thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ [10/10: KẾT]

 

Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu

 

ALAIN ROBBE-GRILLET

(1922-2008)

 

Alain Robbe-Grillet sinh ngày 18.8.1922 ở Brest (Finistère), tây bắc Pháp, trong một gia đình gồm những người làm khoa học và kỹ sư. Ông học trung học ở Lycée de Brest, rồi Lycée Buffon, Lycée Saint-Louis ở Paris. Năm 1946 ông tốt nghiệp Viện Canh nông Quốc gia, được bổ nhiệm làm tại Viện Thống kê Quốc gia Paris, nhưng đến năm 1948 thì nghỉ và về làm việc cho phòng thí nghiệm của người chị ở Seine et Marne, chuyên sưu tầm về sinh vật học. Từ 1949 (năm ông hoàn tất tiểu thuyết đầu tay Un Régicide) đến 1951 ông làm việc tại Viện nghiên cứu trái cây bản xứ, từng ở Maroc, Guadeloupe, Guinée và Martinique để nghiên cứu về trái cây miền nhiệt đới. Trên chuyến tàu thủy đưa ông từ Martinique trở về Paris (1951), Robbe-Grillet khởi sự viết cuốn Les Gommes, và từ cuối năm 1951 những bài điểm sách và nhiều tiểu luận ông viết bắt đầu xuất hiện trên nhiều tạp chí: Critique, Express, La Nouvelle Nouvelle Revue Française – để làm sáng tỏ lối viết của mình. Les Gommes được xuất bản ở nhà Minuit năm 1953 (Giải thưởng Fénéon 1954), và cũng bắt đầu từ năm này ông sang hẳn địa hạt văn chương. Cuốn Le Voyeur (1955, Giải các nhà phê bình) được coi là đánh dấu thời gian ông làm tư vấn cho nhà xuất bản Minuit. Robbe-Grillet lấy vợ năm 1957, năm xuất bản cuốn La Jalousie, và song song với viết lách, ông bắt đầu bước qua điện ảnh, khởi đầu là phim L’Année dernière à Marienbad (1960, Giải Sư tử Vàng tại Venise 1961), rồi đến L’Immortelle (1963), Trans-Europ-Express (1966)... Quan điểm tiểu thuyết của ông, thể hiện qua cuốn Pour un nouveau roman (1963), và hơn hết là trong toàn bộ tác phẩm ông, được bàn cãi khắp thế giới. Năm 1964 ông đi nói chuyện tại nhiều trường đại học ở Mỹ, và từ 1972 về sau dạy nhiều khoá ở New York University, nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Robert Rauschenberg, Roy Lichtenstein...
 
Tác phẩm Robbe-Grillet đi từ văn chương qua điện ảnh, nhiếp ảnh, hội hoạ – đi tới đâu cũng để lại dấu vết một cái nhìn sắc sảo. Con người xưa nay bị ngộ nhận nhiều nhất giờ đây đã được hiểu rõ hơn – về biến chuyển của người viết, tiến trình suy nghĩ, và về ý nghĩa sâu xa của sự tìm kiếm. Ngòi bút Robbe-Grillet khởi sự từ chỗ “tước bỏ trái tim lãng mạn” nơi sự vật, chối từ những yếu tố qui ước, như một câu chuyện kể mang kịch tính, ý niệm một chiều về thời gian, phân tích tâm lý nhân vật, và đạt đến một kiểu mô tả lạnh lùng những hình ảnh và vật thể lặp đi lặp lại, những biến cố ngẫu nhiên của đời sống thường ngày: người đọc bấy giờ tha hồ đoán hiện thực đàng sau những chi tiết và sự kiện. Hiện thực khách quan? Không hẳn thế. Robbe-Grillet luôn nhấn mạnh cái chỗ chủ quan này của thế giới ông mô tả: mọi thứ được nhìn qua mắt của một nhân vật, chứ không phải của một người kể chuyện “cái gì cũng biết”, và người đọc từ nay sẽ không nhìn bản văn như một biểu hiện của thực tại, mà là một thứ ngôn ngữ được vận dụng trong đó chữ đóng vai trò quan trọng như những dấu hiệu chứ không phải là cái chuyên chở ý nghĩa.
 
Hoàng Ngọc Biên

 

________

 

Đã đăng: NHẬP[1][2][3][4][5][6][7][8]

 

KẾT

 

Đến đấy thì chấm dứt câu chuyện của Simon Lecœur.

