thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ [3/10: chương 2]

 

Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu

 

ALAIN ROBBE-GRILLET

(1922-2008)

 

Alain Robbe-Grillet sinh ngày 18.8.1922 ở Brest (Finistère), tây bắc Pháp, trong một gia đình gồm những người làm khoa học và kỹ sư. Ông học trung học ở Lycée de Brest, rồi Lycée Buffon, Lycée Saint-Louis ở Paris. Năm 1946 ông tốt nghiệp Viện Canh nông Quốc gia, được bổ nhiệm làm tại Viện Thống kê Quốc gia Paris, nhưng đến năm 1948 thì nghỉ và về làm việc cho phòng thí nghiệm của người chị ở Seine et Marne, chuyên sưu tầm về sinh vật học. Từ 1949 (năm ông hoàn tất tiểu thuyết đầu tay Un Régicide) đến 1951 ông làm việc tại Viện nghiên cứu trái cây bản xứ, từng ở Maroc, Guadeloupe, Guinée và Martinique để nghiên cứu về trái cây miền nhiệt đới. Trên chuyến tàu thủy đưa ông từ Martinique trở về Paris (1951), Robbe-Grillet khởi sự viết cuốn Les Gommes, và từ cuối năm 1951 những bài điểm sách và nhiều tiểu luận ông viết bắt đầu xuất hiện trên nhiều tạp chí: Critique, Express, La Nouvelle Nouvelle Revue Française – để làm sáng tỏ lối viết của mình. Les Gommes được xuất bản ở nhà Minuit năm 1953 (Giải thưởng Fénéon 1954), và cũng bắt đầu từ năm này ông sang hẳn địa hạt văn chương. Cuốn Le Voyeur (1955, Giải các nhà phê bình) được coi là đánh dấu thời gian ông làm tư vấn cho nhà xuất bản Minuit. Robbe-Grillet lấy vợ năm 1957, năm xuất bản cuốn La Jalousie, và song song với viết lách, ông bắt đầu bước qua điện ảnh, khởi đầu là phim L’Année dernière à Marienbad (1960, Giải Sư tử Vàng tại Venise 1961), rồi đến L’Immortelle (1963), Trans-Europ-Express (1966)... Quan điểm tiểu thuyết của ông, thể hiện qua cuốn Pour un nouveau roman (1963), và hơn hết là trong toàn bộ tác phẩm ông, được bàn cãi khắp thế giới. Năm 1964 ông đi nói chuyện tại nhiều trường đại học ở Mỹ, và từ 1972 về sau dạy nhiều khoá ở New York University, nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Robert Rauschenberg, Roy Lichtenstein...
 
Tác phẩm Robbe-Grillet đi từ văn chương qua điện ảnh, nhiếp ảnh, hội hoạ – đi tới đâu cũng để lại dấu vết một cái nhìn sắc sảo. Con người xưa nay bị ngộ nhận nhiều nhất giờ đây đã được hiểu rõ hơn – về biến chuyển của người viết, tiến trình suy nghĩ, và về ý nghĩa sâu xa của sự tìm kiếm. Ngòi bút Robbe-Grillet khởi sự từ chỗ “tước bỏ trái tim lãng mạn” nơi sự vật, chối từ những yếu tố qui ước, như một câu chuyện kể mang kịch tính, ý niệm một chiều về thời gian, phân tích tâm lý nhân vật, và đạt đến một kiểu mô tả lạnh lùng những hình ảnh và vật thể lặp đi lặp lại, những biến cố ngẫu nhiên của đời sống thường ngày: người đọc bấy giờ tha hồ đoán hiện thực đàng sau những chi tiết và sự kiện. Hiện thực khách quan? Không hẳn thế. Robbe-Grillet luôn nhấn mạnh cái chỗ chủ quan này của thế giới ông mô tả: mọi thứ được nhìn qua mắt của một nhân vật, chứ không phải của một người kể chuyện “cái gì cũng biết”, và người đọc từ nay sẽ không nhìn bản văn như một biểu hiện của thực tại, mà là một thứ ngôn ngữ được vận dụng trong đó chữ đóng vai trò quan trọng như những dấu hiệu chứ không phải là cái chuyên chở ý nghĩa.
 
