thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ [8/10: chương 7]

 

Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu

 

ALAIN ROBBE-GRILLET

(1922-2008)

 

Alain Robbe-Grillet sinh ngày 18.8.1922 ở Brest (Finistère), tây bắc Pháp, trong một gia đình gồm những người làm khoa học và kỹ sư. Ông học trung học ở Lycée de Brest, rồi Lycée Buffon, Lycée Saint-Louis ở Paris. Năm 1946 ông tốt nghiệp Viện Canh nông Quốc gia, được bổ nhiệm làm tại Viện Thống kê Quốc gia Paris, nhưng đến năm 1948 thì nghỉ và về làm việc cho phòng thí nghiệm của người chị ở Seine et Marne, chuyên sưu tầm về sinh vật học. Từ 1949 (năm ông hoàn tất tiểu thuyết đầu tay Un Régicide) đến 1951 ông làm việc tại Viện nghiên cứu trái cây bản xứ, từng ở Maroc, Guadeloupe, Guinée và Martinique để nghiên cứu về trái cây miền nhiệt đới. Trên chuyến tàu thủy đưa ông từ Martinique trở về Paris (1951), Robbe-Grillet khởi sự viết cuốn Les Gommes, và từ cuối năm 1951 những bài điểm sách và nhiều tiểu luận ông viết bắt đầu xuất hiện trên nhiều tạp chí: Critique, Express, La Nouvelle Nouvelle Revue Française – để làm sáng tỏ lối viết của mình. Les Gommes được xuất bản ở nhà Minuit năm 1953 (Giải thưởng Fénéon 1954), và cũng bắt đầu từ năm này ông sang hẳn địa hạt văn chương. Cuốn Le Voyeur (1955, Giải các nhà phê bình) được coi là đánh dấu thời gian ông làm tư vấn cho nhà xuất bản Minuit. Robbe-Grillet lấy vợ năm 1957, năm xuất bản cuốn La Jalousie, và song song với viết lách, ông bắt đầu bước qua điện ảnh, khởi đầu là phim L’Année dernière à Marienbad (1960, Giải Sư tử Vàng tại Venise 1961), rồi đến L’Immortelle (1963), Trans-Europ-Express (1966)... Quan điểm tiểu thuyết của ông, thể hiện qua cuốn Pour un nouveau roman (1963), và hơn hết là trong toàn bộ tác phẩm ông, được bàn cãi khắp thế giới. Năm 1964 ông đi nói chuyện tại nhiều trường đại học ở Mỹ, và từ 1972 về sau dạy nhiều khoá ở New York University, nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Robert Rauschenberg, Roy Lichtenstein...
 
Tác phẩm Robbe-Grillet đi từ văn chương qua điện ảnh, nhiếp ảnh, hội hoạ – đi tới đâu cũng để lại dấu vết một cái nhìn sắc sảo. Con người xưa nay bị ngộ nhận nhiều nhất giờ đây đã được hiểu rõ hơn – về biến chuyển của người viết, tiến trình suy nghĩ, và về ý nghĩa sâu xa của sự tìm kiếm. Ngòi bút Robbe-Grillet khởi sự từ chỗ “tước bỏ trái tim lãng mạn” nơi sự vật, chối từ những yếu tố qui ước, như một câu chuyện kể mang kịch tính, ý niệm một chiều về thời gian, phân tích tâm lý nhân vật, và đạt đến một kiểu mô tả lạnh lùng những hình ảnh và vật thể lặp đi lặp lại, những biến cố ngẫu nhiên của đời sống thường ngày: người đọc bấy giờ tha hồ đoán hiện thực đàng sau những chi tiết và sự kiện. Hiện thực khách quan? Không hẳn thế. Robbe-Grillet luôn nhấn mạnh cái chỗ chủ quan này của thế giới ông mô tả: mọi thứ được nhìn qua mắt của một nhân vật, chứ không phải của một người kể chuyện “cái gì cũng biết”, và người đọc từ nay sẽ không nhìn bản văn như một biểu hiện của thực tại, mà là một thứ ngôn ngữ được vận dụng trong đó chữ đóng vai trò quan trọng như những dấu hiệu chứ không phải là cái chuyên chở ý nghĩa.
 
Hoàng Ngọc Biên

 

________

 

Đã đăng: NHẬP[1][2][3][4][5][6]

 

CHƯƠNG 7

 

“Chúng ta sẽ dùng con hẻm này,” thằng bé nói. “Đi thế nhanh hơn. Nhưng ông phải chú ý mỗi khi đặt chân xuống đất: đá lát ở đấy rất là không đều nhau. Nhưng ngược lại, sẽ không có xe cộ hay người đi nào cả.”

“Được,” tôi nói, “tôi sẽ chú ý.”

“Tôi sẽ cố gắng dẫn ông đi qua những ổ gà và những mô đất. Khi bất ngờ gặp một chướng ngại gì đặc biệt, tôi sẽ bóp bàn tay của ông mạnh hơn... Đấy, ngay chỗ này: ta cần quẹo phải.”

