thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ [7/10: chương 6]

 

Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu

 

ALAIN ROBBE-GRILLET

(1922-2008)

 

Alain Robbe-Grillet sinh ngày 18.8.1922 ở Brest (Finistère), tây bắc Pháp, trong một gia đình gồm những người làm khoa học và kỹ sư. Ông học trung học ở Lycée de Brest, rồi Lycée Buffon, Lycée Saint-Louis ở Paris. Năm 1946 ông tốt nghiệp Viện Canh nông Quốc gia, được bổ nhiệm làm tại Viện Thống kê Quốc gia Paris, nhưng đến năm 1948 thì nghỉ và về làm việc cho phòng thí nghiệm của người chị ở Seine et Marne, chuyên sưu tầm về sinh vật học. Từ 1949 (năm ông hoàn tất tiểu thuyết đầu tay Un Régicide) đến 1951 ông làm việc tại Viện nghiên cứu trái cây bản xứ, từng ở Maroc, Guadeloupe, Guinée và Martinique để nghiên cứu về trái cây miền nhiệt đới. Trên chuyến tàu thủy đưa ông từ Martinique trở về Paris (1951), Robbe-Grillet khởi sự viết cuốn Les Gommes, và từ cuối năm 1951 những bài điểm sách và nhiều tiểu luận ông viết bắt đầu xuất hiện trên nhiều tạp chí: Critique, Express, La Nouvelle Nouvelle Revue Française – để làm sáng tỏ lối viết của mình. Les Gommes được xuất bản ở nhà Minuit năm 1953 (Giải thưởng Fénéon 1954), và cũng bắt đầu từ năm này ông sang hẳn địa hạt văn chương. Cuốn Le Voyeur (1955, Giải các nhà phê bình) được coi là đánh dấu thời gian ông làm tư vấn cho nhà xuất bản Minuit. Robbe-Grillet lấy vợ năm 1957, năm xuất bản cuốn La Jalousie, và song song với viết lách, ông bắt đầu bước qua điện ảnh, khởi đầu là phim L’Année dernière à Marienbad (1960, Giải Sư tử Vàng tại Venise 1961), rồi đến L’Immortelle (1963), Trans-Europ-Express (1966)... Quan điểm tiểu thuyết của ông, thể hiện qua cuốn Pour un nouveau roman (1963), và hơn hết là trong toàn bộ tác phẩm ông, được bàn cãi khắp thế giới. Năm 1964 ông đi nói chuyện tại nhiều trường đại học ở Mỹ, và từ 1972 về sau dạy nhiều khoá ở New York University, nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Robert Rauschenberg, Roy Lichtenstein...
 
Tác phẩm Robbe-Grillet đi từ văn chương qua điện ảnh, nhiếp ảnh, hội hoạ – đi tới đâu cũng để lại dấu vết một cái nhìn sắc sảo. Con người xưa nay bị ngộ nhận nhiều nhất giờ đây đã được hiểu rõ hơn – về biến chuyển của người viết, tiến trình suy nghĩ, và về ý nghĩa sâu xa của sự tìm kiếm. Ngòi bút Robbe-Grillet khởi sự từ chỗ “tước bỏ trái tim lãng mạn” nơi sự vật, chối từ những yếu tố qui ước, như một câu chuyện kể mang kịch tính, ý niệm một chiều về thời gian, phân tích tâm lý nhân vật, và đạt đến một kiểu mô tả lạnh lùng những hình ảnh và vật thể lặp đi lặp lại, những biến cố ngẫu nhiên của đời sống thường ngày: người đọc bấy giờ tha hồ đoán hiện thực đàng sau những chi tiết và sự kiện. Hiện thực khách quan? Không hẳn thế. Robbe-Grillet luôn nhấn mạnh cái chỗ chủ quan này của thế giới ông mô tả: mọi thứ được nhìn qua mắt của một nhân vật, chứ không phải của một người kể chuyện “cái gì cũng biết”, và người đọc từ nay sẽ không nhìn bản văn như một biểu hiện của thực tại, mà là một thứ ngôn ngữ được vận dụng trong đó chữ đóng vai trò quan trọng như những dấu hiệu chứ không phải là cái chuyên chở ý nghĩa.
 
