thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ [9/10: chương 8]

 

Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu

 

ALAIN ROBBE-GRILLET

(1922-2008)

 

Alain Robbe-Grillet sinh ngày 18.8.1922 ở Brest (Finistère), tây bắc Pháp, trong một gia đình gồm những người làm khoa học và kỹ sư. Ông học trung học ở Lycée de Brest, rồi Lycée Buffon, Lycée Saint-Louis ở Paris. Năm 1946 ông tốt nghiệp Viện Canh nông Quốc gia, được bổ nhiệm làm tại Viện Thống kê Quốc gia Paris, nhưng đến năm 1948 thì nghỉ và về làm việc cho phòng thí nghiệm của người chị ở Seine et Marne, chuyên sưu tầm về sinh vật học. Từ 1949 (năm ông hoàn tất tiểu thuyết đầu tay Un Régicide) đến 1951 ông làm việc tại Viện nghiên cứu trái cây bản xứ, từng ở Maroc, Guadeloupe, Guinée và Martinique để nghiên cứu về trái cây miền nhiệt đới. Trên chuyến tàu thủy đưa ông từ Martinique trở về Paris (1951), Robbe-Grillet khởi sự viết cuốn Les Gommes, và từ cuối năm 1951 những bài điểm sách và nhiều tiểu luận ông viết bắt đầu xuất hiện trên nhiều tạp chí: Critique, Express, La Nouvelle Nouvelle Revue Française – để làm sáng tỏ lối viết của mình. Les Gommes được xuất bản ở nhà Minuit năm 1953 (Giải thưởng Fénéon 1954), và cũng bắt đầu từ năm này ông sang hẳn địa hạt văn chương. Cuốn Le Voyeur (1955, Giải các nhà phê bình) được coi là đánh dấu thời gian ông làm tư vấn cho nhà xuất bản Minuit. Robbe-Grillet lấy vợ năm 1957, năm xuất bản cuốn La Jalousie, và song song với viết lách, ông bắt đầu bước qua điện ảnh, khởi đầu là phim L’Année dernière à Marienbad (1960, Giải Sư tử Vàng tại Venise 1961), rồi đến L’Immortelle (1963), Trans-Europ-Express (1966)... Quan điểm tiểu thuyết của ông, thể hiện qua cuốn Pour un nouveau roman (1963), và hơn hết là trong toàn bộ tác phẩm ông, được bàn cãi khắp thế giới. Năm 1964 ông đi nói chuyện tại nhiều trường đại học ở Mỹ, và từ 1972 về sau dạy nhiều khoá ở New York University, nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Robert Rauschenberg, Roy Lichtenstein...
 
Tác phẩm Robbe-Grillet đi từ văn chương qua điện ảnh, nhiếp ảnh, hội hoạ – đi tới đâu cũng để lại dấu vết một cái nhìn sắc sảo. Con người xưa nay bị ngộ nhận nhiều nhất giờ đây đã được hiểu rõ hơn – về biến chuyển của người viết, tiến trình suy nghĩ, và về ý nghĩa sâu xa của sự tìm kiếm. Ngòi bút Robbe-Grillet khởi sự từ chỗ “tước bỏ trái tim lãng mạn” nơi sự vật, chối từ những yếu tố qui ước, như một câu chuyện kể mang kịch tính, ý niệm một chiều về thời gian, phân tích tâm lý nhân vật, và đạt đến một kiểu mô tả lạnh lùng những hình ảnh và vật thể lặp đi lặp lại, những biến cố ngẫu nhiên của đời sống thường ngày: người đọc bấy giờ tha hồ đoán hiện thực đàng sau những chi tiết và sự kiện. Hiện thực khách quan? Không hẳn thế. Robbe-Grillet luôn nhấn mạnh cái chỗ chủ quan này của thế giới ông mô tả: mọi thứ được nhìn qua mắt của một nhân vật, chứ không phải của một người kể chuyện “cái gì cũng biết”, và người đọc từ nay sẽ không nhìn bản văn như một biểu hiện của thực tại, mà là một thứ ngôn ngữ được vận dụng trong đó chữ đóng vai trò quan trọng như những dấu hiệu chứ không phải là cái chuyên chở ý nghĩa.
 
Hoàng Ngọc Biên

 

________

 

Đã đăng: NHẬP[1][2][3][4][5][6][7]

 

CHƯƠNG 8

 

Năm ngoái, khi tôi đến Pháp, tôi có quen, quen tình cờ, một anh chàng trạc tuổi tôi tên là Simon Lecœur, nhưng cứ muốn người ta gọi mình là Boris, đến nay tôi vẫn không hề biết tại sao.

Tôi thích anh ta ngay tức thì. Anh chàng khá đẹp trai, to cao đối với một người Pháp, và nhất là anh có một óc tưởng tượng ngông cuồng làm anh cứ mỗi lúc lại biến cái đời sống hàng ngày và những biến cố bình thường nhất của nó thành những cuộc phiêu lưu tiểu thuyết kỳ lạ như ta vẫn thấy trong những truyện kể khoa học giả tưởng.