Tốt hơn là tôi nên mở mắt, dĩ nhiên. Như thế sẽ thận trọng hơn, và dù sao cũng tiện hơn. Thế nhưng tôi đã quyết định bước đi như người mù lâu được chừng nào hay chừng đó. Đây đúng là cái người ta vẫn gọi là một sự đánh cuộc ngu xuẩn. Tóm lại là tôi hành động như một kẻ dại dột, hay như một đứa trẻ con, là điều tôi không quen chút nào...

Cùng lúc ấy, cái bóng tối mà tôi đang tự buộc mình vào, và trong đó chắc hẳn tôi cũng đang thấy thú vị, tôi nhận ra nó có vẻ hoàn toàn thích hợp với sự bấp bênh tinh thần trong đó tôi đã phải vẫy vùng kể từ khi tỉnh dậy tới giờ. Cái tình trạng mù tự nguyện của tôi sẽ là một thứ ẩn dụ, hay một thứ hình ảnh khách quan, hay một thứ gia tăng...

Thằng bé kéo mạnh cánh tay trái của tôi lôi đi. Nó bước những bước dài tới trước, nhẹ và chắc chắn, tôi khó mà theo cái nhịp đó. Tôi phải lao người tới, phải mạo hiểm hơn, nhưng tôi không dám: tôi mò mẫm mặt đất trước mặt mình, với đầu chiếc gậy của tôi, như thể tôi đang sợ sẽ bất chợt đứng trước một hố thẳm, là điều dù sao cũng rất ư lạ lùng...

“Nếu ông không đi tới nhanh hơn,” thằng bé nói, “ông sẽ không đến kịp chuyến xe lửa đâu, ông sẽ đón hụt người bạn của ông, và sau đó chúng ta sẽ phải chạy tìm ông ta khắp cả nhà ga.”

Giờ tôi đến đối với tôi không quan trọng chút nào, cái đó đã rõ. Tuy nhiên, tôi vẫn đi theo người hướng dẫn mình một cách tin tưởng và chăm chỉ. Tôi có cái ấn tượng lạ lùng là người ấy đang đưa tôi đến một cái gì quan trọng, mà tôi không hề biết gì cả, và có thể là chẳng liên quan gì đến nhà ga phía Bắc và chuyến xe lửa từ Amsterdam.

Hẳn là do bị cái ý nghĩ đen tối kia xô đẩy, càng lúc tôi càng liều lĩnh táo bạo hơn trên mảnh đất đầy những chuyện lạ kia, mà giờ đây đôi chân tôi đã dần dần quen bước. Chẳng bao lâu, tôi cảm thấy thoải mái ở đây. Tôi tưởng hầu như mình đang bơi trong một môi trường khác...

Tôi không nghĩ là đôi chân tôi tự chúng hoạt động dễ dàng như thế, có thể nói là không kiểm soát. Chúng còn muốn đi nhanh hơn thế nữa, bị lôi kéo bởi một sức mạnh không có sự dự phần của thằng bé trong đó. Bây giờ, tôi sẽ chạy, nếu như nó yêu cầu tôi...

Nhưng giờ đây chính nó lại là người đột nhiên vấp té. Tôi không đủ thì giờ giữ nó lại, bàn tay nó tuột khỏi tôi và tôi nghe tiếng nó bổ xuống nặng nề, ngay trước mặt tôi. Bị cuốn theo đà của tôi, chỉ một tí nữa thì tôi có thể cũng ngã chồm lên trên người nó, và chúng tôi sẽ cùng xoay ra lăn trong tối, người này chồng lên người kia, như những nhân vật của Samuel Beckett. Tôi phá ra cười vì cái hình ảnh đó, trong khi cố giữ lại thăng bằng.

Còn người dẫn đường cho tôi, nó không không cười chế giễu cái điều rủi của mình. Nó không thốt lên một lời nào. Tôi không còn nghe nó động đậy gì nữa. Không biết nó có thể rủi ro mà bị thương chăng? Nó té đập đầu vào một viên đá lát nhô lên, không biết có bị chấn thương sọ não?

Tôi gọi nó bằng tên tục và hỏi xem nó có bị đau không; nhưng nó không trả lời một tiếng nào. Một sự im lặng đột nhiên ập đến, và nó kéo dài, là điều làm tôi bắt đầu lo thật sự. Tôi mò mẫm viên đá với cái mũi nhọn bịt sắt của cái gậy, hết sức thận trọng... Thân mình thằng bé nằm ngang lòng đường. Nó có vẻ bất động. Tôi quì xuống và cúi mình trên người nó. Tôi buông cái gậy, để sờ nắn áo quần nó bằng cả hai tay. Tôi không thấy có một phản ứng nào, nhưng, dưới những ngón tay tôi, tôi cảm thấy có một thứ nước nhớp nháp mà tôi không định rõ được là chất gì.

Lần này, tôi sợ hẳn. Tôi mở mắt. Tôi bỏ kính đen ra... Trước tiên, tôi còn bị loá bởi cái ánh sáng chói chang mà tôi không còn thấy quen nữa. Thế rồi cảnh trí chung quanh bắt đầu hiện ra, rõ dần, đậm đặc như trên một tấm ảnh chụp bằng máy Polaroid, hình ảnh dần dần hiện ra trên một mặt giấy rất trắng và láng... Nhưng cảnh trí vẫn giống như cảnh trong giấc mơ, lặp lại và gây kinh hoàng, với những uẩn khúc mà tôi không làm sao xoay xở hòng thoát khỏi được.