Hoàng Ngọc Biên

 

________

 

Đã đăng: NHẬP[1][2][3][4][5]

 

CHƯƠNG 6

 

Simon Lecœur thức dậy, miệng nhão nhẹt y như là anh ta đã nhậu nhiều quá, giữa những cái thùng chất đống và những máy móc không còn dùng được nữa. Anh ta tỉnh lại dần, với cái ấn tượng mơ hồ là anh vừa ra khỏi một cơn ác mộng dài. Anh nhận ra ngay cái cảnh tượng chung quanh mình. Đây là cái xưởng bỏ hoang, nơi anh đã làm quen với Djinn. Gần như liền lúc ấy, anh nhớ ra điểm xuất phát sứ mạng của anh:

“Mình phải ra nhà ga phía Bắc,” anh nghĩ. “Mình còn phải nhanh chân mới được, bởi vì tới kịp giờ đến của chuyến xe lửa từ Amsterdam là điều rất quan trọng. Nếu mình không hoàn thành đàng hoàng cái công tác đầu tiên này, mình sợ e sau đó người ta sẽ không còn tin cậy mình nữa, và e người ta sẽ không để mình đi xa hơn...”

Nhưng Simon Lecœur cảm giác một cách mơ hồ rằng toàn bộ câu chuyện nhà ga ấy, chuyến xe lửa, chuyện cái người hành khách mà anh không được trễ hẹn kia, là đã quá hạn, đã tuột lại đàng sau: cái tương lai kia đã thuộc về quá khứ rồi. Có một cái gì đó làm rối tung không gian và thời gian. Và Simon còn không làm sao có thể xác định được hoàn cảnh của riêng anh trong chuyện này. Cái gì đã xảy ra với anh? Và hồi nào? Và ở đâu?

Một mặt, bây giờ anh đang nằm dài dưới đất, mà không có cách gì anh biết ra được vì sao, giữa bụi bặm và những mảnh vụn linh tinh rải đầy nền trong xưởng, giữa những vật liệu và máy móc dụng cụ nằm xếp xó. Mặt khác, trời bấy giờ đã sáng hẳn. Nắng một buổi mai sáng đẹp trời mùa xuân đã lên cao, bên ngoài, chiếu rực rỡ lên những mặt kính đầy bụi của mái trần; trong khi, trái lại, đêm xuống dần khi Djinn xuất hiện trước mặt anh, vẫn trong những căn phòng đã được cải dụng kia, với áo mưa và nón đàn ông...

Simon bất chợt nhớ lại một cảnh mới diễn ra đây, mà giờ đây anh nhìn thấy lại với một sự chính xác tột bực: một thằng bé khoảng mười tuổi, nhìn hoàn toàn bất động như thế, trong tư thế quá ư cứng đơ và da mặt bằng sáp, nằm dài trên một cái giường sắt nệm để trần, với một cái thánh giá lớn đặt trên ngực, dưới ánh sáng chập chờn của ba ngọn nến trên một cây đèn cắm bằng đồng...

Một hình ảnh khác tiếp sau hình ảnh kia, cũng rõ ràng và cũng thoáng nhanh như thế: vẫn thằng bé ấy, và vẫn ăn mặc như ở thế kỷ vừa qua, tay trái dẫn một người mù. Người mù thì bàn tay còn lại bóp chặt tay nắm uốn cong của một cái gậy màu trắng, mà anh ta dùng để nhận ra mặt đất trước chân bước của mình. Cặp kính đen to tổ bố che mất nửa mặt của anh ta. Anh ta mặc một cái áo blouson da mịn màu trắng, có khoá kéo, mở rộng để lộ chiếc áo đan sợi màu xanh tươi...

Một ý nghĩa bất chợt thoáng qua đầu Simon Lecœur. Anh đưa bàn tay lên ngực mình. Những ngón tay của anh không tìm thấy cây thánh giá bằng gỗ mun (mặc dầu chính anh cũng đang nằm ngửa trong tư thế đúng y như tư thế thằng bé vào cái đêm nó nằm chết), nhưng anh nhận ra sự hiện diện của cái áo blouson bằng da lông cừu non và cái áo tròng đầu đan bằng sợi dệt từ lông dê ở Cachemir. Anh nhớ quả là mình đã chọn những thứ đó để mặc đến chỗ hẹn đêm đó, mặc dù những chiếc áo màu xanh và trắng ấy, vừa trang nhã mà cũng vừa cẩu thả, anh không thấy có vẻ gì hoàn toàn thích hợp cho chuyện đi kiếm việc làm...

“Đâu có,” anh tự bảo, “đây không thể là cuộc hẹn của đêm ấy. Đêm ấy chưa tới mà cuộc hẹn thì đã xảy ra rồi. Vậy thì là đêm hôm qua, chắc là thế... Còn về hai cảnh tượng đều có mặt cùng thằng bé kia, cảnh thứ hai phải xảy ra trước, bởi lẽ, trong cảnh thứ nhất, thằng bé nằm trên giường người chết... Thế nhưng những hình ảnh ấy từ đâu đến?”

Simon không biết mình có nên thừa nhận chúng theo tiêu chuẩn những kỷ niệm, y như với những biến cố xảy ra trong đời sống thực của anh; hay có phải đúng hơn đây là những hình tượng tạo thành trong những giấc mơ, và bây giờ nối nhau diễu hành trong đầu chúng ta lúc chúng ta tỉnh dậy, và thường thường là theo một thứ tự thời gian đảo ngược.

