thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Nhà thơ Lê Đạt đã ra đi trong cơn thượng đồng của chữ

 

Nhà thơ Lê Đạt, một trong những tác giả lớn của thơ cách tân Việt Nam hiện đại, vừa qua đời lúc 3 giờ 15 phút ngày 21.4.2008 tại nhà riêng ở Hà Nội. Nhà thơ Lê Đạt, tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10.9.1929, ở Yên Bái, quê ở A Lữ, Bắc Giang. Nhà thơ Lê Đạt tham gia kháng chiến chống Pháp và hoạt động văn học từ đó đến nay. Các tác phẩm đã xuất bản: Bài thơ trên ghế đá (thơ, 1955), Bóng chữ (thơ, 1994), Hèn đại nhân (truyên ngắn 1994), Ngó lời (thơ, 1997). Ông đã được trao giải thưởng Nhà Nước về văn học nghệ thuật năm 2007.
Nguyễn Việt Chiến
Hà Nội, 21.04.2008

 

__________

 

Cùng với Trần Dần, Hoàng Cầm và Đặng Đình Hưng, Lê Đạt đã làm một cuộc cách-tân-thơ âm thầm trong suốt 30 năm và thế hệ các ông đã ghi dấu ấn khởi đầu cho chặng đường nhọc nhằn đổi mới của thi ca Việt Nam sau thơ tiền chiến. Lê Đạt tâm sự:

Ngay từ nhỏ, tôi đã ôm ấp mộng cách tân thơ Việt — lẽ dĩ nhiên lúc đó tôi không ý thức được rõ rệt nên cách tân như thế nào. Sau Cách mạng tháng 8, nhà thơ ảnh hưởng đến tôi nhiều nhất là nhà thơ Xô-viết Mayakovsky. Tôi thích những hình ảnh quả đấm hết sức táo bạo cũng như những bài thơ quảng trường mạnh mẽ tham gia trực tiếp vào quá trình thay đổi xã hội của ông. Ảnh hưởng của Mayakovsky rất đậm nét trong những bài thơ đầu tiên có những hình ảnh sinh sự, khiến tôi ít nhiều được công nhận như một nhà thơ cách tân: Những kiếp người sống lâu trăm tuổi/ Y như một dãy bình vôi / Càng sống càng tồi / Càng sống càng bé lại.
 

Cùng khởi cuộc cách tân như nhau, nhưng Lê Đạt khác với Trần Dần. Ông đã dành hết tâm sức của mình cho một cuộc chơi mới, cuộc chơi của một nhà “phu chữ” (như cách dùng từ của Lê Đạt). Trong bài thơ “Bóng chữ”, một bài đặc trưng cho phong cách Lê Đạt, cái cảm xúc trữ tình của thơ tiền chiến đã được chuyển hoá sang một dạng trữ tình khác, nó không dạt dào, sướt mướt ở bề mặt chữ, nó khơi gợi sự âm vang bất ngờ từ bề sâu của một cảm xúc, một suy tư:

 

Chia xa rồi anh mới thấy em
Như một thời thơ thiếu nhỏ
Em về trắng đầy cong khung nhớ
Mưa mấy mùa
                      mây mấy độ thu
Vườn thức một mùi hoa đi vắng
Em vẫn đây mà em ở đâu
 
Chiều Âu Lâu
                      bóng chữ động chân cầu

 

Câu kết của bài thơ mang trong nội hàm của chữ một dư âm mới. Qua bài thơ này, Âu Lâu không còn là một địa danh trữ tình của riêng nhà thơ nữa khi bóng chiều, bóng chữ hay bóng người tình xưa còn đang vang động ở phía chân cầu của ký ức vì khu vườn xưa vẫn thức một mùi hoa đi vắng mặc dù mưa đã mấy mùa và mây mấy độ thu. Lê Đạt là một thi sĩ dày công chăm bón chữ nghĩa. Tôi có cảm giác trước khi gieo trồng mỗi câu thơ của mình, ông làm chữ kỹ càng tới mức “xói đất, lật cỏ” như một nông phu cần mẫn làm đất chuẩn bị mọi thứ cho một vụ mùa gieo trồng mới của họ. Nhưng khác với công việc cày ải, gieo trồng của các nông phu, công đoạn làm chữ của một nhà thơ theo kiểu “phu chữ” luôn cần tới một tố chất thiên bẩm khác, đó là khả năng khơi dậy sự sống động của cảm xúc và trí tưởng tượng từ những con chữ vô tri, vô giác theo một cấu trúc ngôn ngữ thơ:

 

Anh tìm về địa chỉ tuổi thơ
Nhà số lẻ
              phố trò chơi bỏ dở
Mộng anh hường
               tìm môi em bói đỏ
Giàn trầu già
                      khua
                               những át cơ rơi

 

Bài thơ “Át cơ” nói trên của Lê Đạt ngay từ khi mới công bố đã gây nhiều tranh cãi khác nhau, nhưng bất luận thế nào thì mọi người đều nhất trí đây cũng là một bài thơ hay. Cái hay của nó không chỉ bởi sự liên tưởng của nhiều hình ảnh lạ xuất hiện trong một bài thơ rất ngắn, mà cái hay của nó còn nằm ở kỹ năng chơi chữ rất tài hoa và tinh tế kiểu Lê Đạt, đã khiến cho mỗi người đọc bài thơ lại nhận thấy có một tâm tưởng khác, một cảm hứng khác, một khung trời khác sau những câu thơ mang vẻ đẹp bí ẩn nói trên.

Luận bàn về thú chơi chữ trong thơ, Lê Đạt từng khẳng định trong Đường chữ:

Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy vô thức. Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ. Người làm thơ rắp tâm biến ngôn ngữ tiêu dùng thành một thứ ngôn ngữ trò chơi (hiểu theo nghĩa mạnh) trong một trạng thái nửa tỉnh nửa mơ mà Roland Barthes gọi là một sự chú ý bồng bênh (attention flottante). Chính cái trò chơi hết mình này khiến Freud coi các nghệ sĩ như một thứ trẻ con lớn tuổi có khả năng đánh thức bản năng trò chơi của độc giả. [...] Người chơi chữ dễ dàng được coi là người thông minh. […] Chơi như vậy là chơi đùa. Nhà nghệ sĩ cũng như đứa trẻ không chơi đùachơi thật, khiến trò chơi chữ không còn là một trò chơi đơn thuần dựa trên óc thông minh của một người tỉnh táo mà dựa trên toàn bộ trí năng cũng như cảm năng của một kẻ đam mê bị thánh ốp trong một cơn thượng đồng của chữ.

 

Thiết nghĩ, bàn về sự chơi chữ trong thơ đến thấu đáo như vậy thì cũng đã đủ cho chúng ta thấy Lê Đạt uyên bác và tinh tế trong cách dùng chữ nghĩa như thế nào.

So với những cách tân quyết liệt của Trần Dần thì Lê Đạt đi theo một hướng khác, ông cố gắng đưa ra một hệ thống mỹ cảm mới trong sự cách điệu những con chữ mà bài thơ “Quan họ” sau đây là một ví dụ điển hình:

 
Tóc trắng tầm xanh qua cầu với gió
Đùi bãi ngô non
                         ngo ngó sông đầy
Cây gạo già
                  lơi tình
                                   lên hiệu đỏ
La lả cành
                 cởi thắm
                                  để hoa bay
Em về nói làm sao với mẹ
 
 
Em trường nét gốm thon bình cổ đại
 
Mình Lưỡng hà
                          thoai thoải
                                              vú  Đông Sơn
ước gì
            nhỏ đấy bằng con giống
Bỏ túi đi cùng
                      ta phố bông tình bông

 