Nhưng hầu như ngay lúc ấy, tôi đã nghĩ là tôi đôi khi sẽ cần phải có nhiều kiên nhẫn để sẵn sàng chấp nhận những chuyện bịa đặt ngông cuồng của anh; lẽ ra tôi phải viết: những chuyện điên cuồng của anh. “Tôi phải yêu anh ấy kinh khủng,” tôi đã tự nói với mình như thế ngay cái ngày đầu tiên; nếu không phải thế, thì rất mau, chúng tôi sẽ không chịu đựng được nhau đâu.

Chúng tôi gặp nhau một cách vừa lạ lùng vừa nhạt nhẽo, nhờ vào một mẩu rao vặt đọc được trên một tờ nhật báo. Bấy giờ tôi và anh ấy, chúng tôi đều đang tìm việc làm; một việc làm từng giai đoạn có thể cho phép chúng tôi kiếm cho mình, nếu không phải là cái cần thiết, thì ít ra cũng là một tí xa hoa, mà không phải nhọc công quá. Anh ta, anh ta cũng tự cho là sinh viên.

Vậy thì một mẩu rao vặt, được viết theo lối điện báo với những chữ viết tắt không phải là rõ ràng lắm, tìm một người đ.ô. hoặc đ.b. để trông nom hai đứa bé, một trai và một gái, có lẽ là giữ buổi tối, đón ở trường về nhà, dẫn đi chơi sở thú, hay vài việc khác cùng loại như thế. Cả hai chúng tôi đếu có mặt ở chỗ hẹn. Nhưng không có ai khác đến.

Người đăng tin rao vặt, khoảng giữa thời gian ấy, hẳn là đã từ bỏ dự tính kia, hoặc là định bằng một cách khác, tìm cái mà người ấy cần. Có điều là khi Simon và tôi gặp nhau, người này đứng trước mặt người kia, thoạt đầu người này cứ tưởng người kia có thể là người mướn mình.

Khi chúng tôi khám phá là hoàn toàn không phải như vậy, và kẻ đăng mẩu rao vặt thật ra đã cho chúng tôi leo cây (nghĩa là hắn ta đã cho chúng tôi ăn thịt thỏ, như ở Pháp người ta vẫn nói), về phần tôi, tôi khá thất vọng. Nhưng anh ta, không mảy may bối rối dù chỉ là một giây, anh ta thích thú tự nguyện kéo dài cái nhầm lẫn của mình, và còn nói y như tôi sắp là bà chủ của anh rồi.

“Anh không lấy làm phiền,” bấy giờ tôi hỏi anh ta, “phải làm việc dưới quyền một cô gái sao?” Anh ta trả lời là trái lại anh rất lấy làm vui lòng.

Anh ta nói “lấy làm vui” chứ không phải là “có thể sẽ lấy làm vui”, điều này có nghĩa là anh tiếp tục trò chơi. Vậy nên đến lượt tôi, tôi giả vờ chính mình là cái người anh ta bịa ra, bởi vì tôi thấy câu chuyện có vẻ khôi hài lạ đời, bởi vì trên tất cả tôi thấy anh ta buồn cười và thú vị.

Tôi còn nói thêm là “nhưng đứa bé kia, mà từ nay anh ta sẽ trông nom giùm tôi, rất là khó bảo: chúng thuộc một tổ chức khủng bố làm nổ tung cả những trung tâm nguyên tử...” Đây là một ý định ngu xuẩn tôi không biết vì sao đột nhiên thoáng qua đầu tôi lúc ấy.

Sau đó, chúng tôi đến một quán bia, trên đại lộ gần ngay đó, và anh ta lấy cho tôi một cái cà-phê kem và một cái bánh mì nướng kẹp giăm bông phó mát. Tôi muốn lấy một cái pizza, nhưng anh ta đã tức thì lao vào những chuyện hoang đường mới về cái tiệm rượu này, nơi coi như là người ta dọn những thức ăn có thuốc độc cho những gián điệp bên phía kẻ thù là những kẻ người ta muốn trừ khử.

Bởi anh hầu bàn của tiệm cà-phê ít nói, gắt gỏng, với một bộ mặt có vẻ hung dữ, Simon khẳng định hắn ta là một tên gián điệp Xô-viết, và người làm việc cho hắn ta chính là hai đứa bé kia.

Cả hai chúng tôi đều rất vui. Chúng tôi thì thầm vào tai nhau, để anh hầu bàn không nghe chúng tôi, như những kẻ âm mưu hoặc những tình nhân. Cái gì cũng làm chúng tôi thích thú cả. Cái gì với chúng tôi cũng dường như diễn ra trong một bầu khí đặc biệt, được ưu đãi, hầu như siêu nhiên.

Cái cà-phê kem rất tệ. Nhưng anh bạn tôi đã giải thích cho tôi, với một vẻ rất nghiêm trang, rằng, nếu tôi cứ tiếp tục uống cà-phê đậm quá, tôi sẽ bị mù, do bởi màu mắt xanh nhạt của tôi. Anh đã lợi dụng câu chuyện, dĩ nhiên, để nói mấy lời khen “cái nhìn bí ẩn” của tôi và cả “cái ánh-mắt-ngoài-trái-đất” từ con người của tôi toát ra!