Tôi nói đúng “câu chuyện của Simon Lecœur”, bởi vì không ai — trong cánh chúng ta cũng như trong cánh cảnh sát — nghĩ rằng Chương 8, xưng tôi là người nữ, thật ra đã được viết bởi ai khác hơn: nó nhập vào với toàn bộ một cách quá ư rõ ràng, về quan điểm ngữ pháp cũng như theo sự hợp lý của những tuyến đường và những chỗ câu chuyện kể lật ngược.

Simon — tất cả những lời chứng đều ăn khớp nhau về điểm này — đã đến trường ở đường Passy để dạy như bình thường, ngày 8 tháng Năm, vào đầu buổi chiều. “Ông có vẻ lo lắng”, trong cuộc điều tra, nhiều học sinh của anh ta đã quả quyết như thế. Nhưng phần đông đều nói thêm là anh ta lúc nào cũng có vẻ lo lắng.

Thực ra, anh ta biểu lộ một trạng thái hoang mang pha lẫn sự kích thích hầu như bệnh hoạn, nỗi lo âu không kiềm chế được và một khí chất vui vẻ nhẹ nhàng, thoải mái, tươi cười, đóng góp rất nhiều cho cái khả ái hiển nhiên mà ai ai cũng thích thú nhìn nhận nơi anh. Chỉ trong một câu chuyện trao đổi ngắn nhất ngoài hành lang với một đồng nghiệp, một nữ học sinh, hay cả với một người cấp trên thôi, anh ta vẫn để lộ một sự vồn vã dễ thương, chuyện trò lúc nào cũng đầy những phát kiến bất ngờ và thoải mái, lúc nào cũng tỏ một sự hồn nhiên, một sự hóm hỉnh tự nhiên, làm mọi người đều yêu mến anh, như người ta yêu một đứa bé...

Thế rồi, đột nhiên, nụ cười ngây thơ tan biến trên đôi môi, bấy giờ trong có mấy giây đã mất đi những đường nét đẹp đẽ và đầy nhục dục để trở nên cứng và mỏng; đôi mắt anh như cắm sâu vào hốc mắt, hai đồng tử tối sầm lại... Và anh quay người lại đột ngột, tựa như anh định đối diện với một kẻ thù có thể đến gần sau lưng anh, lén lút... Nhưng không có ai cả, và Simon từ từ lấy lại tư thế trước đây, trước mặt người tiếp chuyện bấy giờ đang bối rối. Chính mình cũng bối rối, anh chàng bấy giờ dường như đã bỏ chạy cách đến hàng ngàn cây số, hay cả hàng năm ánh sáng. Anh chào từ biệt bằng mấy lời lẽ mơ hồ, rời rạc, hầu như không nghe được.

Thứ Sáu ngày 9 tháng Năm, anh ta không có mặt ở trường. Người ta không có gì lo lắng về chuyện này: lớp học thứ Sáu của anh, sắp vào cuối ngày, là lớp cuối cùng trong tuần và nhiều học sinh — nhất là vào mùa xuân — ưa giả bộ xem như đây là lớp không bắt buộc; chính các giáo sư trẻ đôi khi cũng làm như thế.

Nhưng, thứ Hai ngày 12, người ta cũng không thấy anh trở lại, qua thứ Ba cũng thế. Phòng anh ở không có điện thoại. Thứ Tư, một hiệu phó đã hỏi các học sinh xem có ai trong bọn họ có thể ghé qua đường Amsterdam, để hỏi thăm sức khỏe của “Ján”, có thể là đang đau nặng và hiện không thể nào báo cho trường biết. Cô nữ sinh sứ giả không công đã nhìn thấy cánh cửa đóng kín. Cô bấm chuông liên hồi, và gọi nhiều lần vẫn không ai trả lời. Không một tiếng động nào phát ra từ bên trong.

Thứ Năm ngày 15 là lễ Thăng Thiên. Sáng thứ Sáu ngày 16, các nhà chức trách của trường đã báo động cho cảnh sát. Người ta đã phá cửa phòng Simon Lecœur khoảng giữa trưa hôm thứ Sáu ấy, trước sự hiện diện của một viên cảnh sát đơn vị.