Con đường dài vắng ngắt, trải ra trước mắt tôi, quả đã nhắc tôi nhớ lại một cái gì đó mà tôi tuy nhiên không sao biết xác định rõ nguồn gốc: tôi chỉ có ấn tượng đó là một nơi chốn tôi đã từng đến rồi, mới đây thôi, ít ra là một lần, nhiều lần có lẽ...

Đó là một con đường nhỏ thẳng tắp, khá hẹp, vắng vẻ, tĩnh mịch, mà người ta không nhìn thấy đoạn cuối. Người ta có thể bảo là nó đã bị con người ruồng bỏ, bị cách ly, bị thời gian quên mất. Hai bên đường nối nhau những dãy nhà kiến trúc thấp, lờ mờ, hư hỏng ít nhiều: những túp lều xập xệ cửa nẻo há hốc, những xưởng thợ đổ nát, những tường thành bít kín và những hàng rào sụp đổ...

Trên mặt đường đá lát thô thiển theo kiểu xưa — mặt đá lát hẳn là không được bảo trì từ một trăm năm nay — một thằng bé khoảng mười hai tuổi, mặc một cái áo blouse xám, phồng và bó sát eo, như đám trẻ em con trai dân dã thế kỷ trước thường mặc, đang nằm dài, và nằm sấp, hẳn là đã bất tỉnh...

Toàn bộ cảnh này đã xảy ra trước đây, ít nữa là một lần. Hoàn cảnh ấy, cái hoàn cảnh tuy nhiên rất đặc biệt, mà tôi đang đương đầu đây, chỉ là cái việc lặp lại một biến cố đã xảy ra trước, đúng y chang, mà chính tôi đã có sống qua những gian truân, đã đóng cùng một vai tuồng... Nhưng khi nào? Và ở đâu?

Dần dần, ký ức mờ nhạt... Tôi càng tìm cách đến gần nó, nó càng trốn khỏi tôi... Thêm một luồng sáng cuối cùng... Sau đó là không còn gì nữa. Đó sẽ chỉ là một ảo ảnh từng thoáng qua. Vả lại tôi biết rõ những ấn tượng mạnh mẽ và qua mau ấy, những ấn tượng tôi cũng như nhiều người khác thường có, mà đôi khi người ta cho một cái tên gọi: ký ức của thời tương lai.

Thật ra, đây đúng hơn là một thứ ký ức tức thì; cái gì đang xảy ra với ta, ta cứ tưởng rằng nó đã xảy ra với ta trước đó, tựa như hiện tại trở thành gấp đôi, nứt ra ở ngay giữa làm thành hai phần sinh đôi: một thực tại tức thì, cộng với một bóng ma của thực tại ấy... Nhưng cái bóng ma lập tức chập chờn... Người ta muốn bắt lấy nó... Nó đảo qua đảo lại sau mắt ta, như con bướm trong suốt hay ma trơi nhảy nhót mà ta chính là đồ chơi... Mười giây sau, tất cả đều bay đi mất vĩnh viễn.

Còn về số phận của kẻ bị thương, có một điều dù sao cũng làm tôi yên tâm: cái thứ nước nhớt nhầy làm vấy bẩn mấy ngón tay của tôi, khi tôi mò mẫm trên đất chỗ gần chiếc áo blouse vải xám, không phải là máu, mặc dù màu của nó có thể làm ta nghĩ đến máu, cũng như cái cách nó đông đặc.

Đó chỉ là một vũng bùn bình thường màu hơi đỏ, lên màu do bụi rỉ sét, hẳn là đã nằm yên trong những hốc đá lát từ trận mưa sau cùng. Thằng bé, may cho bộ áo quần nó, trông xuềnh xoàng nhưng rất sạch, té ngay trên mép đường. Có lẽ trong khi muốn tôi tránh khỏi cái chướng ngại vật mà tôi đang sấn đến kia, chính nó đã mất thăng bằng. Tôi hi vọng hậu quả của cái té sẽ không quá tai hại.

Nhưng bây giờ tôi phải lo mọi thứ hết sức khẩn cấp. Thằng bé tuy không bị gãy xương cốt gì, nhưng sự kiện nó bất tỉnh cũng làm tôi nghi ngờ nó bị giập nặng ở đâu đó. Tuy nhiên, khi lật cái thân người mảnh khảnh kia, nhẹ nhàng như mẹ chăm sóc con, tôi không thấy có một thương tích nào ở trán hay ở hàm.

Cả khuôn mặt còn nguyên. Đôi mắt thì nhắm. Người ta có thể bảo là nó đang ngủ. Nhịp tim và hơi thở có vẻ bình thường, mặc dù rất yếu. Dù sao, tôi cũng phải hành động: sẽ không có ai đến tiếp tay cho tôi ở cái nơi hẻo lánh này.

Nếu những căn nhà chung quanh chúng tôi có người ở, tôi sẽ đến tìm người giúp đỡ. Tôi sẽ đưa thằng bé đến, những người phụ nữ từ tâm sẽ cho nó một cái giường, và chúng tôi sẽ điện thoại cho cảnh sát cấp cứu, hay cho một bác sĩ nào trong khu vực bằng lòng đến tận nơi.