Tôi phải đến nhà ga phía Bắc, để đón cô bạn Caroline của tôi, sẽ đến bằng xe lửa từ Amsterdam. Nhà ga không xa chỗ chúng tôi lắm. Simon, tất nhiên muốn đi theo tôi, đã đề nghị là chúng tôi sẽ đi bộ đến đấy. Vả chăng đúng ra tôi phải viết: “Simon đã quyết định là chúng tôi sẽ đi bộ”, bởi lẽ cái kiểu ngông cuồng kiên trì của anh ta, thật là mâu thuẫn, thường kết hợp với một thứ độc đoán rất mạnh.

Chúng tôi bắt đầu bước đi, một cách vui vẻ. Simon tìm cách bịa ra đủ thứ chuyện, ít nhiều huyễn hoặc, liên hệ đến những nơi chúng tôi đi qua và đến những người đi qua chúng tôi. Nhưng anh ta đưa chúng tôi đi theo một con đường kỳ lạ, rắc rối, mà anh cũng không chắc lắm: những con đường nhỏ ngày càng vắng vẻ, hình như là một lối đi tắt.

Rốt cuộc chúng tôi đi lạc hoàn toàn. Tôi thì sợ trễ giờ, còn Simon thì rõ ràng càng lúc càng bớt đùa với tôi. Tôi hết sức bằng lòng, vì không còn cách nào khác, đã có thể nhảy lên một chiếc taxi đang chạy chậm để đón khách, bởi tôi thấy sự hiện diện bất ngờ của nó ở những nơi hẻo lánh như thế này có vẻ như là trên trời rơi xuống.

Trước khi bỏ lại người dẫn đường đáng thương của tôi, vì — do những lý do ngông cuồng — anh không chịu leo lên xe với tôi, tôi cũng đã hẹn với anh ngày hôm sau, lấy một cái cớ thật ra là phi lý (cố tình phi lý): trở lại thăm viếng khu phố vắng vẻ này — không có một cái gì hấp dẫn du khách — chính xác tại điểm mà chúng tôi chia tay nhau, nghĩa là khoảng giữa con đường dài thẳng tắp, giữa những hàng rào cũ kỹ và những tường thành phân nửa đã sụp đổ, lấy một căn chòi hoang phế làm điểm mốc.

Vì tôi sợ không thể tự mình tìm ra được chỗ ấy, chúng tôi đã quyết định, để thực hiện cuộc khảo sát này, sẽ gặp nhau trong tiệm cà-phê, nơi chúng tôi đã từng dùng chân ngày hôm nay. Bia ở đây có thể ít tệ hơn cà-phê đen.

Nhưng người tài xế taxi sốt ruột; ông ta cho rằng xe của mình đang làm nghẽn giao thông, là điều hoàn toàn ngu xuẩn bởi lẽ ở đây chẳng có giao thông gì cả. Tuy nhiên, giờ xe lửa đến gần, nên Simon và tôi, hai chúng tôi chia tay nhau rất ngắn ngủi. Vào phút chót, anh hét với tôi một số điện thoại mà tôi có thể dùng để gọi cho anh: số bảy trăm sáu mươi lăm, bốn mươi ba, hai mươi mốt.

Khi đã ngồi vào taxi, chiếc xe cũ kỹ và tình trạng còn tồi tệ hơn những chiếc taxi ở New York, tôi nghĩ là xe cũng có cái màu vàng tươi mà chúng tôi vẫn từng quen thuộc, ở bên nhà, nhưng ở Pháp thì lại rất là đặc biệt. Tuy nhiên, Simon không ngạc nhiên về điều này.

Và sau đó, khi suy nghĩ thêm, tôi tự hỏi làm sao có thể có chuyện cái xe này ở ngay đây, trên đường đi của chúng tôi: taxi thường không có thói quen lảng vảng tìm khách ở những nơi hẻo lánh, gần như không có người ở như thế này. Điều này thật không sao hiểu được...

Sự bối rối của tôi còn tăng thêm nữa khi tôi nhận ra người tài xế đã điều chỉnh cái kính chiếu hậu trong xe, phía trên kính che gió, để có thể dễ dàng quan sát chính tôi, thay vì trông chừng con đường phía sau chúng tôi. Khi tôi bắt gặp cái nhìn của ông ta, trong cái kính nhỏ hình chữ nhật, ông ta còn chẳng thèm quay nhìn chỗ khác nữa. Mặt ông ta có những nét mạnh mẽ, không đều, không đối xứng. Và tôi thấy ông ta có một vẻ gì hung dữ.

Khó chịu vì hai con ngươi tối sầm ấy, hai con ngươi nằm sâu hút trong hốc mắt, bấy giờ vẫn cứ tiếp tục nhìn chòng chọc vào tôi trong kính (vậy ra ông ta biết rõ cái mê lộ những con hẻm kia, đến độ ông có thể lái xe nhanh thế đó mà hầu như chẳng phải nhìn đường sá?), tôi hỏi ông ta có phải nhà ga phía Bắc còn xa hay không. Người đàn ông bấy giờ cái miệng co dúm lại một cách khủng khiếp, có thể là do cười nhưng không cười được, và ông nói bằng một giọng chậm rãi:

“Cô đừng lo, chúng ta sắp đến ngay mà.”