Trong phòng ở cũng như trong phòng tắm, các viên thanh tra đã thấy mọi thứ đâu đó ngăn nắp, cũng như những nhân viên của chúng ta (những người này có chìa khoá đúp, dĩ nhiên) từng thấy trước đó hai ngày. Không có dấu vết ẩu đả, không có dấu vết thăm viếng không đúng lúc, cũng không có dấu vết ra đi vội vã. Vậy nên chín mươi chín trang giấy đánh máy (đã được chúng tôi cẩn thận để lại nguyên chỗ sau khi làm bản sao) rất mau chóng trở thành yếu tố duy nhất có thể được xem như là một chỉ dấu.

Sự quan tâm của những người điều tra đối với bản văn ngày càng gia tăng, người ta nghi thế, khi, Chủ Nhật ngày 18 vào lúc 7 giờ tối, người ta khám phá trong một cái xưởng đã được dùng vào việc khác, gần nhà ga phía Bắc, xác một cô gái lạ mặt, tuổi khoảng 20. Cái chết xảy ra trước đó không hơn một giờ, có thể còn ít hơn nữa.

Nạn nhân trẻ tuổi không mang trên người một giấy tờ gì có thể cho phép nhận diện cô. Nhưng nhận dạng bên ngoài, áo quần, cái tư thế chính xác nằm trên mặt đất (vả lại kể cả chính chỗ nằm) đúng là y như đã được mô tả ở Chương 6 của câu chuyện Simon Lecœur. Như chính anh ta đã cho biết, vũng máu là máu giả. Bác sĩ pháp y đã nhận ra ngay là thân thể không mang một thương tích nào, cũng không có chấn thương bên ngoài, như thế những nguyên nhân gây ra cái chết vẫn là bí ẩn. Tuy nhiên có vẻ hầu như không còn bàn cãi gì nữa là ai nấy đang đứng trước một vụ ám sát, chứ không phải là một cái chết tự nhiên.

Mọi cuộc điều tra tiến hành tìm lai lịch của cô gái, cho đến bây giờ, đều vô hiệu: trên toàn lãnh thổ không có ai như dấu hiệu nhận dạng được báo là mất tích. Vì chỗ ấy ở gần nhà ga, những cuộc điều tra bấy giờ thế là hướng về phía Anvers hay Amsterdam.

Có một điểm khác làm cảnh sát tò mò: sự giống nhau còn hơn là lạ lùng (dáng đi nói chung, kích thước, nét mặt, màu mắt và màu tóc, vân vân) giữa cô gái tử nạn và chính Simon Lecœur. Vấn đề làm người ta bối rối đến độ có lúc người ta đã nghĩ ra được hai người đây chỉ là một: vị giáo sư khả ái của trường Pháp-Mỹ có thể là một phụ nữ cải trang. Cái giả thuyết hấp dẫn kia tuy nhiên không được chấp nhận, bởi vì bác sĩ nhà trường đã có khám chi tiết người mang tên là Simon, đâu khoảng hai tuần lễ trước đó, và đảm bảo là anh ta thuộc phái nam.

Vị y sĩ hành nghề ấy — tức bác sĩ Morgan — chữa cho Simon những chứng bệnh về nhãn khoa, bệnh trầm trọng, hình như thế, mặc dù có lẽ có nguồn gốc thần kinh. Người đàn ông mất tích quả đã cho rằng thị giác mình thường bị đột ngột xuống cấp (độ sáng của những hình ảnh trong võng mạc giảm dần), càng ngày tình trạng này càng xảy ra thường xuyên hơn và có thể đi đến chỗ hoàn toàn mù, đôi khi kéo dài nhiều phút đồng hồ liền. Morgan, là người say mê phân tâm học, đã liền nghĩ ngay đến một thứ mặc cảm Œdipe mà ai cũng biết.

Người bệnh chỉ vừa cười trả lời rằng mình chẳng có gì để làm ở Cologne. Câu nói đùa phi lý kia, liên hệ với chủ đề những viên đá lát bị tháo gỡ, tiếp tục đẩy vị bác sĩ vào tình trạng vô cùng bối rối, và có thêm những nghi ngờ mới. Tất nhiên, không loại ra chuyện cái con người khi mù khi sáng kia từng là một kẻ giả vờ bình thường, nhưng người ta khó mà nhận ra được những động cơ của việc giả vờ ấy, bởi lẽ anh ta không hề xin nhà trường cho nghỉ vì bệnh, cũng không thay đổi một chút thời khoá biểu nào.