Nhưng có người ở hay không trong những căn nhà lụp xụp trơ trước gió kia? Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu có. Có còn sống ở đấy chăng chỉ là những kẻ vô gia cư, là những người sẽ chế giễu vào mặt tôi khi tôi hỏi nhờ một cái giường hay một cái điện thoại. Có lẽ hơn thế, nếu tôi làm phiền họ giữa lúc họ đang bận một việc gì mờ ám, họ sẽ dành cho tôi một sự tiếp đón còn tệ hơn nữa.

Chỉ đến lúc đó, tôi nhìn thấy, ngay bên phải tôi, một ngôi nhà nhỏ hai tầng, tình trạng khá hơn những nhà bên cạnh, đặc biệt là các cửa sổ vẫn còn đâu vào đấy trong khuôn và còn y tất cả những mặt kính. Cánh cửa ngôi nhà khép hờ... Vậy thì đây sẽ là nơi tôi mạo hiểm đến viếng trước tiên. Chỉ đến khi đặt được thằng bé bị thương vào một chỗ trú rồi, tôi mới có thể thấy yên tâm.

Thế nhưng tôi thấy, mà không sao cắt nghĩa được, là dường như tôi đã biết cái gì sẽ diễn ra sau đó: lấy chân đẩy cánh cửa khép hờ, tôi sẽ bước vào trong căn nhà lạ, với thằng bé bất động mà tôi sẽ thận trọng ôm trong tay. Bên trong, mọi vật đều sẽ tối đen và vắng vẻ. Tuy nhiên tôi sẽ nhận ra một luồng sáng nhợt nhạt, hơi xanh, từ tầng lầu thứ nhất toả xuống. Tôi sẽ chậm rãi trèo lên cái cầu thang bằng gỗ, hẹp và dốc đứng, những bậc cầu thang sẽ kêu cót két trong cảnh yên lặng...

Tôi biết vậy. Tôi còn nhớ mọi việc... Tôi còn nhớ toàn bộ ngôi nhà, với một sự chính xác kỳ lạ, nhớ tất cả những biến cố đã xảy ra kia, những biến cố nối tiếp nhau mà chính tôi đã từng trải qua, và đã từng dự một phần tích cực... Nhưng là khi nào vậy?

Tuốt trên cầu thang, có một cánh cửa khép hờ. Một thiếu nữ cao lớn và mảnh mai, tóc rất vàng, đang đứng ngay chỗ cửa hé mở, tựa như cô đang chờ một người nào sắp đến. Cô mặc một cái áo dài trắng, vải nhẹ, mỏng như tơ, trong mờ, mà những nếp gấp bay bồng bềnh theo một cơn gió nhẹ bất chợt, bắt vào những ánh phản chiếu của cái ánh sáng xanh kia bấy giờ không biết từ đâu toả xuống.

Một nụ cười không định rõ được, rất dịu dàng, trẻ trung, xa vắng, nhếch hở đôi môi nhợt nhạt của cô. Đôi mắt to màu xanh lá, trông càng to hơn trong vùng tranh tối tranh sáng, ánh lên một tia sáng kỳ lạ, “giống như mắt của một người con gái đến từ một thế giới khác”, Simon Lecœur nghĩ ngay khi anh nhìn thấy cô.

Và anh đứng đấy, bất động ở ngưỡng cửa căn phòng, mang trên tay (như một bó hoa hồng “ôm tặng”, anh nghĩ) thằng bé bất tỉnh. Bị mê hoặc trước cảnh tượng ấy, anh chiêm ngưỡng sự xuất hiện thần diệu kia, mỗi giây phút trôi qua cứ sợ rằng nó sẽ tan thành khói, nhất là khi có một luồng gió hơi mạnh hơn (thế tuy nhiên, trong căn phòng, có vẻ như chẳng có một vật nào khác nằm ngay luồng gió ấy) làm bay tung những tà áo mỏng chung quanh cô, “như những ngọn lửa màu tro than.”

Sau một lúc, hẳn là rất lâu (nhưng không thể đo chắc chắn được), thời gian Simon không sao nghĩ ra được trong đầu một câu nào khả dĩ thích hợp với hoàn cảnh kỳ lạ đó, rốt cuộc, không còn cách nào khác, anh thốt lên những tiếng đơn giản, buồn cười:

“Có một cậu bé bi thương.”

“Vâng, tôi biết,” cô gái nói, nhưng nói trễ, như thể những lời Simon thốt ra, khi đến được cô, có thể đã đi qua những khoảng không gian bao la. Thế rồi, sau một lúc im lặng nữa, cô nói thêm: “Chào ông. Tôi là Djinn.”

Giọng nói cô dịu dàng và xa vắng, quyến rũ nhưng không nắm bắt được, như đôi mắt cô.

“Cô là một tiên nữ?” Simon hỏi.

“Một thần linh, một tiên nữ, một cô gái, ông muốn sao cũng được.”

“Tôi tên Simon Lecœur,” Simon nói.

“Vâng, tôi biết”, người lạ nói.

