người ta bỏ chàng ở lại chiến trường như một xác chết. Chàng nằm cả đêm dưới cái thây ma cụt đầu. Khi trời sáng, cuối cùng đã có người nghe những tiếng rên rỉ của Soseki. Người ta nhấc cái xác lên và bắt gặp cái khuôn mặt đầy hãi hùng của Soseki. Người ta băng bó chăm sóc chàng, nhưng chàng đã hôn mê trong nhiều ngày. Một tuần lễ sau, chàng vẫn còn mang sự hãi hùng trong ánh mắt.

Hoàng đế đích thân tới khen ngợi Soseki và chàng rút tỉa được một chút vinh dự tuy niềm hãnh diện có bị hoen ố bởi sự ân hận về những gì chàng đã phải trải qua.

Khi đã bình phục hẳn, Soseki lên đường trở về cố hương. Chẳng phải vì vết thương đó đã ngăn cản chàng tiếp tục chiến đấu — chàng đã bị thương đến sáu lần từ lúc khởi hành cuộc viễn chinh — mà đơn giản chỉ vì chàng đã ghê tởm chiến tranh. Soseki, kẻ đã dâng hiến đời mình cho quân đội, vừa nhận thấy rằng mình không còn thích đâm chém nữa.

Chàng rời quân ngũ và đi bộ trở về quê quán. Và chính trên đường về, phép lạ đã xảy ra.

Mệt lả, toàn thân buốt giá, nỗi ghê sợ chiến tranh trong ánh mắt, đơn độc trong bóng tối và trong thảm kịch chàng vừa nếm trải, lẻ loi trong nỗi cô đơn choáng váng, một mình trong niềm im lặng của chính mình, trong khi lẽ ra chàng đã phải chết vì lạnh, vì đói, vì mệt, vì giận, chết vì chán nản đến trăm lần, thế nhưng chàng đã sống sót.

Soseki đã sống sót nhờ cái mà chàng đã trông thấy trong ngày hôm đó, cái vật đó, cái vật tuyệt vời đã đến với chàng từ mé bên kia của thực tại, có thể là để cân bằng hoá sự khủng khiếp đến từ kẻ đã bay đầu, cái vật cao nhã và đẹp đẽ đó là hình ảnh đẹp đẽ và cao nhã nhất mà chàng đã được nhìn thấy trong suốt cuộc đời chàng. Hình ảnh đó, chàng hiệp sĩ Soseki chẳng bao giờ quên được.

 
 

 

26

 

Hình ảnh đó là hình ảnh của người phụ nữ giữ thăng bằng trên một sợi dây, một người phụ nữ nhẹ như chim, một nghệ sĩ đi dây di chuyển với dáng điệu thướt tha của một con sóc trên dòng nước bạc.

Nàng đã ở chỗ cách xa mặt đất sáu mươi bàn chân. Nàng không bước đi trên một sợi dây, nàng giữ thăng bằng trên không trung bằng ảo thuật. Ở chỗ xa nhất mà người ta còn có thể trông thấy nàng, đứng trên sợi dây vô hình của mình, một chiếc gậy giữ thăng bằng trên đôi tay, lướt nhẹ trên nền xanh ngắt của bầu trời, nàng trông như một thiên thần.

Soseki chậm rãi tiến đến gần con sông, và bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của người thiếu phụ. Đó là lần đầu tiên chàng được trông thấy một phụ nữ Âu châu. Nàng có vẻ như đang bay bổng trong không khí.

Bị cuốn hút, chàng tiến lại gần hơn. Giờ đây nàng đã ở ngay trên đầu chàng.

Trên bờ sông, một đám đông đã tụ họp để nhìn sự xuất hiện lạ thường đó.

Soseki tới gần một ông lão, và, vẫn ngước nhìn, chàng hỏi:

"Nàng là ai vậy?"

Ông lão, không buồn nhìn Soseki, đáp với giọng run run:

"Một nghệ sĩ đi dây. Nếu chẳng phải là một con hoàng yến lạc lõng trên tầng không."