Dù sao chăng nữa, đã có một lỗ hổng trong thời khoá biểu của anh ta. Quả thực dường như Simon khó có thể ngủ trên mười hai tiếng đồng hồ ở một chỗ không tiện nghi như thế này...trừ phi là do những viên thuốc ngủ, hay những thứ ma túy mạnh hơn...

Một hình ảnh mới, mà anh ta không biết từ đâu đến, bất ngờ xuất hiện trong trí nhớ rối loạn của anh: một đường hẻm nhỏ thẳng tắp, đá lát lỗ chỗ, được chiếu sáng lờ mờ bởi những ngọn đèn đường cũ, nằm giữa những hàng rào sụp đổ, những tường thành bít kín và những túp lều đổ nát đến phân nửa... Và lần nữa vẫn thằng bé ấy chạy túa ra từ một căn nhà, chạy được năm hay sáu bước và ngã nằm dài trong một vũng nước màu hơi đỏ...

Simon Lecœur đứng dậy một cách khó nhọc. Anh cảm thấy rã rời, mệt mỏi, cái đầu nặng trĩu. “Mình phải uống một tách cà-phê, anh nghĩ, và phải uống một viên aspirine.” Anh nhớ là, khi từ đường lớn đi vào, rất gần đây, anh đã bắt gặp nhiều tiệm cà-phê và tiệm rượu. Simon đưa lòng bàn tay phủi mấy cái trên vải trắng chiếc quần anh mặc, bấy giờ nhầu nát, không ra hình thù gì và vấy đầy bụi đen; nhưng dĩ nhiên anh không lấy lại được cái vẻ bình thường của mình.

Khi quay người lại để đi, anh thấy có một người nào khác cũng đang nằm dài dưới đất, cách chỗ anh vài mét, trong một tư thế nằm giống y như anh. Thân người không xuất hiện toàn bộ: một cái thùng to kếch sù che mất phần trên của nửa thân trên và cái đầu. Simon tiến lại gần, một cách thận trọng. Anh giật bắn người khi nhận ra khuôn mặt: đó là khuôn mặt của Djinn, không thể có chút nghi ngờ nào.

Người thiếu nữ nằm chắn ngang lối đi, vẫn với chiếc áo mưa có cái nút, cặp kính mát và chiếc mũ dạ mềm, lạ là vẫn nằm nguyên trên đầu khi cô ngã xuống đất, chấn thương ở lưng do một lưỡi dao hay một viên đạn nào đó. Cô không có một vết thương nào rõ ràng, nhưng một vũng máu, đã đông lại, từ phía dưới ngực lan xuống trên nền xi măng hơi đen, chung quanh bờ vai trái.

Nhiều phút đồng hồ trôi qua trước khi Simon quyết định làm một động tác gì đó. Anh ta đứng đấy, không nhúc nhích, không hiểu, và cũng không nghĩ ra được một việc gì phải làm. Rốt cuộc, anh cúi người xuống, cố vượt qua sự kinh hãi của mình, và muốn đụng vào tay xác chết...

Cái xác không những đã cứng đơ và lạnh, mà anh thấy nó còn như là quá cứng, quá rắn chắc, đến nổi người ta không thể tin nó là bằng thịt và bằng những khớp xương của con người. Để đánh tan những nghi ngờ sau của mình, và mặc dù có một cảm giác ghê sợ khó hiểu bấy giờ ghìm anh lại, anh vẫn gồng mình sờ cả tay chân, ngực, da trên má và môi, để thăm dò...

Cái giả tạo hiển nhiên của toàn thân thể làm Simon hoàn toàn tin về sự lầm lẫn của mình, bây giờ đang lặp lại, chỉ cách nhau có vài giờ, cái lầm lẫn khi anh mới đến: anh lại đứng trước một hình nhân bằng giấy cứng bồi. Tuy nhiên, cái vũng màu đỏ đậm không phải là chất dẻo: Simon dùng đầu ngón tay kiểm tra tính chất hơi ẩm ướt và nhớt nhầy của nó. Song người ta cũng không thể khẳng định đây là máu thật.

Tất cả những sự việc ấy với Simon Lecœur có vẻ phi lý; nhưng anh nghi, một cách mù mờ, rằng những cái giả vờ kia có thể vẫn có một ý nghĩa chính xác nào đó, mặc dù cái ý nghĩa chính xác đó anh không biết gì... Cái hình nhân bị ám sát nằm đúng cái chỗ Djinn đứng khi hai người gặp nhau ngắn ngủi đêm hôm trước; mặc dù Simon nhớ rõ đã nhìn thấy nó, lần ấy, ở tầng trệt... Trừ phi bấy giờ anh lẫn lộn hai cảnh nối tiếp nhau, cảnh có mặt Djinn và cảnh có cái hình nhân ấy.