Hoàng Ngọc Biên

 

________

 

Đã đăng: NHẬP[1]

 

CHƯƠNG 2

 

Khi tôi trở lại một mình, bước nhanh nhẹn trên những đường phố bấy giờ chói chang ánh đèn đường và tủ kính các cửa tiệm, tôi nhận ra trong tôi một sự thay đổi tâm trạng thật đáng kể: một sự hân hoan mới toanh bấy giờ làm thân thể tôi nhảy nhót, lay động những suy nghĩ của tôi, đem màu sắc lại cho những sự vật nhỏ nhất quanh tôi. Bây giờ không còn cái đầu óc hời hợt, mơ hồ và dửng dưng, của buổi sáng nay, mà là một thứ hạnh phúc, còn có thể nói là phấn chấn, không định rõ được lý do...

Có thật là không lý do? Tại sao không thú thật nó? Cuộc gặp gỡ của tôi với Djinn, dĩ nhiên, chính là nguyên do của sự chuyển biến rõ ràng và đột ngột ấy. Thường xuyên, chẳng có lý do gì, tôi cứ nghĩ về nàng. Và hình ảnh nàng, cái dáng dấp của nàng, khuôn mặt của nàng, những cử chỉ của nàng, cái cách nàng cửa động, sau cùng là nụ cười của nàng, quá hiện diện trong đầu óc tôi: công tác của tôi chắc hắn không đòi hỏi tôi phải chú trọng nhiều thế đến con người thể xác của người chủ.

Tôi nhìn những cửa tiệm (khá là xấu trong khu này), những người qua lại, những con chó (thường lệ, tôi ghét chó) một cách thích thú, khoan dung. Tôi muốn cất tiếng hát, muốn chạy. Nhìn mặt ai tôi cũng thấy ra sự vui vẻ. Thường thường, tôi thấy họ ngu đần và buồn bã. Hôm nay, những người ấy được ban một thứ ân huệ không giải thích được.

Công việc mới của tôi hẳn là thú vị: nó là cái thích phiêu lưu. Nhưng nó còn có một cái gì hơn thế nữa: cái thích phiêu lưu ái tình... Xưa nay tôi vẫn là kẻ lãng mạn và viễn mộng, điều đó đã hẳn. Vậy thì, ở đây, tôi phải rất chú ý. óc tưởng tượng quá nhạy bén của tôi có nguy cơ kéo theo những sai lầm trong phán đoán của mình, ngay cả những chuyện ngu ngốc trầm trọng trong hành động.

Đột nhiên, một chi tiết bỏ quên trỗi dậy trong trí nhớ của tôi: tôi cần phải không để ai nhận diện ra mình. Djinn đã nói thế, và đã nhấn mạnh lặp đi lặp lại nhiều lần. Thế mà tôi lại làm đúng cái điều ngược lại: mọi người chắc chắn đều để ý thấy cái hứng khởi vui vẻ của tôi. Cái hứng khởi ấy, chính vì thế, rơi tuột xuống tới mấy tầng.

Tôi bước vào một tiệm cà-phê, và tôi gọi một cái expresso đen. Người Pháp chỉ thích cà-phê Ý; cà-phê "Pháp" không được mạnh lắm. Nhưng cà-phê dở nhất trong tất cả các thứ cà-phê, với họ, là cà-phê Mỹ... Tại sao tôi lại ngĩ đến Mỹ? Một lần nữa, lại là tại vì Djinn! Cái khoản này bắt đầu làm tôi bực mình rồi đấy.

Chuyện ngược đời: ở Pháp, để không bị ai chú ý, người ta gọi một cái cà-phê nhanh của Ý. Có thật là có những "người Pháp", hay những "người Mỹ"? Người Pháp là như thế... Người Pháp ăn cái này, và không ăn cái kia... Người Pháp mặc theo cách này, họ bước đi theo kiểu kia... Nói về ăn, thì có lẽ vẫn còn đúng thật, nhưng càng ngày càng ít đi. Phía trên quầy, có cái danh sách ghi giá bán gắn trên tường; tôi đọc: hot-dog, pizza, sandwiches, rollmops, merguez...

Anh bồi bàn đem đến một tách nước màu rất đen, và đặt trên bàn trước mặt tôi, với hai miếng đường gói chung trong giấy trắng. Sau đó, anh bỏ đi và trên đường đi anh quơ theo một cái ly dơ nằm trên một cái bàn khác.

Bấy giờ tôi khám phá ra tôi không phải là người khách duy nhất trong cái quán rượu trước đó trống trơn khi tôi mới bước vào. Tôi đang có một cô ngồi bên cạnh, bề ngoài như một sinh viên, mặc một cái áo vét đỏ và đang chúi mũi đọc một cuốn sách y khoa to tổ bố.