 
 

 

27

 

Nàng là một nghệ sĩ đi dây và cuộc đời nàng thu gọn vào một đường nét. Thẳng.

 
 

 

28

 

Nàng đã từ Paris tới đây, từ nước Pháp. Tên nàng là Tuyết. Người ta đã gọi nàng như thế vì nàng có làn da trắng muốt, cặp mắt trong như nước đá và mái tóc vàng óng ả. Mà cũng vì khi di chuyển trên tầng cao, nàng có dáng vẻ nhẹ nhàng của một bông tuyết.

Điều ấy đã xảy ra như thế này. Một hôm nọ, khi nàng còn bé, nàng đã gặp một gánh xiệc lưu động. Nàng đã thán phục vì nó có thể khiến nàng chiêm bao với đôi mắt vẫn mở.

Bất kể hiểm nguy, nàng chọn nó như nghề nghiệp. Sau vài lần do dự, trước tiên nàng chọn đi dây kẽm. Rồi, dần dần, cứ tăng lên mãi trong độ cao cũng như trong nghệ thuật của nàng. Và như thế đấy, nàng đã trở thành một trong những nữ nghệ sĩ đi dây tài năng hàng đầu.

Nàng đã bước lên một sợi dây và từ đấy nàng không để chân xuống đất nữa.

 

[Còn 26 chương]

 

 

----------------
Nguồn: Maxence Fermine, Neige (Paris: Editions du Seuil, 1999) [tủ sách bỏ túi "Points"].
 

 

Đã đăng:

TUYẾT [chương 1-4]  (tiểu thuyết) - Fermine, Maxence
... Tuyết là một bài thơ. Một bài thơ từ những cụm mây rơi xuống thành những bông trắng và nhẹ. Bài thơ ấy đến từ cửa miệng trời, từ bàn tay Thượng Đế. Nó mang một cái tên. Một cái tên trắng ngần. Tuyết... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường] (...)
 
TUYẾT [chương 5-8]  (tiểu thuyết) - Fermine, Maxence
... Mỗi ngày là một bài thơ khác, một hứng cảm lạ, một tấm lụa mới. Mỗi ngày là một cảnh trí khác, một ánh sáng khác. Nhưng vẫn luôn luôn haiku và tuyết. Cho tới khi đêm xuống... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường] (...)
 
TUYẾT [chương 9-12]  (tiểu thuyết) - Fermine, Maxence
... Nó không gợi lên một điều gì lớn lao cho người phàm tục. Nhưng đối với một tâm hồn thơ, nó tựa như một nhịp cầu dẫn đến ánh sáng thiêng liêng. Một nhịp cầu đưa đến ánh sáng trắng của những thiên thần... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường] (...)
 
Tối hôm đó anh làm tình với cô gái đã gặp ở bể nước. Anh giao hợp với cô trên tuyết, dưới cành pha lê của một cây anh đào. Họ ân ái tất thảy bảy lần. Rất mãnh liệt. Cho tới khi dương vật anh tựa như một bông ác-ti-sô già và cái giống của cô gái tựa một lằn rạch tím... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường] (...)
 
... Nhưng anh biết được một điều, một điều thôi, buồn bã và đẹp đẽ: rằng tất nhiên anh rồi cũng sẽ già nua, và cũng phải chết trong một ngày nào đó, thế nhưng tình yêu của anh đối với người thiếu phụ kia sẽ không bao giờ héo úa, và cũng như thế cái khuôn mặt ngủ mê dưới lớp băng sẽ chẳng bao giờ già nua... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường] (...)
 
... Đúng, một phụ nữ. Bởi vì tình yêu chính là bộ môn nghệ thuật khó nhất. Và viết văn, biên vũ, soạn nhạc, vẽ tranh, cũng là một việc tương đồng với âu yếm. Đó là nghệ thuật biểu diễn trò đi dây. Cái khó nhất là bước tới trước mà không vấp ngã... [Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018