Anh quyết định bỏ đi càng nhanh càng tốt, vì sợ những chuyện bí hiểm khác sẽ còn xảy đến làm vấn đề rối thêm. Những bí hiểm anh đã có đủ rồi, cho nhiều giờ suy nghĩ. Nhưng, dù sao, càng suy nghĩ nhiều về nó, anh càng thấy ít nhận ra sợi dây dẫn đường.

Anh bước xuống cầu thang. Ở tầng trệt, bản sao y nguyên thân xác Djinn vẫn còn ở chỗ cũ, vẫn dựa hờ trên những cái thùng kia, hai tay đút trong túi áo mưa, một cái mỉm cười khó nhận thấy đọng lại trên đôi môi bằng sáp. Vậy thì trên kia cũng là một hình nhân thứ hai, mọi điểm đều giống nhau. Cái nụ cười nhếch mép mỉa mai trên môi không còn giống tí nào nụ cười của Jane Frank. Simon chỉ có cái cảm giác khó chịu là có ai đó đang giỡn mặt với mình. Anh nhún vai và đi về phía cửa kính mở ra sân.

... Anh chưa qua khỏi cánh cửa, thì cái hình nhân giả nhẹ nhàng đứng lên và nụ cười càng rõ nét hơn. Bàn tay phải rút ra khỏi túi áo mưa, đưa lên tận mặt và từ từ lột cặp kính đen... Đôi mắt đẹp màu xanh lá lại hiện ra...

Chính Simon là người, trong khi bước đi, đã tưởng tượng ra sự huyễn hoặc sau cùng ấy. Nhưng anh ta chẳng buồn ngoảnh lại, để phá vỡ hoàn toàn sự giống nhau yếu ớt kia, bởi vì anh vẫn còn tin chắc là, lần này, anh chỉ thấy một người phụ nữ Mỹ ở viện bảo tàng Grevin. Anh băng qua sân, bước khỏi cánh cửa bên ngoài; thế rồi, đến cuối tít con đường nhỏ, anh đổ ra đại lộ tấp nập khách bộ hành, như đã dự đoán. Simon bấy giờ cảm thấy người nhẹ nhõm hẳn, tựa như anh đã trở về thế giới có thực, sau một thời gian vắng mặt triền miên.

Lúc ấy, căn cứ theo vị trí mặt trời, có thể đã gần trưa. Bởi đêm hôm qua Simon không lên giây đồng hồ đeo tay của mình đúng lúc, quả nó đã ngưng chạy; anh nhận ra điều này cũng vừa mới đây thôi. Khi đã lấy lại hết sự tự tin của mình, anh bắt đầu bước những bước nhanh nhẹn. Nhưng anh không thấy một quán rượu hay một quán bia nào. Mặc dầu, trong trí nhớ của anh, đại lộ có nhiều những quán loại này, rải suốt chiều dài của nó, còn những tiệm cà-phê thực ra đi một quãng xa hơn mới bắt đầu có. Anh bước vào quán đầu tiên anh nhìn thấy.

Simon tức khắc nhận ra chỗ này: đây chính là nơi anh đã uống một tách cà-phê đen, khi lần đầu tiên đi ra khỏi cái xưởng bỏ hoang. Nhưng hôm nay nhiều khách hàng ngồi ở đây, và Simon có khó khăn phần nào khi tìm cho được một cái bàn trống. Rốt cuộc anh tìm được một cái, trong một góc tối, và anh ngồi xuống, mặt hướng ra phía phòng.

Anh bồi bàn ít nói đêm hôm qua, mặc vét màu trắng và quần đen, hôm nay không làm việc, trừ phi là anh ta đã đi vào bếp lấy một đĩa đồ ăn nóng nào đó. Một người đàn bà lớn tuổi, mặc một chiếc blouse xám, thay chỗ anh ta. Bà tiến đến chỗ người mới tới để hỏi xem khách muốn kêu gì. Simon nói với bà là anh chỉ muốn một cái cà-phê đen, rất đậm, với một ly nước robinet.

Khi bà trở lại, bưng trên khay cái tách nhỏ màu trắng, một cái lọ và một cái ly lớn, anh hỏi bà, với cái vẻ làm ra hết sức vô tình, có phải anh hầu bàn hôm nay không có mặt hay không. Bà không trả lời ngay, y như bà còn suy nghĩ về câu hỏi; sau đó bà nói, giọng có một cái gì lo âu:

“Ông muốn nói anh nào?”

“Người mặc áo vét trắng, thường phục vụ ở đây.”

