thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Đường bay vô tận

 

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn,
yêu thương gửi má.

 

 

 
María Cristina da Fonseca là một người đàn bà Chile, nhà văn, luật sư, và nhà tranh đấu cho nhân quyền, qua đời ngày 25 tháng Năm, 2006. [Tôi đã cố gắng truy tầm nhưng chưa có thể thấy tài liệu nào ghi năm sinh của bà. Hy vọng sẽ bổ sung vào tiểu sử này khi tìm được thông tin chính xác]. Cristina da Fonseca là tác giả của nhiều truyện ngắn và nhiều cuốn sách cho thiếu nhi. Bà tốt nghiệp cử nhân hình sự học tại đại học Católica de Santiago, và sang du học ở Pháp. Sau khi tốt nghiệp thạc sĩ tại đại học Paris, bà trở về Chile và làm việc tại Bộ Tư Pháp và trở thành cố vấn pháp luật cho chính phủ của Salvador Allende. Sau cuộc chính biến 11.9.1973, Augusto Pinochet trở thành nhà độc tài quân phiệt. Cristina da Fonseca đem gia đình sang cư ngụ tại Venezuela suốt gần 15 năm. Bà trở về Chile năm 1988 và làm việc như một nhà nghiên cứu về nhân quyền tại Academia de Humanismo Cristiano [Học Viện Nhân Văn Thiên Chúa Giáo].
 
Truyện ngắn dưới đây là cơ hội đầu tiên tôi tiếp xúc với văn chương của María Cristina da Fonseca. Tôi ngạc nhiên một cách thú vị khi bắt gặp, từ ngòi bút của một người đàn bà Chile theo đạo Thiên Chúa, những ý tưởng và hình ảnh rất gần với Phật giáo và tư tưởng Đông phương.

 

__________

 

ĐƯỜNG BAY VÔ TẬN

 

Tôi khát nước, và lặng lẽ bay sà xuống gần mặt đất, đến một hồ nước. Tôi kinh ngạc vì nó đã có mặt ở đó. Thật ra, tôi vẫn luôn luôn biết rằng có lúc nó sẽ bắt gặp tôi, cho dù từng động tác bẩm sinh của tôi là để tránh cặp mắt của nó.

Ngực tôi gồng cứng lên, những sợi thần kinh tôi căng thẳng, và cổ tôi đờ ra như đá.

Tôi có thể thấy con dã miêu[1] rất đẹp trong lúc nó bước đến gần tôi, cái chết đậu ngất ngưởng trên vòm lưng vàng óng của nó.

Tôi muốn bay lên, nhưng đôi cánh tôi đã bị giữ chặt. Tôi cố cất lên một tiếng hát xé trời, nhưng tôi không thể thốt nên lời!

Trong vài giây đồng hồ, tôi biến thành một mớ lông chim đẫm máu giữa những chiếc răng mèo dũng mãnh và những chiếc móng cứng như thép của nó.

Trước khi bắt đầu chuyến bay cuối cùng này và khép lại một vòng đời, tôi không hề có một chút ý nghĩ lo lắng nào, linh hồn tôi cũng không hề mang một lời than oán. Con dã miêu ngấu nghiến, liếm láp cái thể xác cứng đờ của tôi. Và tôi vẫn còn lại trong những mảnh vụn rải rác, cho đến khi có một nghìn cuộc sống bí mật lặng lẽ đến để nhập thể trong tôi...

Thoạt tiên tôi chỉ là một con chim hạc tội nghiệp đã chết, trở thành những mảnh vụn sau bữa tiệc của con dã miêu, chầm chậm rữa nát dưới mặt trời và gió.

Nhưng rồi, một buổi chiều, mưa đến để tắm gội cây sồi cằn cỗi và những chiếc lá xanh to tướng của đám cây mã đề. Những giọt mưa đổ xuống làm gãy những cánh hoa phượng đỏ khổng lồ và cuốn tôi đi...

Trước hết nó ghì tôi vào đôi cánh tay đầy nước và gió của nó. Rồi tôi trôi đi và trôi đi, một nghìn lần rời ra khỏi chính mình, và bị phân tán thành hàng triệu phân tử rải rác cho đến khi tôi xuống đến chân một ngọn núi lớn.

Rồi tôi biến thành một ngọn núi...

Và từ sương mù, một con người bước ra với một cái cuốc và một cái xẻng. Người ấy xẻ tôi ra, làm thành những luống đất, và rải vào tôi đầy những hạt mầm. Tôi nuôi dưỡng những hạt mầm này bằng những mảnh xương vụn và dòng máu xa xưa đã biến thành tro bụi của tôi. Và bằng nội tạng của chính tôi, tôi đã ban cho chúng một nghìn lần ăn uống.

Và vì thế, sau đó tôi biến thành nhựa cây, đi xuyên qua những đường ống màu xanh lục thơm ngát ngoằn ngoèo như mê cung trong những thân cây và dâng hiến chất lỏng của mình cho chúng.

