thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Người thổi sáo ở Angkor
 
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
 

J.-M. G. LE CLÉZIO

(1940~)

 
JEAN-MARIE GUSTAVE LE CLÉZIO sinh năm 1940 ở Nice, bắt đầu nổi tiếng từ cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Le Procès-verbal, đoạt giải thưởng Théophraste Renaudot 1963. Từ ấy đến nay — hơn 40 năm trôi qua một sự nghiệp văn chương đa dạng, phong phú và độc đáo, có thể chỉ căn cứ là nhà văn đầu tiên nhận giải thưởng Paul Morand cho toàn bộ tác phẩm (1980)? — ông đã xuất bản trên dưới 40 cuốn sách: tiểu thuyết, tiểu luận, truyện ngắn, hai bản dịch thần thoại thổ dân châu Mỹ, và vô số những bài viết, bài tựa và nhiều đóng góp cho những tác phẩm tập thể. Từ thời trẻ, mới nổi tiếng, Le Clézio đã được biết đến như một nhà văn “ẩn dật”: ông sống ở Nice [tôi còn nhớ một tấm ảnh chụp ông bước đi trên một bến cảng, người cao lêu nghêu, nổi bật trên một cái nền sông nước và thuyền bè đăng trên báo Le Figaro Littéraire hơn một phần tư thế kỷ trước] và rất ít khi đến Paris, rất ít khi thích ngồi xuống cho ai phỏng vấn. Nhưng “ẩn dật” chỉ là một thái độ: thật sự, ông là một người bước đi. “... Đối với tôi, là dân ở đảo, một người ở bên bờ biển nhìn những chuyến tàu chở hàng đi qua, gót chân mài trên những bến cảng, như một người bước đi dọc theo một đại lộ nhưng là người không thể thuộc về một khu phố hay một thành phố nào, mà là thuộc về mọi khu phố và mọi thành phố, ngôn ngữ Pháp là quê hương duy nhất của tôi, là nơi duy nhất tôi sống.” (trả lời Catherine Argand, 1994).
 
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên: Le procès-verbal thai nghén ở Anh, L’extase matérielle lên men ở Bangkok, và nhiều tác phẩm khác nẩy sinh từ những chuyến đi, sống và viết: Mexique, Panama, quần đảo Maurice và Rodrigues... Từ một nhà văn trẻ, mà những cuốn sách viết rất đẹp làm người đọc liên tưởng đến những nhà văn trong nhóm Tiểu thuyết Mới, nhạc pop, nhiều nét Lautréamont, Artaud, nhất là Michaux, cái nhìn theo tinh thần Blake — cả Keats, Auden, Salinger mà ông đọc đi đọc lại nhiều lần — đến nay Le Clézio đã vạch con đường riêng của mình, và năm 1994, ông được chọn là nhà văn viết tiếng Pháp lớn nhất còn sống...
 
Hôm nay, ngày 9 tháng 10 năm 2008, Hàn Lâm Viện Thuỵ-điển công bố: Jean-Marie Gustave Le Clézio, nhà văn 68 tuổi, chiếm giải thưởng Nobel Văn Chương 2008.
 
Hoàng Ngọc Biên

 

______________

 

 
Minh hoạ: CAO TUẤN

 

NGƯỜI THỔI SÁO Ở ANGKOR

 

Hogan nhìn thấy thằng bé thổi sáo ngồi bệt dưới đất, giữa phế tích. Ở đây có cả một đài vòng đầy cỏ và bụi, bao quanh là những mảng tường hư hỏng, cây cối cằn còi. Từ lâu ở đây không có mưa, và mọi vật đều khô, đầy bụi. Mặt trời khoảng bốn giờ chiều ở cao trên trời. Một cách đều đặn, nó biến mất sau những quả bóng mây ti tích. Những vệt bóng râm màu xám cứ tiến tới mãi trên mặt đất, giống như những đám mây tro, chúng lặng lẽ trườn qua đài vòng đầy cỏ mọc. Những tường thành đổi màu, ngả đen, rồi đỏ, rồi lại đen. Trong những chỗ trũng, gần những đống đá cuội, hẳn phải có nhiều thằn lằn, và chính thằn lằn cũng đổi màu.

Thằng bé ngồi bệt dưới đất, giữa đài vòng đầy cỏ và bụi, và nó không chú ý tới phế tích chung quanh. Đúng ra nó không ngồi: nó ngồi xổm trên gót, hai chân để trần gấp lại, thân mình trên hơi chồm về phía trước. Nó thổi vào một ống sáo dài bằng tre, trên có chạm lửa hình một con rắn cuốn quanh. Nó thổi vào ống sáo mà chẳng nhìn sang trái sang phải, khuôn mặt lãnh đạm, mắt nhìn chằm chặp ngay trước mặt. Hai cánh tay nó đặt trên đầu gối. Chỉ có hai bàn tay là cử động. Những ngón tay màu nâu móng để bẩn đưa lên đưa xuống nhanh nhẹn, không đổi vị trí. Ống sáo để chúi xuống đất, và miệng thằng bé chỉ chạm nhẹ vào đầu phía trên ống. Thỉnh thoảng, thằng bé ngừng thổi, và lấy hơi. Rồi nó lại đặt môi lên miệng sáo, hai má thổi phùng, lên xuống phập phồng không rõ ràng. Hơi thổi xuống dọc theo đường ống tre, làm thành những nút thắt kỳ lạ vô hình, từng chùm, chồng chéo nhau. Suốt dọc ống sáo, có một loạt những lỗ: sáu lỗ phía trên, một lỗ ở cánh bên phải, và một lỗ khác phía dưới. Đó là những cái lỗ nhỏ hình tròn vo, khoét thủng mặt tre, cái trước cái sau sắp thẳng hàng, những cái giếng nhỏ li ti mà người ta không nhìn thấy đáy. Ở đầu dưới ống sáo, lủng lẳng một dải dây màu đỏ.