“Lúc nào cũng là tôi phục vụ khách ở đây,” bà ta nói. “Không có ai khác, ngay cả vào những giờ cao điểm.”

“Nhưng, mới hôm qua, tôi đã nhìn thấy...”

“Hôm qua, ông không thể nhìn thấy gì cả: hôm qua là ngày tiệm đóng cửa.”

Và bà ta bỏ đi, vì bận công việc. Giọng nói bà thực tình không có gì khó chịu, nhưng rất mệt mỏi, và nghe còn buồn nữa. Simon quan sát chung quanh. Anh có nhầm tiệm cà-phê này với một tiệm khác có cách sắp xếp như nhau?

Không kể sự hiện diện của nhiều khách hàng, những thợ thuyền và những nhân viên văn phòng cả nam lẫn nữ, sự giống nhau dù sao cũng làm ta bối rối: vẫn cùng cái vách kính ngăn phòng khách với vỉa hè, bàn vẫn là những cái bàn ấy và được sắp xếp y như thế; chai lọ, sau quầy rượu, cũng được sắp thành dãy cùng một kiểu, và vẫn những bảng quảng cáo nhỏ bày phía trên dãy trên cùng. Một trong những quảng cáo ấy đưa ra cùng những thức ăn nhanh: bánh mì kẹp nhân, bánh mì nướng kẹp giam bông phó mát, pizza, vân vân.

“Mặc dù từ lâu, ở đây người ta không còn bày bán pizza,” Simon Lecœur nghĩ. Sau đó, anh ngạc nhiên thấy mình bỗng dưng tin chắc một điều như thế, mà lại còn tin hết mình nữa. Anh uống tách cà-phê liền một hơi. Bởi lẽ giá pizza có ghi trên quảng cáo, hẳn là người ta có thể gọi pizza. Tại sao Simon đột ngột tin điều ngược lại? Dĩ nhiên anh không có một thông tin nào đặc biệt cho phép anh nghĩ như thế.

Nhưng, trong khi anh nghiên cứu những bảng ghi khác treo sau quầy rượu, anh lại chú ý đến một bức hình chụp bán thân cỡ nhỏ thôi, lồng trong khung đen, mà người cũng treo ở đó, cách xa một chút, gần cái qui định cấm bán thức uống có rượu cho những người ở tuổi vị thành niên. Bỗng dưng cảm thấy có một sự tò mò mà chính anh cũng không sao giải thích rõ ràng được, Simon Lecœur đứng dậy, lấy cớ đi vào phòng vệ sinh, và xẹt qua hướng khác để có thể đi ngang qua trước bức hình. Đến ngay chỗ ấy, anh dừng lại, như là tình cờ, để quan sát nó gần hơn.

Hình cho thấy một người đàn ông trạc ba mươi tuổi, cái nhìn sáng nhưng đầy lo âu, mặc quân phục sĩ quan hải quân, hay đúng hơn, là hạ sĩ quan. Gương mặt nhắc Simon nhớ đến một cái gì đó... Đột nhiên, anh hiểu tại sao: đây là anh hầu bàn đã bưng dọn cho anh đêm trước.

Một nhánh hoàng dương được ban phép lành, luồn dưới khung gỗ đen, ló ra bên phía tay phải. Khô héo qua năm tháng, những cọng cây đầy bụi của nó đã mất đi phân nửa lá. Dưới bức hình, trên phần biên rộng màu trắng đã ngả vàng, một nét chữ rõ ràng viết tay trái đã kẻ ra lời đề tặng này: “Tặng Marie và Jean, ba yêu quí.”

“Có phải bộ quân phục làm ông tò mò?” bà hầu bàn hỏi.

Simon không nghe bà đến gần. Người đàn bà mặc blouse xám đang lau chùi những cái ly, sau quầy rượu. Bà tiếp tục:

“Người ông đang nhìn là cha tôi đấy. Ông người Nga.”

Simon, trước đây chưa để ý thấy, bấy giờ nhìn nhận y phục quả là không thuộc hải quân Pháp. Thế nhưng, vì nhân vật kia không đội mũ, sự khác biệt lúc ban đầu không hiện rõ. Để nói một điều gì đó, anh hỏi có phải người hải quân đã chết ngoài biển không”

“Chết đắm ngoài khơi,” người đàn bà chữa lại.

“Bà tên là Marie?”

“Dĩ nhiên!” bà vừa trả lời vừa nhún vai.

Anh bước xuống tầng hầm, nơi có những phòng vệ sinh bốc mùi hôi. Những bức tường quét màu kem ở đây được những người khách năng lui tới dùng để viết lên những chính kiến của mình, những hẹn hò công việc và những ý nghĩ kỳ quặc về dục tình. Simon tự bảo một trong những lời nhắn ấy có lẽ viết gửi cho anh; chẳng hạn, cái số điện thoại kia, viết bằng bút chì đỏ, cứ thấy lặp đi lặp lại mãi, đủ mọi hướng: 765-43-21. Những con số, dù sao, cũng dễ nhớ.