Câu nói vô hại đó, thốt ra bằng một giọng bi thảm (người nào hay sợ hãi có thể cho câu nói là đe dọa) chỉ làm tăng thêm sự bối rối của tôi. Tiếp đó, tôi tự trách mình quá đa nghi, và tôi tự bảo là cái kiểu tưởng tượng điên loạn của Simon hẳn là đã lây sang tôi.

Tôi đã nghĩ là tôi đang rất gần nhà ga, vào lúc Simon và tôi chia tay. Thế mà chiếc taxi đã chạy rất lâu, trong khu phố mà tôi không nhận ra được gì cả, và lại có cái vẻ làm tôi nhớ đến những vùng ngoại ô xa xôi.

Thế rồi, đột nhiên, tới một khúc quanh trên đường, chúng tôi ở ngay trước mặt tiền rất quen thuộc của nhà ga phía Bắc. Bên lề đường, chỗ xe taxi thường quẹo gấp trở lại rồi thả khách xuống, Simon đã đứng đó đợi tôi.

Anh ta mở cửa xe một cách lịch sự, và hẳn là tự anh đã thanh toán tiền cuốc xe, bởi vì, sau khi tôi thấy anh cúi xuống một lúc ở cửa kính đã quay xuống, chỗ tài xế, ông này đã mở máy không đợi gì khác, nhấn ga chạy hết tốc lực. Tuy nhiên, cuộc nói chuyện qua lại (không nghe được) cực kỳ ngắn gọn, và tôi không nhớ đã thấy, giữa hai người, có một cử chỉ nhỏ nào có thể liên hệ đến việc trả tiền.

Vả lại, tôi hoàn toàn hãy còn sửng sốt trước sự xuất hiện bất ngờ của Simon. Anh ta mỉm cười dễ thương, với một vẻ sung sướng, như một đứa bé đã vừa làm xong một trò đùa vui. Tôi hỏi anh bằng cách nào anh đã đến đây.

“Ấy,” anh trả lời, “tôi đi theo một đường tắt.”

“Anh đi bộ đến đây?”

“Dĩ nhiên. Và tôi chờ cô đã mười phút rồi.”

“Không thể như thế được!”

“Có lẽ không thể được, nhưng là có thật. Cô đã mất thì giờ vô cùng lâu để đi một đoạn đường rất ngắn. Bây giờ, cô đã đón trễ chuyến xe lửa, và trễ cả cô bạn của cô.”

Không may là đúng như thế. Tôi đã trễ gần mười phút, và sẽ rất khó tìm cho ra Caroline trong đám đông. Lẽ ra tôi phải đón bạn ngay chỗ bước xuống xe lửa, ngay cửa ra vào sân ga.

“Nếu cô muốn biết ý kiến tôi,” Simon còn nói thêm,” thì cái lão tài xế kia đã cố tình đưa cô đi dạo một vòng, để kéo dài cuốc xe. Thấy cô đến trễ, có lúc tôi đã nghĩ là có thể cô sẽ không bao giờ đến: taxi vàng lúc nào cũng là những xe dùng để bắt cóc. Ở nước chúng tôi nó đã thành truyền thống.

“Từ nay cô cần phải coi chừng hơn nữa: ở Paris mỗi ngày có cả tá thiếu nữ xinh đẹp biến mất, theo kiểu như thế. Các cô sẽ sống quãng đời ngắn ngủi còn lại trong những nhà chứa xa hoa ở Beyrouth, ở Macao và ở Buenos Aires. Mới tháng vừa rồi người ta đã khám phá ra...”

Thế rồi đột nhiên, như anh vừa bỗng nhớ ra một công chuyện gì khẩn cấp, Simon ngưng bặt, ngay giữa những chuyện bịa đặt và những chuyện nói dối với mình, để vội vàng tuyên bố:

“Xin lỗi cô, tôi phải đi ngay đây. Tôi đã trễ quá rồi... Vậy thì, hẹn ngày mai, như đã thỏa thuận.”

Để nhắc tôi nhớ cuộc hẹn ngày hôm sau, anh ta đã xuống giọng nói bí mật, như một kẻ nào đó đang sợ để lọt vào tai tò mò của những tên có cơ là gián điệp. Tôi trả lời: “Mai nhé!” và tôi thấy anh vừa đi vừa chạy. Anh mất hút ngay trong đám đông.

Bấy giờ tôi trở lại cửa ra vào nhà ga và tôi thoáng thấy Caroline đang bước ra, tiến đến phía tôi với nụ cưới mở to nhất. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy nó đang nắm tay một con bé tóc vàng, rất xinh, tuổi có lẽ là bảy hay tám gì đó.