Trong khi tôi quan sát cô, cô có vẻ như đoán được cái nhìn của tôi về phía cô, và cô ngẩng mặt lên nhìn về phía tôi. Tôi chợt nghĩ một cách trớ trêu: xong rồi, ta sẽ được một điểm xấu, ta đã để lộ diện rồi! Cô sinh viên lặng lẽ ngắm nghía tôi một lúc lâu, như là không trông thấy tôi. Rồi sau đó trở lại chúi mũi vào cuốn sách của mình.

Nhưng vài giây sau, cô lại xem xét tôi, và lần này, cô cất tiếng, giọng lừng chừng, với một sự vững chắc trầm tĩnh: "Bảy giờ năm phút. Ông sắp trễ rồi." Cô nói mà không nhìn đồng hồ của mình nữa. Tôi nhìn đồng hồ của tôi một cách máy móc. Quả đúng là bảy giờ năm phút. Và tôi có cái hẹn lúc bảy giờ mười lăm ở nhà ga phía Bắc.

Như thế cô gái này là một nữ gián điệp, do Djinn cử ra trên đường đi của tôi để canh chừng cái sự tận tuỵ nghề nghiệp của tôi. "Cô làm việc với chúng tôi?" tôi hỏi, sau một hồi suy nghĩ. Rồi, vì cô vẫn cứ câm miệng, tôi hỏi nữa: "Làm sao cô biết rõ về tôi như thế? Cô biết tôi là ai, tôi đi đâu, tôi phải làm gì, và vào lúc mấy giờ. Vậy ra cô là bạn của Djinn?"

Cô nhìn kỹ tôi với một sự chú ý lạnh lùng, chắc chắn là với vẻ nghiêm khắc, bởi vì rốt cuộc cô tuyên bố: "Ông nói nhiều quá." Và cô lại chúi mũi vào công việc của mình. Ba mươi giây đồng hồ sau, vẫn không ngừng đọc sách, cô cất lên mấy tiếng, khá chậm rãi, như là tự nói với mình. Cô có vẻ như đang cố đọc cho hiểu một đoạn văn khó trong sách: "Tiếp tục đi trên đại lộ, con đường ông đang tìm là con đường thứ ba bên phải."

Thật ra vị thần hộ mệnh ấy có lý: nếu tôi cứ ngồi đó bàn cãi, tôi sẽ trễ mất. "Cám ơn cô," tôi nói, biểu lộ sự độc lập của mình bằng một cái chào long trọng thái quá. Tôi đứng dậy, tôi đi tới quầy, tôi trả tiền nước và tôi đẩy cánh cửa kính. Khi đã ra tới bên kia cửa, tôi ném một cái nhìn ra sau, về phía cái phòng lớn ánh sáng chói chang, nơi không có ai khác hơn ngoài cô gái mặc cái áo vét đỏ. Cô không còn đọc sách nữa. Cô đã gấp cuốn sách to tổ bố lại, để trên bàn, và cô đưa mắt theo dõi tôi không chút nào ngại ngùng, với một vẻ trầm tĩnh và cứng rắn.

Mặc dầu muốn làm ngược lại, để chứng tỏ sự tự do của mình, tôi ngoan ngoãn tiếp tục theo đúng đường đi được chỉ dẫn, lên đại lộ, giữa đám người đàn ông và đàn bà đang từ chỗ làm trở về nhà. Họ không còn tỏ ra vô tâm mà còn đáng yêu nữa. Bây giờ thì tôi tin là mọi người đang canh chừng tôi. Đến khúc quanh thứ ba, tôi rẽ qua phải, đi vào một con hẻm vắng và tối.

Không có xe cộ qua lại cũng như không có xe đậu, chỉ sáng được là do rải rác cách xa có những ngọn đèn đường cũ rích màu vàng nhạt chập chờn, lại dường như bị chính những cư dân tại đây bỏ phế — còn đường tầm thường thứ yếu này tạo ra một sự tương phản toàn diện với đại lộ mà tôi vừa bỏ lại đàng sau. Nhà cửa thấp (nhiều nhất là một tầng) và nghèo, không một chút ánh sáng ở các cửa sổ. Vả chăng ở đây nhiều nhất là những nhà kho và xưởng. Mặt đất thì không bằng phẳng, lát đá theo kiểu xưa, tình trạng rất bết, còn giữ lại những vũng nước bẩn trong những chỗ trũng.