Khi trở về chỗ cũ, anh dừng mắt lại ở phía góc lõm chỗ chặp hai mặt tường lát bằng gỗ giả, ngay sau ghế anh ngồi trước đấy. Một cái gậy trắng, như gậy những người mù thường dùng, để dựa vào góc tường. Tường thành ở đây nằm trong vùng không được chiếu sáng lắm, nên anh đã không để mắt nhìn tới, khi anh mới đến. Cái gậy hẳn là phải có ở đó từ trước. Simon Lecœur ngồi xuống. Khi bà hầu bàn với vẻ mặt buồn đi ngang qua gần đó, anh ra dấu cho bà:

“Thưa bà, xin bà vui lòng cho tôi một cái pizza.”

“Chúng tôi không còn làm pizza từ mấy tháng nay,” bà mặc áo xám nói. “Sở vệ sinh không cho phép chúng tôi bán.”

Simon uống hết ly nước và trả tiền cà-phê. Anh đang đi về phía cửa ra vào, thì chợt nhớ ra một điều gì. “Ủa,” anh nói nhỏ, “ta quên cái gậy rồi.” Không có bàn nào khác ở gần cái vật ấy để nó có thể là của một người khách nào khác. Simon vội bước trở lại, cầm cái gậy lên không lưỡng lự và đi băng qua phòng đông người, với một dáng điệu thanh thản, gậy kẹp dưới cánh tay phải. Anh đi ra không ai nghi ngờ thắc mắc gì cả.

Trước cửa tiệm cà-phê, một người bán hàng rong bày trên vỉa hè những cái lược giả đồi mồi và những thứ hàng lặt vặt rẻ tiền khác. Mặc dù hàng thấy thảy đều có vẻ rẻ một cách quá đáng, Simon Lecœur mua một cặp kính đen, mặt kính rất rộng và màu rất đậm. Anh thích cái gọng kính vì nó ôm rất sát. Cái nắng gắt mùa xuân làm anh thấy mắt khó chịu, và anh không thích để những tia nắng nghiêng kia lọt qua những khe hở quá rộng hai bên. Anh lập tức đeo kính vào; kính rất vừa vặn.

Lúc ấy chính anh cũng không hiểu vì sao — đơn giản là chỉ để đùa thôi, có lẽ — Simon nhắm mắt lại, núp sau cặp kính đen của mình, và vừa bước đi vừa mò mẫm mặt đường lát đá, trước chân mình, với cái đầu bịt sắt của chiếc gậy. Làm như thế anh cảm thấy có một cảm giác thư thái.

Bao lâu anh còn nhớ được chung quanh anh chỗ nào nằm ở đâu, anh có thể bước tới không khó lắm, mặc dù mỗi lúc anh càng phải bước chậm hơn. Đi được chừng hai mươi bước, anh không còn có ý niệm gì về những chướng ngại vật chung quanh mình. Anh cảm thấy hoàn toàn lạc bước và dừng lại, nhưng anh không mở mắt. Cái diện người mù của anh bấy giờ không để ai chen lấn anh.

“Thưa ông, ông có muốn tôi giúp ông qua bên kia đường?”

Người cất tiếng hỏi anh là một thằng bé. Simon có thể áng chừng tuổi của nó không khó, bởi vì giọng nói của nó rõ ràng đang bước vào giai đoạn bị vỡ tiếng. Chỗ phát xuất tiếng nói, rõ ràng là nghe ra được, vả lại cũng cho biết chiều cao của thằng bé, với một sự chính xác làm cho con người giả làm mù kia phải ngạc nhiên.

“Vâng, xin cảm ơn,” Simon trả lời, “tôi rất muốn.”

Thằng bé cầm bàn tay trái của anh, nhẹ nhàng và chắc.

“Đợi một lát đã,” nó nói, “đèn hiệu đang xanh và xe cộ trên đại lộ chạy nhanh quá.”

Simon kết luận là anh đã dừng lại đúng ở lề vỉa hè. Như vậy là anh đã đi lệch nhiều, lệch đến cả mấy mét so với hướng lúc bắt đầu đi. Tuy nhiên kinh nghiệm ấy vẫn cuốn hút anh, và còn làm anh say mê nữa; anh muốn theo đuổi cho đến khi có một khó khăn nào đó không vượt qua nổi chấm dứt nó.