Caroline, tay phải bấy giờ bận xách một cái valise, buông tay con bé để ra dấu vui mừng với tôi bằng tay trái. Và, không quan tâm tới những người qua lại đang vội vàng chen lấn tứ phía giữa chúng tôi, nó hét:

“Thế ra mày đi đón tao trên sân ga cái kiểu ấy! Mày đứng nói chuyện với bọn đàn ông con trai, chẳng thèm quan tâm tới giờ chuyến xe lửa của tao!”

Nó chạy bổ lại tôi và ôm hôn tôi tới tấp như thường lệ. Con bé nhìn ra nơi khác, với cái vẻ kín đáo của một người nhỏ tuổi có giáo dục chưa được đem giới thiệu. Tôi nói:

“Vâng, tao biết, tao đến hơi trễ. Cho tao xin lỗi. Tao sẽ giải thích cho mày rõ...”

“Có gì đâu mà giải thích: tao thấy rõ là mày đang đứng với một anh chàng đẹp trai! Này, tao giới thiệu Marie với mày. Cháu là con gái của anh Joseph và chị Jeanne của tao. Mấy người ở Amsterdam nhờ tao đưa cháu về với bố mẹ.”

Con bé bấy giờ hướng về tôi, ân cần và nghiêm trang, biểu diễn một cái nghiêng mình chào phức tạp, trịnh trọng, kiểu chào người ta dạy cho những tiểu thư cách nay năm mươi hay một trăm năm. Tôi nói: “Chào em, Marie!” và Caroline tiếp tục liến thoắng giải thích.

“Cháu về nghỉ hè ở nhà một người cô, mày đã biết đấy: em gái của Jeanne có chồng là một sĩ quan hải quân Nga. Tao đã kể cho mày nghe chuyện đó rồi: một anh chàng tên là Boris, đã xin tị nạn chính trị nhân một lần tàu ghé lại La Haye.”

Bằng một giọng phải chăng của người lớn, và với một thứ ngôn ngữ kiểu cách lạ lùng đối với một đứa bé ngần ấy tuổi, con bé Marie thêm vào những bình luận của riêng mình:

“Chú Boris thật ra không phải là một người tị nạn chính trị. Chú là một điệp viên Liên Xô, giả dạng làm người ly khai và được giao nhiệm vụ gieo sự tranh chấp và hỗn loạn trong giới công nhân ngành công nghiệp nguyên tử.”

“Chính em một mình khám phá ra điều đó à?” Tôi hỏi nó một cách thích thú.

“Vâng, chính cháu,” nó trả lời không bối rối. “Cháu thấy rõ là chú ấy có số điệp viên xăm màu lam trên cổ tay trái. Chú cố giấu nó dưới một giải băng bằng da, mà chú mang coi như là để tăng cường khớp xương. Nhưng không đúng thế, bởi lẽ chú không làm việc gì phải dùng sức cả.”

“Đừng có nghe Marie,” Caroline nói với tôi. “Lúc nào cháu cũng bịa ra những chuyện phi lý, chuyện khoa học giả tưởng, chuyện tình báo hoặc là huyền bí. Trẻ con đọc quá nhiều sách văn chương huyễn hoặc.”

Lúc ấy, tôi nhận ra có một người đàn ông đang quan sát chúng tôi, cách chỗ chúng tôi vài bước. Ông ta đứng ở chỗ hơi khuất, trong một góc tường, và đang nhìn chòng chọc và cái nhóm nhỏ chúng tôi với một vẻ quan tâm bất thường. Thoạt tiên tôi cứ tưởng Marie là người đã làm hắn chú ý một cách khá là khả nghi như thế.

Hắn có thể vào khoảng bốn mươi tuổi, có lẽ hơn thế một chút, và mặc một bộ đồ tây màu xám, cái chéo trước ngực, kiểu may cổ điển (áo vét, quần và áo gi-lê đi với nhau), nhưng đã cũ, sờn, dùng lâu nên xộc xệch, và một chiếc sơ-mi và một cái cà-vạt bèo nhèo y như vừa để nguyên quần áo như thế mà ngủ suốt một đoạn đường xe lửa dài. Hắn xách trên tay một cái va-li da màu đen, làm tôi nghĩ đến cái túi dụng cụ của bác sĩ mổ, tôi không hiểu chính xác là vì sao.

Hai con mắt tối sầm và sắc bén kia, nằm sâu hút trong hốc mắt, khuôn mặt với những nét không đối xứng, nặng nề, lộ hẳn một vẻ khó coi, cái miệng to tướng ấy, vặn vẹo do một kiểu cười nhếch mép, tất cả những cái đó nhắc tôi nhớ dữ dội một cái gì đó... một kỷ niệm, dù là mới đây thôi, mà tôi không sao xác định.

Thế rồi, bất chợt, tôi nhớ ra: đó là ông tài xế chiếc taxi màu vàng đã đưa tôi ra ga. Tôi bắt gặp một ấn tượng khó chịu mạnh mẽ, gần như thuộc về thể xác, đến nỗi tôi cảm thấy mình đang đỏ mặt. Tôi quay mặt khỏi cái nhân vật khó chịu ấy. Nhưng, mấy giây sau, tôi lại nhìn hắn ta.