Tôi lưỡng lự không muốn tiến sâu vào con đường chật hẹp và kéo dài này, trông giống như một ngõ cụt: mặc dầu đứng trong vùng tranh tối tranh sáng, tôi vẫn thấy rõ được một bức thành không lối ra, rõ ràng là bị bịt kín ở đầu kia đường. Tuy nhiên, ở lối vào, một tấm biển màu xanh mang một tên đường thật sự, nghĩa là có hai lối ra: "Đường Vercingétorix III". Tôi không biết là có một con đường Vercingétorix thứ ba, không biết có cả một con đường thứ hai...

Suy nghĩ kỹ, có lẽ có một lối đi, ở đầu kia đường, qua phải hay qua trái. Thế nhưng không thấy có xe cộ là điều đáng ngại. Tôi có đi đúng đường không đây? Ý tôi lúc bấy giờ là đi qua con đường sau đó, trông có vẻ quen thuộc. Tôi chắc hắn nó đưa tới nhà ga gần như cũng mau như vậy. Chính sự góp ý của cô sinh viên y khoa đã đưa tôi tới con đường gọi là đường tắt này.

Thời giờ thúc bách. Cái hẹn của tôi ở nhà ga phía Bắc, bây giờ, chỉ còn dưới năm phút là tới. Con đường hẻm hẻo lánh này, dù sao, cũng tiện cho việc đi nhanh: không một chiếc xe nào hay một người bộ hành nào cản đường, và cũng không có những ngã tư ngã ba.

Cái mạo hiểm đã được chấp nhận (hơi tình cờ, than ôi!), bây giờ chỉ còn phải làm sao đặt chân một cách cẩn thận lên những nơi đi qua đi lại được trên cái mặt đường không có hai bên lề, chỗ tôi đang bước những bước dài nhất có thể bước. Tôi đi mau tới nỗi tôi có cảm tưởng mình đang bay, nhưng trong những giấc mơ.

Trong lúc này, tôi không biết ý nghĩa thật đúng cái công tác của tôi: nó chỉ gồm có mỗi việc phát hiện một du khách nào đó (hình dáng người ấy tôi có rõ ràng trong đầu) đến Paris trên chuyến xe lửa từ Amsterdam, lúc 19 giờ 12 phút. Sau đó, là bí mật theo dõi nhân vật ấy cho tới tận khách sạn của y. Đến đấy là chỉ có như thế. Tôi hy vọng sớm biết được đoạn kế tiếp.

Tôi chưa đi đến được nửa con đường vô tận kia, đột nhiên, một đứa trẻ con lao tới cách mười mét ngay trước mặt tôi. Nó chạy ra từ một căn nhà bên tay phải, cái nhà cao hơn những nhà lân cận một tí, và băng qua mặt đường hết tốc lực của dôi chân trẻ trung của nó.

Trong khi chạy, nó vấp phải một viên đá lát nhô lên và té vào một vũng bùn xám đen. Nó không khóc. Bây giờ nó không nhúc nhích, cả người nó nằm bò càng, hai tay dang phía trước.

Bước tới mấy bước, tôi đứng sát cạnh cái thân người nhỏ nhắn nằm bất động. Tôi thận trọng lật ngửa cái thân người ấy. Đó là một thằng bé trạc tuổi mười hai, ăn mặc lạ lùng: giống như một chú bé sống ở thế kỷ trước, với một chiếc quần bó ở phần trên đầu gối bởi một thứ nịt gối, và một cái áo choàng rộng, khá ngắn, bó chặt vào mình bằng một cái thắt lưng da lớn.

Mắt thằng bé mở lớn; nhưng hai con ngươi thì bất động. Miệng nó không ngậm, cặp môi hơi run. Tay chân nó mềm nhũn và không cử động, cũng như cổ, và toàn thân nó giống như một con búp bê nhồi giẻ.

May là nó không té vào bùn, mà chỉ sém ở mé cái chỗ trũng nước bẩn. Nước ở đây, nhìn gần hơn, có vẻ nhớt nhầy, một màu nâu hầu như đỏ chứ không đen. Một nỗi sợ khó hiểu đột nhiên lấn vào tôi. Có phải cái màu nước lạ hoắc này làm tôi sợ? Hay là cái gì khác?