Cô có một giọng nói hơi trọ trẹ của người ngoại quốc, giọng Anh có lẽ, trừ phi đó là những âm điệu ngân nga của những tiên ngư hay tiên nữ. Nụ cười của cô rõ nét hơn, nhưng không nhận ra được, khi cô cất lên những lời ấy: người ta có thể bảo là cô đang nói từ một cõi nào khác, từ rất xa trong thời gian, cô đang đứng trong một thứ thế giới tương lai, trong lòng thế giới ấy mọi thứ đều đã hoàn thành.

Cô mở rộng cánh cửa, để Simon có thể dễ dàng bước vào. Và bằng một cử chỉ ân cần cô đưa cánh tay trần (cánh tay trong khi cử động, vừa rút ra khỏi một tay áo rất rộng loe ra ở cổ tay) chỉ vào một chiếc giường bằng đồng kiểu xưa, chỗ đầu giường, dựa vào bức tường cuối phòng dưới một cây thánh giá bằng gỗ mun, được kèm hai bên hai cái chân đèn bằng đồng mạ vàng, sáng rực, mang nhiều ngọn nến. Djinn bắt đầu thắp những ngọn nến ấy, chậm rãi, thắp từng ngọn.

“Giường trông giống như của người chết,” Simon nói.

“Giường nào mà chẳng sẽ là giường người chết, một ngày nào đó?” cô gái trả lời thì thầm nghe tiếng được tiếng mất. Giọng cô sau đó vững vàng hơn để khẳng định, đột nhiên nghe như của một người mẹ: “Khi ông đặt Jean nằm xuống trên những tấm ra trắng kia rồi, nó sẽ ngủ một giấc ngủ không mơ thấy gì.”

“Vậy ra cô cũng biết nó tên là Jean?”

“Vậy chứ tên nó là gì đây? Ông muốn nó mang một cái tên gì lạ lùng hay sao? Thằng cao trai nào cũng đều tên Jean. Đứa con gái nào cũng tên Marie. Nếu ông là người ở đây, ông khắc biết điều đó.”

Simon tự hỏi cô định nói gì khi dùng chữ “ở đây”. Có phải chữ ấy muốn chỉ ngôi nhà kỳ lạ này? Hay nguyên con đường bỏ hoang kia? Hay cái gì khác nữa? Simon đặt thằng bé lúc ấy vẫn bất tỉnh, đặt rất nhẹ nhàng, lên chiếc giường người chết. Djinn kéo hai bàn tay thằng bé để lên ngực, như người ta vẫn làm cho những người linh hồn đang ra đi.

Thằng bé để yên cho người ta làm, không có một chống đối cỏn con nào, cũng không để lộ bất cứ một phản ứng nào khác. Mắt nó vẫn còn mở lớn, nhưng hai con ngươi đứng yên. Lửa những ngọn nến làm mắt nó sáng lên những ánh phản chiếu nhảy nhót, cho chúng một sự sống nồng nhiệt, phi thường, đáng ngại.

Bấy giờ, Djinn đứng bất động trở lại, bên cạnh chiếc giường mà cô đang ngắm nghía với một vẻ bình lặng. Trông cô mặc chiếc áo dài trắng mờ ảo, gần như là vô hình dung, người ta có thể nghĩ cô là một tổng thiên thần đang canh giấc ngủ cho một trái tim đau khổ.

Simon phải làm một cố gắng tỉnh táo trở lại, trong cái im lặng ngột ngạt tràn ngập căn phòng, để hỏi cô gái mấy câu hỏi mới:

“Thế cô có thể cho tôi biết thằng bé bị thương ra sao?”

“Nó bị rối loạn trí nhớ trầm trọng,” cô nói, “làm nó mất ý thức từng phần, và rốt cuộc có thể làm cho nó chết hoàn toàn. Nó cần phải nghỉ, nếu không bộ óc suy nhược của nó sẽ mệt mỏi quá nhanh và những tế bào thần kinh của nó sẽ chết vì kiệt sức, trước khi thân thể nó đạt đến tuổi người lớn.”

“Những rối loạn ấy nói chính xác là thuộc loại nào?”

“Nó nhớ lại, với một sự chính xác phi thường, những gì chưa xảy ra: những gì sẽ xảy ra với nó ngày mai, hay cả những gì nó sẽ làm năm tới. Và, ở đây, ông chỉ là một nhân vật của trí nhớ bệnh hoạn của nó. Khi nó tỉnh dậy, ông sẽ tức khắc biến mất khỏi căn phòng này, là căn phòng thực ra, ông chưa bước vào...”

“Vậy là sau này tôi sẽ đến đây?”

“Vâng. Cái đó tất nhiên.”

“Khi nào?”

“Tôi không biết chính xác ngày giờ. Ông sẽ đến ngôi nhà này, đến lần đầu tiên, khoảng giữa tuần tới...”

“Thế còn cô, cô Djinn, cô sẽ ra sao nếu nó tỉnh dậy?”

“Tôi cũng thế, tôi sẽ biến mất khỏi đây khi nó tỉnh dậy. Cả hai chúng ta đều sẽ biến mất cùng lúc.”

“Thế nhưng chúng ta sẽ đi đâu? Chúng ta có vẫn ở bên nhau?”

“À không. Cái đó sẽ đi ngược lại những qui luật của thứ tự thời gian. Ông hãy cố gắng hiểu: ông, ông sẽ đến chỗ nào lẽ ra ông phải đang có mặt trong lúc này, trong cái thực tại hiện thời của ông...”