Hắn không nhúc nhích cũng không đổi hướng cái nhìn của mình. Nhưng nói đúng ra, chính Caroline là người hắn có vẻ đang theo dõi. Tôi đã có quên nói là Caroline rất đẹp? Cao lớn và khoẻ mạnh, thon thả, tóc rất vàng, với những sợi ngắn và một khuôn mặt hiền dịu, hơi giống con trai một chút, nhắc ta nhớ nhiều tới khuôn mặt của nữ diễn viên Jane Frank, nó luôn luôn cuốn hút về mình những lời tán tụng, ít nhiều lộ liễu, của cánh đàn ông đủ mọi lứa tuổi.

Tôi cũng phải thú nhận một chuyện khác: có người cho rằng nó và tôi, chúng tôi giống nhau một cách lạ lùng. Nói chung người ta nghĩ chúng tôi là chị em, nhưng thường thì họ cho chúng tôi là sinh đôi. Và đã nhiều lần bạn bè của Caroline nói chuyện với tôi mà vẫn tưởng là đang nói chuyện với nó, thế nên một ngày nọ đã nảy sinh ra một biến cố lạ lùng...

Nhưng Caroline đã ngắt ngang dòng suy nghĩ của tôi:

“Mày sao vậy?” nó vừa hỏi vừa nhìn vào mặt tôi một cách lo lắng. “Mày thay đổi sắc mặt. Có thể nói là mày vừa nhìn thấy một cái gì kinh khủng lắm.”

Marie, đoán được nguyên do cảm xúc của tôi, đã điềm tĩnh cắt nghĩa, giọng rất to:

“Cái ông theo dõi chúng ta từ khi chúng ta xuống xe lửa vẫn đứng đàng kia, với chiếc va-li nhỏ đầy những dao con. Hắn là một tên cuồng dâm, dĩ nhiên, cháu nhận ra điều đó ngay từ đầu.”

“Đừng nói to thế,” Caroline vừa thì thầm vừa cúi xuống con bé, giả bộ như vuốt thẳng những nếp nhàu trên áo nó, “ông ta nghe thấy bây giờ.”

“Tất nhiên là hắn nghe chúng ta,” Maire trả lời vẫn không hạ thấp giọng. “Hắn đứng đấy là để nghe chúng ta mà.”

Và, một cách bất ngờ, nó thè lưỡi trêu chọc về phía người lạ, cùng lúc mỉm một nụ cười thiên thần nhất của nó với hắn ta. Caroline vừa phá ra cười, với sự vô tâm thông thường của nó, vừa rầy Marie cho có lệ, hoàn toàn không phải rầy thật. Rồi nó nói với tôi:

“Thật ra, con bé có lẽ có lý. Vả lại tao nghĩ lão kia đã đi cùng chuyến xe lửa với tụi tao. Tao thấy hình như đã nhìn thấy lão đi lảng vảng trên hành lang toa xe, và đã thoáng thấy lão trên sân ga khởi hành, ở Amsterdam.”

Ngước mắt lên lần nữa về phía con người đáng ngại với chiếc vali nhỏ màu đen kia, bấy giờ tôi chứng kiến một cảnh tượng chỉ làm tăng thêm sự ngạc nhiên của tôi. Người đàn ông không còn đứng quay về phía chúng tôi; bây giờ hắn nhìn một người mù đang đi về phía hắn, mò mẫm trên đất với đầu bịt sắt của chiếc gậy cầm trên tay.

Đây là một người đàn ông cao lớn tóc vàng khoảng hai mươi hay hai mươi lăm tuổi, mặc một chiếc áo blouson lịch sự bằng da rất mịn, màu kem, áo hở để lộ một cái áo tròng đầu màu xanh tươi. Cặp kính to tổ bố màu đen che hai con mắt hắn. Hắn nắm bên tay phải cái gậy trắng tay cầm uống cong. Một thằng bé khoảng mười hai tuổi nắm bàn tay trái dẫn đường cho hắn.

Trong vài giây đồng hồ, tôi đã tưởng tượng, mặc dầu không thể như thế được, đây chính là Simon Lecœur, hiện đang trở lại đây và giả dạng làm người mù. Tất nhiên, khi nhìn kỹ người ấy, tôi nhận ra ngay là tôi nhầm: mấy điểm chung mà người ta có thể nhìn thấy trong dáng đi nói chung, áo quần, hay kiểu tóc của hai người trai trẻ kia, thật ra chỉ là một phần rất nhỏ.

Khi người thanh niên cầm chiếc gậy trắng và người dẫn đường đi đến gần cái nhân vật áo quần xộc xệch và tay cầm túi xách bác sĩ kia, cả hai dừng lại. Nhưng không ai trong họ biểu lộ bất cứ một dấu hiệu gì. Không có chào hỏi, không một lời hay một cử chỉ chào đón mà người ta lẽ ra có thể chờ đợi trong những trường hợp tương tự. Bây giờ họ đứng yên đấy không nói gì, đối diện nhau, bất động.