Ở bài thơ trên, nhịp thơ vẫn cũ nhưng hình ảnh và âm điệu thơ đã mới rất nhiều. Cái hình tượng: “Đùi bãi ngô non ngo ngó sông đầy” là một phát hiện mới rất Lê Đạt về mặt mỹ cảm và không chỉ xuất hiện một lần; ngay trong đoạn thơ sau đó, ông lại múa bút vẽ những nét xuất thần để độc giả thơ được thấy: “Em trường nét gốm thon bình cổ đại / Mình Lưỡng hà thoai thoải vú Đông Sơn”. Cái đẹp rung động này mang hơi thở ngàn năm của đất đai, sông núi và mãi trường tồn như ngàn khúc dân ca miền Kinh Bắc. Đây là một bài thơ đặc sắc viết về Quan họ với cách nhìn rất mới của Lê Đạt khi âm điệu câu thơ dường như còn nhấn nhá, ngân nga theo nhịp hát Quan họ: “Cây gạo già lơi tình lên hiệu đỏ / La lả cành cởi thắm để hoa bay”, nhưng hình ảnh bao trùm lên toàn bộ bài thơ là một không gian đầy sức sống của vẻ đẹp phồn sinh đang hiện hữu trong từng câu chữ.

Sau Bóng chữ, Lê Đạt đã dành gần 200 trang thơ trong tập Ngó lời để trình bày một cuộc chơi mới của mình với gần 300 bài thơ viết theo kiểu thơ Hai-kâu (tương cận với kiểu thơ Hai-cu của Nhật Bản). Với Lê Đạt, nhiều người đọc đã rung động trước một lời tâm sự khá nổi tiếng của ông:

Một nhà thơ sắp già báo trước một người đàn bà chưa hết trẻ:
“Anh bảo đảm không làm phiền em cõi đời, không dám hứa không làm phiền em cõi chữ, ở đó hai ta đều bất lực.”
Thơ là kết quả của sự làm phiền đó chăng.

 

Nếu coi chiếc áo dài truyền thống của thơ là vẻ đẹp quyến rũ của lục bát ca dao thì phải chăng đẹp vẻ khêu gợi một cá tính của bộ váy áo âu-tây mát mẻ chính là đường nét của thơ hiện sinh. Theo tôi, Lê Đạt là một nhà chủ động cách tân nhằm hiện-sinh-hóa những mảnh rời của hiện thực theo kiểu những bài thơ Hai-kâu sau đây của ông:

 
Tình sét đánh má đồi môi bão ập
Yêu một liều xuân bất chấp thu lôi
                              (Thu lôi)
 
*
Tầu đắm hẹn bội thề lênh láng biển
Trăng tình bờ mộng thải nhiễm ô mơ
                              (Ô nhiễm)
 
*
Em tình tựa cơ may phường ảo số
Mỗi ngã đường e cửa ngõ Tạm Thương
                              (Ngõ Tạm Thương)
 
*
Rượu nổ má bừng cỗ xuân ầm ã
Mâm một tình mời ăn vã cô đơn
                              (Cỗ xuân)
 

Tôi nhất quyết rằng những bài thơ trên đây là một kiểu “đố chữ” rất tài tình, lý thú của Lê Đạt (khi tên của bài thơ nằm ngay trong 2 câu thơ) và nếu như tác giả giấu tên thật của mỗi bài thơ Hai-kâu thì người đọc khó mà đoán đúng được ý đồ đặt tên bài thơ của tác giả. Kiểu thơ Hai-kâu này cho thấy nhà thơ đã dày công tìm tòi nhiều cách chơi chữ rất kỳ ảo và biến hóa, nó nén lại cả một năng lượng thẩm mỹ chỉ trong hai câu thơ ngắn, và đây là một hướng cách tân thơ rất hiện đại của nhà “phu chữ” thơ (theo cách gọi của Lê Đạt).

Ngày 20.4.2008, sau chuyến đi thực tế ở Tây Nguyên, vừa về tới Hà Nội, vào khoảng 22 giờ tối, khi nhà thơ Lê Đạt xuống gác, ông đã bị vấp ngã và chấn thương nặng, tới 3 giờ 15 phút ngày 21.4 thì qua đời. Giờ thì nhà thơ đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng tôi vẫn còn thấy văng vẳng bên tai câu nói đầy thi vị của ông:

“Bi kịch chẳng phải ở đâu xa mà ở ngay trước mặt khi bạn chọn nghiệp làm thơ, vì thơ là một lạng cảm hứng cộng với một tạ mồ hôi”.

 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018