Với cái mũi nhọn bịt sắt, anh không thấy khó khi mò ra cái cạnh bờ đường bằng đá và độ cao thấp, mà anh sắp phải bước xuống để đi ra lòng đường. Sự bướng bỉnh ngu xuẩn của anh làm chính anh cũng ngạc nhiên: “Ta hẳn là phải có cái mặc cảm Œdipe chết tiệt kia rồi,” anh ta vừa tự bảo vừa mỉm cười, trong khi thằng bé kéo anh tới trước, vì xe cộ rốt cuộc đã nhường lối cho người đi bộ. Nhưng rồi nụ cười tắt ngay, thay vào đó là cái suy nghĩ trong nội tâm:

“Ta không nên cười: bị mù, buồn lắm.”

Cái hình ảnh nhạt nhoà của một con bé mặc áo dài trắng có nếp nhíu, bó sát eo bằng một dải vải lớn, sau khi chập chờn một lúc trong một ký ức không định rõ được, rốt cuộc đọng lại sau màn mí mắt khép lại...

...

Nó đứng bất động trong khung cửa. Cảnh trí chung quanh nó quá tối, thực tế không cho phép ta phân biệt được mọi vật. Hiện lên trên nền tranh sáng chỉ có chiếc áo dài the màu trắng, mái tóc vàng hoe, và sắc nhợt nhạt trên gương mặt. Con bé bưng trước mặt mình, bằng cả hai tay, một chân đèn cắm nến có ba nhánh, bằng đồng vàng óng, nhẵn bóng và sáng loáng; nhưng cả ba ngọn nến đều tắt.

Tôi tự hỏi, thêm một lần nữa, những hình ảnh kia từ đâu tới. Cái chân đèn đã từng xuất hiện trong ký ức của tôi. Nó được đặt trên một cái ghế, lần này thì thắp sáng, ở đầu giường một thằng bé đang nằm trên giường người chết…

Nhưng giờ đây chúng tôi đã đi qua bên kia lòng đường, và tôi sợ người dẫn đường của tôi bỏ tôi lại. Vì không thoải mái lắm trong vai trò người mù, tôi mong cả hai chúng tôi tiếp tục bước đi với nhau, thêm vài phút nữa. Để câu giờ, tôi hỏi nó:

“Tên em là gì?”

“Tôi tên Jean, thưa ông.”

“Nhà em ở trong khu này?”

“Không, thưa ông, tôi ở quận mười bốn.”

Thế tuy nhiên chúng tôi đang ở đầu kia Paris. Mặc dù có thể có nhiều lý do khác nhau để giải thích tại sao thằng bé có mặt ở đây, tôi vẫn ngạc nhiên thấy nó la cà ngoài đường như thế, ở cái nơi xa nhà nó đến thế. Tôi sắp hỏi nó một câu về vấn đề này, thì tôi bỗng e sợ sự soi mói của tôi làm nó thấy lạ lùng, nó sẽ hoảng sợ, và còn sẽ làm nó bỏ chạy…

“Đường Vercingétorix,” thằng bé nói rõ, bằng cái giọng đột nhiên chuyển từ cao xuống trầm, ngay cả ở giữa một chữ.

Cái tên vị thủ lĩnh Gô-loa làm tôi ngạc nhiên: tôi tưởng dĩ nhiên là có một đường Vercingétorix đổ ra đại lộ này, và tôi cũng không nghĩ là còn có một đường Vercingétorix khác ở nơi nào khác, dù thế nào đi nữa, trong thành phố Paris. Không thể cùng một tên lại được dùng cho hai con đường khác nhau trong cùng một thành phố; trừ phi là có hai ông Vercingétorix trong lịch sử nước Pháp. Tôi chia sẻ những nghi ngờ ấy với người bạn đồng hành.

“Không, nó trả lời không do dự, chỉ có một đường Vercingétorix, và là đường duy nhất mang tên ấy ở Paris. Nó ở quận mười bốn.”

Vậy là tôi đang nhớ lộn nó với một tên đường khác?... Tin vào những chuyện hoàn toàn sai như thế là việc xảy ra khá thường xuyên với chúng ta: chỉ cần một mảng ký ức từ nơi nào khác đến len vào bên trong một toàn bộ gắn bó chặt chẽ đang mở ra cho nó, hoặc chỉ cần chúng ta vô tình nối lại hai phân nửa rời nhau, hoặc chúng ta có thể hình thành những ảo giác có đủ dáng dấp của thực tại đối với chúng ta…

Nhưng tôi để câu giải đáp cho vấn đề địa hình học kia của tôi lại về sau, vì sợ những câu hỏi của tôi rốt cuộc sẽ làm mệt thằng bé chăng. Nó buông bàn tay tôi ra, và tôi nghi nó không còn muốn làm người dẫn đường cho tôi thêm lâu hơn nữa. Có lẽ bố mẹ nó đang chờ nó về ăn bữa ăn trưa.