“Cô nói ‘hiện thời’ có nghĩa như thế nào?”

“Có mặt ở đây bây giờ, do nhầm lẫn, là cái tôi tương lai của ông. Cái tôi ‘hiện tại’ của ông đang ở xa đây nhiều kilomet, tôi nghĩ thế, và đang dự một cuộc họp về sinh thái học chống lại chủ nghĩa máy móc điện tử, hay một cái gì thuộc loại đó.”

“Thế còn cô?”

“Tôi thì, không may, tôi đã chết rồi, chết từ ba năm nay, và tôi sẽ không đi đâu cả. Chỉ là cái bộ óc rối loạn của Jean đã đưa chúng ta đến với nhau, tình cờ, trong ngôi nhà này: tôi, tôi thuộc về quá khứ của nó, trong khi ông Simon, ông thuộc về đời sống tương lai của nó. Bây giờ ông hiểu rồi chứ?”

Nhưng Simon Lecœur không sao nắm bắt được — nếu không phải là theo cách hoàn toàn trừu tượng — tất cả những chuyện ấy có thể mang ý nghĩa gì, trong thực tế. Để thử xem có phải mình — có phải hay không — chỉ là giấc mơ của ai khác, anh có ý ngắt mạnh vào tai mình. Anh cảm thấy có một cái đau bình thường, rất là thật. Nhưng, điều đó có nghĩa là gì?

Anh phải đấu tranh chống lại cái chóng mặt mà lý trí anh đang phải đương đầu trước những sự lẫn lộn về thời gian và không gian kia. Cô gái mờ ảo và mơ mộng kia có lẽ là hoàn toàn điên... Anh ngước mắt lên phía cô. Djinn nhìn anh mỉm cười.

“Ông ngắt tai mình,” cô nói, “để biết xem mình có đang nằm mơ hay không. Nhưng ông không nằm mơ đâu: người khác đang nằm mơ ông, và đây là điều khác hẳn. Và chính tôi đây, dù là đã chết, tôi vẫn còn có thể cảm được cái đau đớn hay cái vui thú trong thân thể mình: đó là những nỗi đau hay những niềm vui đã qua, mà thằng bé cảm thụ quá mức kia nhớ lại, và đã cho chúng một đời sống mới, hơi bị hao mòn bởi thời gian.”

Simon bị tràn ngập bởi những cảm xúc trái ngược. Một đàng, người con gái lạ lùng này mê hoặc anh và, dù không tự thú nhận điều này với mình, anh đang sợ phải nhìn thấy cô ta biến mất; dù cho cô có đến từ cõi âm, anh vẫn muốn được ở bên cô. Nhưng, cùng lúc, tất cả những chuyện phi lý ấy làm anh nổi giận: anh có cảm tưởng như, để chế giễu anh, người ta kể cho anh nghe những chuyện kỳ quặc.

Anh cố gắng lý luận một cách bình tĩnh. Cái cảnh ấy (mà anh đang sống bấy giờ) chỉ có thể thuộc đời sống tương lai của anh — hay của thằng bé — nếu như quả thật những nhân vật có mặt trong căn phòng sẽ phải gặp nhau lại sau đó ít lâu, tuần lễ tiếp sau đó chẳng hạn. Tuy nhiên chuyện này không thể xảy ra, trong những điều kiện bình thường, nếu cô gái đã thực sự chết từ ba năm trước.

Do cùng lý do sai ngày tháng ấy, cái cảnh đang diễn ra đây không thể đã xảy ra trong đời sống quá khứ của Djinn, bởi vì chính anh chưa từng gặp cô, cái thời cô còn sống...

Một sự nghi ngờ, đột nhiên, làm lung lay sự xác tín quá ư bảo đảm ấy... Trong một chớp mắt, kỷ niệm thoáng qua đầu Simon, kỷ niệm một cuộc gặp gỡ đã qua với một thiếu nữ tóc vàng mắt xanh nhạt với giọng nói hơi pha giọng Mỹ... Ấn tượng ấy lập tức tan đi một cách đột ngột, như nó đã đến. Nhưng chàng thanh niên thì vẫn còn bối rối.

Anh có lẫn lộn cô, trong một thoáng ý nghĩ, với một hình ảnh nào đó của nữ diễn viên Jane Frank là người từng gây cảm giác mạnh nơi anh trong một bộ phim? Lối giải thích này không thuyết phục được anh. Và anh lại thấy sợ, cái sợ còn mạnh thêm hơn, là thằng bé sẽ tỉnh dậy và Djinn sẽ biến mất trước mắt anh, mãi mãi.

Lúc ấy, Simon nhận ra một đặc điểm quan trọng của cảnh trí, điểm mà rất lạ lùng, anh chưa hề chú ý một chút nào: các màn trướng trong phòng đều kéo kín. May bằng một thứ vải dày màu đỏ sậm, hẳn là rất cũ (dùng lâu nên mòn xơ cả chỉ, dọc các nếp gấp), những màn trướng kia che trọn những mặt kính trông ra đường. Tại sao giữa ban ngày mà người ta che kín hết như thế kia?