Thế rồi, một cách chậm rãi và chính xác, cùng một cử động đều như nhau, đúng y như có cùng một bộ máy làm cho cả ba cái đầu hoạt động, họ quay về phía chúng tôi. Và họ đứng yên như thế, hoá đá lần nữa, không cử động y như ba pho tượng: anh chàng tóc vàng nửa mặt bị che dưới cặp kính to tướng, cặp hai bên là thằng bé con bên trái và người đàn ông nhỏ con mặc bộ đồ tây bèo nhèo màu xám bên phải.

Cả ba người mắt nhìn chòng chọc vào tôi, kể cả người mù, sau cặp kính đen to tướng, tôi dám thề như vậy. Mặt thằng bé ốm nhom, xanh xao hết sức, trông bất thường, như ma. Những nét xấu xí của người đàn ông nhỏ con bất động vẽ ra một cái cười nhăn khủng khiếp. Toàn bộ cái nhóm người ấy đột nhiên khiến tôi thấy ghê rợn, đến nỗi tôi muốn gào lên, như là để chấm dứt một cơn ác mộng.

Nhưng, cũng như trong những cơn ác mộng, miệng tôi không thoát ra được một tiếng nào. Tại sao Caroline không nói gì cả? Và Marie, bấy giờ đang đứng giữa hai chúng tôi, với cái thoải mái của đứa trẻ chẳng nể nang sợ sệt gì, tại sao nó không phá tan tình thế mê hoảng kia? Tại sao nó không còn nhúc nhích, cả nó cũng biến thành câm, dưới tác dụng của sự mê hoặc nào?

Nỗi lo mỗi lúc mỗi tăng lên trong tôi nguy kịch, gay gắt, đến độ tôi sợ tôi sẽ bất tỉnh. Để chống lại cảm giác bất ổn không sao chịu nổi kia, ít khi thấy có nơi bản chất của tôi, tôi cố nghĩ tới một cái gì khác. Nhưng để bám víu vào, tôi không tìm ra được cái gì ngoài một trong những tràng diễn văn ngu xuẩn mà Simon đã đọc cho tôi nghe, một hay hai giờ trước đấy:

Anh ta cho rằng tôi không phải là một phụ nữ thật sự, mà chỉ là một cái máy điện tử rất toàn hảo, do bác sĩ Morgan nào đó tạo nên. Ông này, hiện giờ, đang tiến hành trên tôi những cuộc thí nghiệm khác nhau, để thử nghiệm những hiệu năng của tôi. Ông đưa tôi vào một loạt những thử nghiệm, đồng thời cho những nhân viên làm việc với ông giám sát những phản ứng của tôi, đặt họ cùng khắp trên đường tôi đi, trong số đó có những người cũng chính lại chỉ là những người máy...

Những động tác của anh chàng giả làm mù kia, anh chàng vừa đến ngay trước mặt tôi như chỉ là do tình cờ, bộ tôi không thấy là chúng có vẻ máy móc và nghe giật giật từng hồi sao? Cặp kính lạ lùng kia, mà mỗi lúc tôi càng thấy có vẻ như lớn ra khủng khiếp, chắc chắn không che đôi mắt thật, mà là một thiết bị tiếp nhận tinh vi, còn có thể là những máy phát những tia tác động lên thân thể tôi và lên cả ý thức của tôi, mà tôi không hề biết. Và cái lão y sĩ - tài xế taxi không ai khác hơn là chính ông Morgan ấy.

Khoảng cách giữa những người ấy với tôi bây giờ không còn ai, tôi không biết do một sự tình cờ nào, hay một sự huyền bí nào. Những hành khách qua lại ở đây rất đông, trước đấy một lúc, bây giờ đã biến mất... Với một sự khó khăn không thể hiểu nổi, tôi đã ngoảnh đầu khỏi ba cặp mắt đang thổi miên tôi. Và tôi nhìn về phía Marie và Caroline cầu cứu.

Cả hai người này bấy giờ cũng đang nhìn tôi với cùng đôi mắt lạnh lùng, vô nhân. Họ không về phe tôi, mà về phe bọn người kia, chống lại tôi... Tôi cảm thấy hai chân bủn rủn và lý trí lảo đảo trên không, đang rơi tuột một cách chóng mặt.

...

Sáng hôm ấy khi tôi thức dậy, cái đầu tôi trống rỗng, nặng, và miệng thì nhão nhẹt, y như tối hôm trước tôi đã nhậu nhiều quá, hay đã uống thuốc ngủ loại mạnh. Nhưng không có chuyện như thế...

Đúng ra, tôi đã làm gì, đêm hôm trước? Tôi không sao nhớ ra được... Tôi cần ra ga đón Caroline, nhưng có chuyện gì đó đã ngăn cản tôi... Tôi không còn biết chuyện gì.

Tuy nhiên, một hình ảnh đã trở lại trong trí nhớ tôi, nhưng tôi không sao gắn nó với bất cứ chuyện gì. Đó là một căn phòng lớn, đồ đạc chưng tạp nham, hư hỏng rất nhiều, như những chiếc ghế thủng đáy và những chiếc giường sắt trơ khung kia, mà người ta đem vứt lên tầng thượng ở những ngôi nhà xưa.