Tôi xem đồng hồ. Bây giờ là 7 giờ 9 phút. Tôi sẽ không có mặt ở nhà ga đón chuyến xe lửa từ Amsterdam đến. Toàn bộ cuộc phiêu lưu của tôi, bắt đầu từ sáng nay, vậy là đã đi đong. Thế nhưng tôi không thể bỏ thằng bé bị thương một mình, dù cho có yêu Djinn... Mặc kệ! Dù sao, tôi cũng đã trễ chuyến xe lửa.

Cánh cửa bên phải tôi mở rộng. Thằng bé chắc chắn là từ nhà ấy chạy ra. Thế nhưng, bên trong nhà không thấy có một chút ánh đèn nào, cả tầng dưới lẫn tầng trên. Tôi đưa tay ôm người thằng bé nhấc lên. Nó gầy quá mức, nhẹ y như một con chim.

Dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn đường gần ngay đó, tôi thấy mặt nó rõ hơn: gương mặt ấy không mang một thương tích nào rõ ràng, nó trầm tĩnh và đẹp, nhưng đặc biệt rất xanh xao. Đầu nó có thể đã đập vào một viên đá lát, và nó bị bất tỉnh bởi cái va chạm đó. Tuy nhiên, nó đã ngã về phía trước, tay duỗi thẳng. Vậy thì cái đầu đã không đụng mặt đất.

Tôi đi qua ngưỡng cửa căn nhà, cái gánh nặng mỏng manh ôm trên tay. Tôi thận trọng tiến vào một hành lang dài nằm thẳng góc với con đường ngoài kia. Mọi thứ chung quanh đều đen và lặng.

Không gặp một lối ra nào — một cánh cửa bên trong hoặc một khúc quanh — tôi đi đến một cái cầu thang gỗ. Bấy giờ hình như tôi thoáng thấy có một chút sáng yếu ớt ở tầng lầu một. Tôi bước lên bằng những bước chậm rãi, bởi vì tôi sợ vấp, hoặc sợ hai chân hay đầu thằng bé, lúc ấy vẫn còn bất tỉnh, đụng phải một chướng ngại vật nào đó không trông thấy được.

? đầu cầu thang tầng lầu một có hai cánh cửa. Một cánh đóng, cánh kia thì khép hờ. Đây chính là nơi toả ra cái ánh sáng yếu ớt kia. Tôi đưa đầu gối đẩy cánh cửa và tôi bước vào một căn phòng kích thước mênh mông, với hai chiếc cửa sổ ngó ra đường.

Trong phòng không có đèn. Chỉ là ánh sáng những ngọn đèn đường từ bên ngoài rọi vào, qua những cửa kính không màn che; ánh sáng đủ để tôi có thể phân biệt những đường viền đồ đạc: một cái bàn gỗ trắng, ba hay bốn chiếc ghế không đồng bộ, mặt ghế nát vỡ ít nhiều, một chiếc giường sắt kiểu Tây-ban-nha và nhiều rương tráp đủ dạng đủ cỡ.

Giường có một cái nệm nhưng không có ra trải, cũng không có chăn mền gì cả. Tôi đặt thằng bé, đặt hết sức nhẹ nhàng, xuống chỗ nằm thô sơ này. Nó vẫn còn bất tỉnh, không cho thấy một dấu hiệu nào là còn sống, trừ mỗi một nhịp thở rất yếu. Nhịp tim nó đập gần như không sao nhận ra được. Nhưng đôi mắt to của nó vẫn mở, vẫn sáng rực trong vùng tranh tối tranh sáng. Tôi đưa mắt tìm một cái núm bật đèn, hay một cái gì khác để có một chút sáng. Nhưng tôi chẳng thấy có cái gì loại như thế. Bấy giờ tôi mới nhận ra là khắp phòng chẳng có một ngọn đèn nào.

Tôi trở ra chỗ đầu cầu thang và tôi cất tiếng gọi, giọng ban đầu khe khẽ, và sau đó lớn hơn. Không một tiếng trả lời nào đến tai tôi. Cả ngôi nhà chìm đắm trong một sự im lặng toàn diện, như là bị bỏ rớt lại. Tôi không biết phải làm gì. Chính tôi cũng đang bị bỏ rớt lại, ngoài thời gian.

Thế rồi một ý nghĩa đột xuất đưa bước chân tôi trở lại những cánh cửa sổ của căn phòng: thằng bé ban nãy vừa chạy ra có chút xíu như thế là để đi đâu? Nó băng qua mặt đường, từ bên này qua tới bên kia, một đường thẳng băng. Vậy thì có thể nó ngụ ở căn nhà đối diện.