Nhưng sau đó Simon nghĩ lại về cái ý “giữa ban ngày” nọ. Vậy thì bây giờ là mấy giờ? Thôi thúc bởi một mối lo đột ngột, anh chạy đến các cửa sổ, bấy giờ không có một chút ánh sáng nào lọt vào, qua vải màn cũng như học hai bên mép. Anh vội vàng vén một vạt màn lên.

Bên ngoài, trời tối đen. Từ lúc nào? Con đường nhỏ hoàn toàn chìm trong bóng tối, dưới một bầu trời không trăng không sao. Anh cũng không thấy có một tí ánh đèn nào — đèn điện hay bất cứ đèn gì khác — ở cửa sổ các ngôi nhà vả chăng cũng gần như không ai nhìn ra được. Một ngọn đèn đường duy nhất kiểu xưa, khá xa, nằm hẳn bên phải, toả ra một thứ ánh sáng xanh nhạt trong vùng bán kính khoảng vài mét.

Simon buông màn xuống. Đêm có lẽ đã đến nhanh quá? Hay “ở đây” thời gian trôi theo những định luật khác? Simon muốn xem giờ trên chiếc đồng hồ đeo tay của anh. Anh không hề ngạc nhiên khi nhận ra là nó đã đứng. Kim đồng hồ chỉ mười hai giờ đúng. Có thể nửa đêm mà cũng có thể giữa trưa.

Trên tường, giữa hai cửa sổ, có treo một bức ảnh chân dung lồng dưới kính, khung gỗ đen, phía sau ló ra một nhánh hoàng dương được ban phép lành. Simon nhìn bức chân dung gần hơn. Nhưng ánh sáng từ những cây nến không đủ để anh có thể phân biệt những nét của người trong ảnh, một người đàn ông mặc quân phục, hình như thế.

Đột nhiên ý muốn nhìn rõ hơn khuôn mặt ấy xâm chiếm Simon, bấy giờ bất chợt nhận ra hình ảnh kia mang một tầm quan trọng không giải thích được đối với mình. Anh vội vàng quay lại gần phía giường, cầm lấy một chân đèn, và trở về chỗ bức chân dung, đưa cái ánh sáng run rẩy của những ngọn nến chiếu hết sức vào ảnh…

Anh có thể gần như đoán chắc: đây là chân dung của chính anh. Không thể nào có chuyện nhầm lẫn. Khuôn mặt hoàn toàn nhận ra được, mặc dù có lẽ già hơn đến hai hay ba tuổi, hay hơn thế một chút, là chỗ đã làm cho anh có một vẻ nghiêm nghị và trưởng thành.

Simon gần như hoá đá. Cái chân đèn nặng bằng đồng giơ ra thẳng tay, anh không sao rời mắt khỏi cái bản sao kia của mình, bấy giờ đang như hơi mỉm cười với anh, với cái vẻ vừa anh em vừa nhạo báng.

Trên cái ảnh chụp xa lạ đó, anh mặc bộ đồng phục hải quân và mang lon hạ sĩ quan trưởng. Nhưng bộ đồng phục không đúng y như đồng phục dùng trong quân đội Pháp, không đúng như thời hiện tại, ít ra là thế. Vả chăng, Simon chưa hề đi lính hay đi hải quân bao giờ. Bản in ảnh màu nâu đen hơi bị phai. Giấy ảnh có vẻ đã ngả vàng vì thời gian, lấm chấm những vết nhỏ màu xám hay nâu nhạt.

Ở phần lề dưới, hai dòng chữ ngắn viết tay chắn xiên khoảng trống. Simon nhận ra ngay ở đây nét chữ của mình, chữ viết nghiêng theo chiều ngược như chữ những người thuận tay trái. Anh khẽ đọc: “Tặng Jean và Marie, ba yêu quý.”

Simon quay người lại. Anh không nghe tiếng cô, Djinn đã tiến đến gần anh; và cô ngắm anh với một cái bĩu môi đùa cợt, gần như là âu yếm:

“Ông thấy không,” cô nói, “đây là một bức ảnh của ông, trong vài năm nữa.”

“Thế nó, nó cũng là một phần của cái trí nhớ bất thường của Jean, và của tôi trong tương lai?”

“Tất nhiên, cũng như mọi thứ khác ở đây.”

“Trừ cô?”

“Vâng, đúng thế. Bởi vì Jean lẫn lộn mọi thứ thời gian. Đó chính là cái làm cho mọi thứ rối loạn và khó hiểu.”

“Lúc nãy cô có nói là tôi sẽ đến đây trong vài ngày tới. Tại sao? Tôi sẽ đến đây làm gì?”

“Ông sẽ đem trở lại trên tay ông một thằng bé bị thương, dĩ nhiên, một thằng bé vả lại sẽ phải là con trai của ông.”

“Jean là con trai tôi? ”

“Nó ‘sẽ là’ con trai ông, như lời đề tặng trên bức ảnh đã chứng tỏ. Và ông cũng sẽ có một đứa con gái, có tên là Marie.”

“Cô thấy rõ là không thể nào như vậy! Tuần tới tôi không thể có một đứa con tám tuổi, đứa con mà hôm nay chưa sinh ra, và lại là người chính cô đã từng biết cách đây hơn hai năm!”