Đặc biệt có rất nhiều những cái rương cũ, kích thước và hình dáng khác nhau. Tôi đã mở một trong những cái rương ấy. Rương đầy những áo quần đàn bà không còn hợp thời trang, những áo yếm bó sát, những váy lót và những chiếc áo dài đẹp đã bạc màu từ thời xưa. Tôi khó mà phân biệt rõ những đồ trang sức tỉ mỉ phức tạp và những đồ thêu, vì căn phòng chỉ được chiếu sáng bởi hai chân đèn với những mẩu nến cháy màu vàng chập chờn...

Tiếp đó, tôi nghĩ đến mẩu tin rao vặt mà Caroline đã đọc cho tôi nghe, trong điện thoại, khi nó gọi tôi để cho tôi biết giờ xe lửa đến. Bởi vì tôi đang tìm một việc gì nhỏ, để kiếm thêm vào số tiền học bổng của tôi, tôi đã quyết định đến địa chỉ trong mục tuyển người làm lạ lùng kia, mà cô bạn tôi đã thấy được khi đọc một tờ tuần báo về sinh thái học. Nhưng hôm nay, tôi ngủ lâu đến nỗi đã đến lúc tôi phải đâu đấy sẵn sàng, nếu tôi muốn có mặt ở đấy đúng giớ hẹn.

Tôi đến nơi đúng sáu giờ rưỡi. Trời bấy giờ đã gần như tối. Cửa nhà kho không đóng. Tôi đẩy cửa lớn bước vào, cánh cửa không còn có ổ khoá.

Bên trong im lặng như tờ. Dưới ánh sáng yếu ớt rọi vào từ những cửa sổ với mặt kính cáu bẩn, tôi khó phân biệt được những đồ vật chung quanh mình, chất thành đống loạn xạ khắp mọi phía, có lẽ là không còn dùng được nữa.

Khi mắt đã quen tranh tối tranh sáng, tôi rốt cuộc mới nhận ra người đàn ông, bấy giờ đang ở ngay trước mặt tôi. Đứng thẳng, bất động, hai tay đút vào túi áo mưa, người ấy nhìn tôi không nói một lời, không buồn khoác một cử chỉ chào hỏi nào.

Một cách cương quyết, tôi bước về phía anh ta...

 

[còn bài KẾT]
 
--------------------
Trích trong Alain Robbe-Grillet, DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ, Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu (Trình Bầy / Tủ sách Nhân & Dân, 2003).
 

 

 

Đã đăng:

... Không có gì — tôi muốn nói là không một bằng chứng quyết định nào — có thể cho phép bất cứ ai xếp câu chuyện của Simon Lecœur vào loại những chuyện thuần tuý tiểu thuyết. Ngược lại người ta có thể khẳng định là những yếu tố nhiều và quan trọng của bản văn không chặt chẽ, đầy lỗ hổng, hoặc như là bị nứt nẻ này, ăn khớp với thực tế (thực tế mà ai nấy đều biết) với một sự nhấn mạnh bởi vì là rõ ràng, nên làm ta thấy rối tung. Và... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Tôi đến nơi đúng giờ ấn định: bấy giờ là sáu giờ rưỡi. Trời đã gần như tối. Cửa nhà kho không đóng. Tôi đẩy cửa lớn bước vào, cánh cửa không còn ổ khoá... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Khi tôi trở lại một mình, bước nhanh nhẹn trên những đường phố bấy giờ chói chang ánh đèn đường và tủ kính các cửa tiệm, tôi nhận ra trong tôi một sự thay đổi tâm trạng thật đáng kể: một sự hân hoan mới toanh bấy giờ làm thân thể tôi nhảy nhót... (...)
 
... Bì thư mang tên nguyên vẹn của người nhận: “Ông Simon Lecœur, tức Boris”, nghĩa là không những tên tôi mà thôi, mà còn có cả mật khẩu của tổ chức tôi mới chỉ làm việc từ có mấy giờ trước đây. Còn lạ hơn nữa... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cuối cùng, tôi đã chấp nhận mất cả quyền sử dụng mắt mình sau khi đã tuần tự mất hết quyền sử dụng ý chí tự do của mình và quyền sử dụng trí khôn của mình... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Trong khi xe chạy, tôi lại nghĩ tới cái phi lý trong hoàn cảnh của tôi. Nhưng tôi lại không sao quyết định chấm dứt nó được. Cái bướng bỉnh ấy của tôi làm ngay chính tôi cũng ngạc nhiên. Tôi tự trách mình về nó, nhưng đồng thời cũng thấy vui vì nó... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cái xác không những đã cứng đơ và lạnh, mà anh thấy nó còn như là quá cứng, quá rắn chắc, đến nổi người ta không thể tin nó là bằng thịt và bằng những khớp xương của con người... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Một cách điên cuồng, anh vứt cái chân đèn nến hãy còn thắp sáng xuống nền nhà, và cương quyết bước về phía người thiếu nữ quá đẹp đang giễu cợt mình. Anh đưa tay ra nắm người cô. Thay vì chống lại anh, cô ôm choàng lấy anh, như một con bạch tuộc vàng, với một thứ nhục dục mà anh không hề chờ đợi... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018