Thế nhưng, phía bên kia đường chẳng có một căn nhà nào cả: chỉ là một bức tường gạch dài, không thấy có một cửa trổ nào cả. Xa hơn một chút về bên trái, là một hàng rào xiêu vẹo. Tôi trở lại cầu thang và tôi cất tiếng gọi lần nữa, vẫn vô ích. Tôi lắng nghe tiếng của chính tim tôi đập. Lần này, tôi có cảm tưởng rất mạnh, là thời gian đã ngừng lại.

Một tiếng lách tách nhẹ trong phòng gọi tôi trở lại chỗ người bệnh của tôi. Cách hai bước đến chỗ giường, tôi bỗng có một động tác hoảng sợ, một bước thối lui theo bản năng: thằng bé vẫn nằm đúng cái tư thế lúc nãy, nhưng bây giờ nó có một cái thánh giá lớn đặt trên ngực, một cái thánh giá bằng gỗ đậm với một hình chúa bằng bạc, từ hai vai dài xuống suốt thân mình.

Tôi nhìn quanh mọi hướng. Không có ai ngoài thằng bé đang nằm. Vậy nên thoạt đầu tôi nghĩ chính thằng bé này là tác giả cái màn dàn cảnh rùng rợn này: nó giả vờ bất tỉnh, nhưng lại cử động khi tôi quay lưng ra chỗ khác. Tôi ghé sát mắt quan sát gương mặt nó, nét mặt bất động y như những nét trên một cái mặt bằng sáp, và da mặt cũng nhợt nhạt như thế. Nó có vẻ như một tượng người chết nằm ngửa trên mộ phần.

Đến lúc ấy, ngẩng đầu lên, tôi nhận ra sự hiện diện của một đứa bé thứ hai, ở ngưỡng cửa căn phòng, một con bé tuổi khoảng từ bảy tới tám, đứng bất động ngay giữa khung cửa lớn. Đôi mắt nó dán chặt vào tôi.

Cô bé từ đâu đến? Bằng cách nào nó đã đến đây? Không một tiếng động nào báo cho biết nó đến gần. Tuy nhiên, trong ánh sáng lờ mờ, tôi trông thấy rõ chiếc áo dài trắng của nó, áo theo kiểu xưa, với một cái áo bó khít khao và một cái váy rộng gấp nếp, phồng nhưng cũng khá căng cứng, phủ xuống đến tận gót.

"Chào em," tôi nói, "mẹ em có đây không?"

Con bé tiếp tục im lặng nhìn tôi. Toàn bộ cảnh này không thực, như là ảo giác, cứng đơ, đến độ âm thanh giọng nói của tôi vang lên lạc điệu một cách lạ lùng ngay cả với chính tôi, và nó như không có thật, trong cái không gian đã bị hoá phép, dưới thứ ánh sáng xanh kỳ lạ...

Bởi không có giải pháp nào khác hơn là nói đại thêm vài tiếng nữa, tôi thốt lên, một cách khó khăn, câu nói tầm thường này:

"Anh của em bị té."

Ngay những lời tôi thốt ra cũng không đánh thức được một câu trả lời hay một tiếng dội, như những đồ vật vô ích, chẳng có chút ý nghĩa. Và im lặng trở lại. Tôi có thực sự đã nói? Cái lạnh, cái mất cảm giác, sự tê liệt bây giờ bắt đầu len vào tay chân tôi.

 

[còn 6 chương và bài KẾT]
 
--------------
Trích trong Alain Robbe-Grillet, DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ, Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu (Trình Bầy / Tủ sách Nhân & Dân, 2003).
 

 

 

Đã đăng:

... Không có gì — tôi muốn nói là không một bằng chứng quyết định nào — có thể cho phép bất cứ ai xếp câu chuyện của Simon Lecœur vào loại những chuyện thuần tuý tiểu thuyết. Ngược lại người ta có thể khẳng định là những yếu tố nhiều và quan trọng của bản văn không chặt chẽ, đầy lỗ hổng, hoặc như là bị nứt nẻ này, ăn khớp với thực tế (thực tế mà ai nấy đều biết) với một sự nhấn mạnh bởi vì là rõ ràng, nên làm ta thấy rối tung. Và... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Tôi đến nơi đúng giờ ấn định: bấy giờ là sáu giờ rưỡi. Trời đã gần như tối. Cửa nhà kho không đóng. Tôi đẩy cửa lớn bước vào, cánh cửa không còn ổ khoá... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018