Trong số những nhân vật xuất hiện trong câu chuyện kể của anh, dù sao cũng có một người — ít nhất — chắc chắn có thật: con bé Marie. Bắt đầu từ cái xưởng bị bỏ hoang, những người điều tra đã tìm ra được không khó khăn cái tiệm cà-phê nơi người ta không dọn bán pizza. Một người cảnh sát đã theo dõi cơ sở này trong nhiều ngày. Con bé Marie, vẫn lại mặc chiếc áo dài kiểu năm 1880, bước vào tiệm buổi tối ngày 21 (nó đến, như người ta đã biết sau đó, để thanh toán một khoản nợ cũ). Lúc nó bước ra, người cảnh sát đã bám sát gót nó. Anh ta theo chân nó đến tận ngõ cụt Vercingétorix. Khoảng giữa con hẻm, một số người trong cánh chúng ta đã can thiệp. Sau khi nhẹ nhàng chặn đường con người canh giữ trật tự quá tò mò kia, những người ấy, lần nữa, đã lại đưa anh ta trở về điểm xuất phát.

 

[HẾT]
 
--------------------
Trích trong Alain Robbe-Grillet, DJINN: Một lỗ màu đỏ giữa những viên đá lát bị tháo gỡ, Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu (Trình Bầy / Tủ sách Nhân & Dân, 2003).
 

 

 

Đã đăng:

... Không có gì — tôi muốn nói là không một bằng chứng quyết định nào — có thể cho phép bất cứ ai xếp câu chuyện của Simon Lecœur vào loại những chuyện thuần tuý tiểu thuyết. Ngược lại người ta có thể khẳng định là những yếu tố nhiều và quan trọng của bản văn không chặt chẽ, đầy lỗ hổng, hoặc như là bị nứt nẻ này, ăn khớp với thực tế (thực tế mà ai nấy đều biết) với một sự nhấn mạnh bởi vì là rõ ràng, nên làm ta thấy rối tung. Và... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Tôi đến nơi đúng giờ ấn định: bấy giờ là sáu giờ rưỡi. Trời đã gần như tối. Cửa nhà kho không đóng. Tôi đẩy cửa lớn bước vào, cánh cửa không còn ổ khoá... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Khi tôi trở lại một mình, bước nhanh nhẹn trên những đường phố bấy giờ chói chang ánh đèn đường và tủ kính các cửa tiệm, tôi nhận ra trong tôi một sự thay đổi tâm trạng thật đáng kể: một sự hân hoan mới toanh bấy giờ làm thân thể tôi nhảy nhót... (...)
 
... Bì thư mang tên nguyên vẹn của người nhận: “Ông Simon Lecœur, tức Boris”, nghĩa là không những tên tôi mà thôi, mà còn có cả mật khẩu của tổ chức tôi mới chỉ làm việc từ có mấy giờ trước đây. Còn lạ hơn nữa... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cuối cùng, tôi đã chấp nhận mất cả quyền sử dụng mắt mình sau khi đã tuần tự mất hết quyền sử dụng ý chí tự do của mình và quyền sử dụng trí khôn của mình... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Trong khi xe chạy, tôi lại nghĩ tới cái phi lý trong hoàn cảnh của tôi. Nhưng tôi lại không sao quyết định chấm dứt nó được. Cái bướng bỉnh ấy của tôi làm ngay chính tôi cũng ngạc nhiên. Tôi tự trách mình về nó, nhưng đồng thời cũng thấy vui vì nó... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Cái xác không những đã cứng đơ và lạnh, mà anh thấy nó còn như là quá cứng, quá rắn chắc, đến nổi người ta không thể tin nó là bằng thịt và bằng những khớp xương của con người... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
... Một cách điên cuồng, anh vứt cái chân đèn nến hãy còn thắp sáng xuống nền nhà, và cương quyết bước về phía người thiếu nữ quá đẹp đang giễu cợt mình. Anh đưa tay ra nắm người cô. Thay vì chống lại anh, cô ôm choàng lấy anh, như một con bạch tuộc vàng, với một thứ nhục dục mà anh không hề chờ đợi... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)
 
Năm ngoái, khi tôi đến Pháp, tôi có quen, quen tình cờ, một anh chàng trạc tuổi tôi tên là Simon Lecœur, nhưng cứ muốn người ta gọi mình là Boris, đến nay tôi vẫn không hề biết tại sao... [Hoàng Ngọc Biên chuyển ngữ và giới thiệu] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018