Thế nhưng, một cái gì của chính tôi vẫn còn ở lại trong đất... cho đến một buổi sáng rực rỡ khi những người khác đến đào sâu vào lòng của ngọn núi để làm những cái nhà bằng rơm và bằng chất đất sét của linh hồn tôi.

Và tôi biến thành một hang ổ.

Sau đó, một người đàn bà thổ dân da đỏ đến tìm tôi. Một phần của tôi đi với bà vào trong túp lều đầy bóng mát của bà. Ở đó, với đôi bàn tay nhăn nheo của bà và cái minh triết của bao thế kỷ, bà chuyên cần nhào nặn tôi. Tôi biến thành một cái nồi có thân tròn và khuôn mặt bóng loáng. Khi tôi đã thành hình, người đàn bà — tôi có thể gọi bà là “mẹ” — nhìn tôi thật lâu với ánh mắt dưới hai mí xệ xuống vì tuổi tác. Và trước khi đưa tôi vào ngọn lửa, bà dùng móng tay vẽ lên mặt tôi hai con mắt xếch, và nói thầm thì, “Cái nồi nào cũng cần đôi mắt để nhìn thấy bông yucca[2] được nấu.” Và tôi biết cách mở lòng mình ra để trao thức ăn làm dịu cơn đói mỗi ngày.

Rồi Alfredo, người thợ gốm, bước vào túp lều. “Hãy cho tôi một ít đất sét nổi tiếng của bà,” ông năn nỉ người đàn bà già nua. Và ông mang tôi về đến chiếc bàn có bánh xe nơi ông trải dài tôi ra, nhào tôi từ trong ra ngoài, và nện tôi một nghìn lẻ một lần để làm tôi mềm nhuyễn.

“Đây là thứ đất sét tốt nhất mà tôi từng cầm trong tay,” ông nói với bất cứ ai chịu nghe ông. “Thậm chí bạn có thể cho rằng nó thốt nên lời, thậm chí bạn có thể nói nó cất tiếng hát mỗi khi tôi nắn một nếp lên da nó. Tôi có thể cảm thấy sức sống của nó còn run rẩy bên trong nó. Và đôi khi tôi nghĩ tôi đang cầm trong lòng bàn tay mình cái lồng ngực thoi thóp của một con chim sắp cất cánh bay lên.”

Ông thợ gốm làm việc hết giờ này sang giờ khác cho đến khi ông nắn tấm thân đất sét của tôi thành một chiếc bình đẹp đẽ và trang điểm tôi bằng một con cá sấu đuôi dài tráng lệ.

Và tôi biến thành một chiếc bình đựng nước để làm dịu cơn khát.

Tuy nhiên, trong khi tạo hình cho tôi, ông thợ gốm đã đánh mất một phần quan trọng của linh hồn ông, và phần ấy vĩnh viễn gắn liền với con vật bò sát đang nằm để trang điểm cho cái thân xác hình chiếc bình của tôi. “Trông nó như đang nhúc nhích và thở. Một ngày nào đó nó sẽ bò ra ngoài, xuyên qua một kẽ nứt của chiếc bình!” Ai ngắm chiếc bình cũng thốt lên như thế.

Tôi tin đó là điều sẽ xảy ra vào một buổi chiều khi ánh mặt trời mơn trớn dịu dàng, và gió không ngớt thổi, vì đôi khi tôi cảm thấy chất đất nguyên sơ của tôi đang run rẩy với từng chuyển động khe khẽ của những tế bào vô danh không ngừng kết hợp và tan rã. Nó thoi thóp dưới một tia nắng phù du mờ nhạt. Và dường như tôi có thể cảm nhận, một lần nữa trong tôi, cái chuyển động dập dềnh xa xưa của dòng máu đã ngân nga lời ngợi ca nụ hôn diễm tuyệt của cuộc sống.

Tôi cảm thấy, vào bất cứ lúc nào, cũng như gió vẫn thổi không nguôi, cái thân xác đã từng là bụi đất, hang ổ, thức ăn và nước uống này sẽ vươn lên từ miền quên lãng. Tôi sẽ là một con cá sấu, đau đớn thoát ra khỏi một chiếc bình, hay có lẽ là một con cá vảy lấp lánh bạc, hay một con chim hạc cất cánh bay một lần nữa trong một biển mây ngà.

 
 
----------
Dịch từ nguyên tác tiếng Tây-ban-nha “Vuelo sin final” của María Cristina da Fonseca, trong Cuentos contemporáneos, editado por Mariana Hidalgo (Isla Negra: Editorial de la Universidad de Puerto Rico, 1967), 123-125.
 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[1]Trong nguyên tác là “ocelote”, một loài mèo lớn, có đốm như con beo, sống trong rừng ở Trung và Nam Mỹ.

[2]yucca: một loại cây ở Trung và Nam Mỹ, hoa màu trắng dùng để ăn, và rễ cây dùng để làm thuốc nhuận trường và xà-phòng.


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018