Vì nó không nói gì khá lâu từ nãy tới giờ (lâu đủ để tôi có thể ý thức được điều đó), có một lúc tôi còn sợ không chừng nó đã bỏ đi rồi, và không chừng từ đây tôi phải đi tiếp con đường của tôi một mình, không có sự đỡ đần do trời ban cho của nó. Tôi hẳn là có vẻ bối rối, bởi vì bấy giờ tôi nghe giọng nó cất lên, giọng nói trấn an mặc dầu những âm vang nghe lạ lùng.

“Dường như ông không quen đi một mình,” nó nói. “Ông có muốn chúng ta cùng đi với nhau thêm một lúc nữa không? Ông đi đâu đây?”

Câu hỏi làm tôi lúng túng. Nhưng tôi phải tránh không để cho người dẫn đường ứng biến của tôi nhận ra điều ấy. Để nó không biết là chính tôi tôi cũng không biết mình đang đi đến đâu, tôi trả lời một cách tin tưởng, không suy nghĩ:

“Ra nhà ga phía Bắc.”

“Vậy thì chúng ta không nên qua đường. Ga ở phía bên kia đại lộ.”

Nó có lý, dĩ nhiên. Mau mắn như mọi lần, tôi cho nó lời giải thích duy nhất tôi nghĩ ra lúc ấy:

“Tôi nghĩ vỉa hè bên này ít người hơn.”

“Quả đúng là bên này ít người hơn,” thằng bé nói. “Nhưng, dù sao, lúc bấy giờ ông vẫn phải quẹo ngay qua bên phải. Ông đi xe lửa?”

“Không, tôi sẽ đợi gặp một người bạn.”

“Ông ấy từ đâu tới?”

“Anh ta tới từ Amsterdam.”

“Vào lúc mấy giờ?”

Tôi lại tiến sâu vào một tình thế nguy hiểm. Mong sao có một chuyến xe lửa vào đầu giờ buổi chiều! May thay, rất có thể thằng bé không biết giờ giấc xe lửa.

“Tôi không còn nhớ đúng giờ nào, tôi nói. Nhưng chắc chắn là tôi đến rất sớm.”

“Chuyến tốc hành từ Amsterdam đến ga vào lúc mười hai giờ ba mươi bốn,” thằng bé nói. “Chúng ta có thể đến kịp nếu đi đường tắt. Nào, ta hãy nhanh lên.”

 

[còn 2 chương và bài KẾT]
 
--------------------
Trích trong Alain Robbe-Grillet, DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ, Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu (Trình Bầy / Tủ sách Nhân & Dân, 2003).
 

 

 

Đã đăng:

... Không có gì — tôi muốn nói là không một bằng chứng quyết định nào — có thể cho phép bất cứ ai xếp câu chuyện của Simon Lecœur vào loại những chuyện thuần tuý tiểu thuyết. Ngược lại người ta có thể khẳng định là những yếu tố nhiều và quan trọng của bản văn không chặt chẽ, đầy lỗ hổng, hoặc như là bị nứt nẻ này, ăn khớp với thực tế (thực tế mà ai nấy đều biết) với một sự nhấn mạnh bởi vì là rõ ràng, nên làm ta thấy rối tung. Và... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Tôi đến nơi đúng giờ ấn định: bấy giờ là sáu giờ rưỡi. Trời đã gần như tối. Cửa nhà kho không đóng. Tôi đẩy cửa lớn bước vào, cánh cửa không còn ổ khoá... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Khi tôi trở lại một mình, bước nhanh nhẹn trên những đường phố bấy giờ chói chang ánh đèn đường và tủ kính các cửa tiệm, tôi nhận ra trong tôi một sự thay đổi tâm trạng thật đáng kể: một sự hân hoan mới toanh bấy giờ làm thân thể tôi nhảy nhót... (...)
 
... Bì thư mang tên nguyên vẹn của người nhận: “Ông Simon Lecœur, tức Boris”, nghĩa là không những tên tôi mà thôi, mà còn có cả mật khẩu của tổ chức tôi mới chỉ làm việc từ có mấy giờ trước đây. Còn lạ hơn nữa... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cuối cùng, tôi đã chấp nhận mất cả quyền sử dụng mắt mình sau khi đã tuần tự mất hết quyền sử dụng ý chí tự do của mình và quyền sử dụng trí khôn của mình... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Trong khi xe chạy, tôi lại nghĩ tới cái phi lý trong hoàn cảnh của tôi. Nhưng tôi lại không sao quyết định chấm dứt nó được. Cái bướng bỉnh ấy của tôi làm ngay chính tôi cũng ngạc nhiên. Tôi tự trách mình về nó, nhưng đồng thời cũng thấy vui vì nó... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018