“Ông đúng là lý luận như một người Pháp: theo chủ thuyết thực chứng và chủ thuyết Descartes… Dù sao đi nữa, tôi có nói là ông sẽ trở lại đây ‘lần đầu tiên’ trong vài ngày tới. Nhưng sau đó ông sẽ còn trở lại đây nhiều lần. Ông còn có thể sẽ ở trong ngôi nhà này với vợ và con cái của mình. Nếu không thế, tại sao ảnh ông lại dùng trang hoàng cho bức tường kia?”

“Cô không phải người Pháp?”

“Trước đây tôi không phải người Pháp. Trước, tôi người Mỹ.”

“Cô làm gì, ngoài đời?”

“Diễn viên điện ảnh.”

“Và do sao mà cô chết?”

“Một tai nạn máy móc, do một cái máy tính điên loạn gây ra. Chính vì lẽ đó mà bây giờ tôi đang đấu tranh, chống lại việc máy móc hoá và thông tin học.”

“‘Bây giờ’ nghĩa là gì? Tôi tưởng cô đã chết rồi chứ!”

“Thì sao? Ông cũng thế, ông cũng đã chết rồi! Ông không để ý bức chân dung trong khung gỗ đen, và nhánh hoàng dương được ban phép lành đang canh giữ cho linh hồn ông sao?”

“Vậy thì do sao mà tôi chết? Do sao mà sau đó tôi sẽ chết? Hay đúng hơn, do sao mà tôi sẽ chết sau này?” Simon hét lên, càng lúc càng phẫn nộ.

“Chết đắm ngoài khơi,” Djinn bình tĩnh trả lời.

Lần này thì quá lắm rồi. Simon làm một cố gắng cuối cùng, tuyệt vọng, để ra khỏi cái chỉ có thể là một cơn ác mộng. Anh nghĩ trước tiên anh sẽ phải làm cho giãn gân cốt: anh phải hét lên, anh phải đập đầu vào tường, phải đập bể một cái gì…

Một cách điên cuồng, anh vứt cái chân đèn nến hãy còn thắp sáng xuống nền nhà, và cương quyết bước về phía người thiếu nữ quá đẹp đang giễu cợt mình. Anh đưa tay ra nắm người cô. Thay vì chống lại anh, cô ôm choàng lấy anh, như một con bạch tuộc vàng, với một thứ nhục dục mà anh không hề chờ đợi.

Đối với một bóng ma, da thịt cô quá ấm và quá êm… Cô kéo anh đến giường, ở đấy thằng bé đã bỏ trốn, hẳn là do tiếng ồn ào đánh thức dậy. Trên nền nhà, những ngọn nến rải ra vẫn tiếp tục cháy, có nguy cơ bắt lửa qua những màn trướng…

Đó là hình ảnh rõ ràng sau cùng của Simon Lecœur về căn phòng, trước khi chìm đắm vào cuộc vui.

 

[còn 1 chương và bài KẾT]
 
--------------------
Trích trong Alain Robbe-Grillet, DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ, Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu (Trình Bầy / Tủ sách Nhân & Dân, 2003).
 

 

 

Đã đăng:

... Không có gì — tôi muốn nói là không một bằng chứng quyết định nào — có thể cho phép bất cứ ai xếp câu chuyện của Simon Lecœur vào loại những chuyện thuần tuý tiểu thuyết. Ngược lại người ta có thể khẳng định là những yếu tố nhiều và quan trọng của bản văn không chặt chẽ, đầy lỗ hổng, hoặc như là bị nứt nẻ này, ăn khớp với thực tế (thực tế mà ai nấy đều biết) với một sự nhấn mạnh bởi vì là rõ ràng, nên làm ta thấy rối tung. Và... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Tôi đến nơi đúng giờ ấn định: bấy giờ là sáu giờ rưỡi. Trời đã gần như tối. Cửa nhà kho không đóng. Tôi đẩy cửa lớn bước vào, cánh cửa không còn ổ khoá... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Khi tôi trở lại một mình, bước nhanh nhẹn trên những đường phố bấy giờ chói chang ánh đèn đường và tủ kính các cửa tiệm, tôi nhận ra trong tôi một sự thay đổi tâm trạng thật đáng kể: một sự hân hoan mới toanh bấy giờ làm thân thể tôi nhảy nhót... (...)
 
... Bì thư mang tên nguyên vẹn của người nhận: “Ông Simon Lecœur, tức Boris”, nghĩa là không những tên tôi mà thôi, mà còn có cả mật khẩu của tổ chức tôi mới chỉ làm việc từ có mấy giờ trước đây. Còn lạ hơn nữa... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cuối cùng, tôi đã chấp nhận mất cả quyền sử dụng mắt mình sau khi đã tuần tự mất hết quyền sử dụng ý chí tự do của mình và quyền sử dụng trí khôn của mình... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Trong khi xe chạy, tôi lại nghĩ tới cái phi lý trong hoàn cảnh của tôi. Nhưng tôi lại không sao quyết định chấm dứt nó được. Cái bướng bỉnh ấy của tôi làm ngay chính tôi cũng ngạc nhiên. Tôi tự trách mình về nó, nhưng đồng thời cũng thấy vui vì nó... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cái xác không những đã cứng đơ và lạnh, mà anh thấy nó còn như là quá cứng, quá rắn chắc, đến nổi người ta không thể tin nó là bằng thịt và bằng những khớp xương của con người... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018