Thằng bé thổi sáo một cách bình thản. Khi mặt trời lên, nó thổi sáo giữa nắng. Cái bóng của nó ngồi xổm sau lưng nó, trên cỏ.

Khi Hogan tiến đến gần thằng bé, nó ngừng thổi và nhìn anh. Hai tay nó chĩa ống sáo xuống đất và bịt kín hết các lỗ. Thằng bé ngập ngừng một lát, nhìn Hogan với vẻ ngờ vực. Hogan cũng ngồi xổm trên cỏ, và đốt một điếu thuốc. Trên bầu trời xanh, mây ti tích cao xa tít trông giống như những hạt muối ném tung toé. Nghĩa là mặt trời cứ rực lên rồi lại tắt liên tục. Thằng bé nhìn lên trời để xem có gì xảy ra. Rồi sau đó, nó chỉ quan tâm đến Hogan không hơn một con chó đến ngồi bên cạnh nó. Nó đưa ống sáo lên và bắt đầu thổi trở lại.

Bài nhạc cất lên lẻ loi ở giữa đài vòng của phế tích, trên nền cỏ đầy bụi. Vẫn là điệu nhạc phát ra từ ống sáo, một loạt những nốt đi lên, ngập ngừng một lúc, một loạt những nốt đi lên khác, ngập ngừng một lúc, rồi đến bốn hay năm nốt trầm, ngập ngừng một lúc, một loạt những nốt đi xuống. Thế nhưng người ta hiểu ngay đây là một điệu nhạc không bao giờ dứt. Không gì bắt đầu, cũng chẳng có gì có thể chấm dứt nó. Hay đúng hơn, người ta có thể dừng bất cứ khi nào, giữa lúc ngập ngừng, chẳng hạn, hoặc ở một chỗ khác, ở chỗ láy trầm, hay ở một chỗ khác nữa, sau lần liên tục có ba nốt nửa cung. Tiếng sáo rất sắc, rất rõ, bay vút vào không trung thẳng tắp như đường bay của chim, và không một lúc nào chệch ra khỏi đường bay ấy. Ngay cả ở chỗ này cũng là một cái gì khó, không sao hiểu được, một cái gì mà đầu óc không sao tác động nổi.

Hogan ngồi xổm trên cỏ, anh nhìn thằng bé vừa ngó thẳng trước mặt mình vừa thổi sáo. Một lúc, anh muốn đứng lên và hỏi thằng bé làm cách nào để thổi sáo được như vậy. Anh muốn đến lượt mình cũng thổi như thế, lấy các ngón tay bịt chín cái lỗ trên ống tre, đặt ngón cái vào lỗ ở phía dưới, ngón trỏ gấp lại trên lỗ ở bên hông, ngón giữa và các ngón khác của bàn tay phải đặt lên bảy lỗ phía trên. Sẽ có hình con rắn vẽ bằng bút lửa cuộn quanh đến tận miệng anh, và dải dây đó cũng sẽ lủng lẳng giữa hai đầu gối anh. Nhưng lập tức anh không nghĩ tới việc ấy nữa, và anh tiếp tục lắng nghe và nhìn. Trong đài vòng đầy cỏ, không có bóng dáng một người nào. Phía bên kia những tường thành đổ nát, khách du lịch đi dạo, chụp ảnh cho nhau. Họ đọc sách nói về các bức phù điêu, về những hình tượng Ipsara, về sự phát minh máy chiếu bóng. Những phụ nữ choàng những chiếc áo dài thụng, bán những chai soda. Những người đàn ông mập lùn vừa chạy vừa phất phất mấy bức tranh, vừa chìa ra những mẩu đất nung, những tượng đầu người bằng đồng thau, những vòng đeo chìa khoá.

Tiếng sáo xé tan im lặng. Âm thanh của nó lên cao, với những tiếng thét sắc rung mạnh. Âm thanh ấy lại xuống thấp thật nhanh, tuột xuống từng nốt từng nốt, và mười ngón tay khép lại trên ống sáo. Thỉnh thoảng, thằng bé luồn ngón cái xuống phía dưới, và nhấc ngón trỏ lên: lúc ấy âm thanh đột ngột vỡ ra, và tiếp theo là một thứ tiếng rền rĩ, rất xa trong không trung, một tiếng lá xào xạc êm ái, một tiếng rít nhỏ xíu mà người ta chỉ có thể thoáng nghe mơ hồ. Thằng bé lại bịt lỗ bên hông và tiếng rít nghe sắc lên, trong khi những ngón tay khéo léo để thoát ra hàng chục, hàng trăm nốt một phần tư cung, những thứ tiếng kêu của loài dơi, khi lên cao, khi xuống thấp, rồi lại lên cao, chuyền sự náo động vụng về của nó khắp một cánh đồng. Sáo không phải chỉ có một giọng duy nhất. Nó có nhiều giọng, hàng tá, có lẽ, những giọng khoẻ, tiếng còi đầu máy xe lửa, tiếng còi tàu, tiếng đạn rít, tiếng thì thầm, tiếng cọ xát đau đớn, tiếng hát lạc điệu, tiếng nấc, hay tiếng cười, những giọng để lên cao thật nhanh và những giọng để bay lượn la đà, những giọng để bắt chước giọng phụ nữ, hay giọng để bắt chước tiếng gió. Nhưng tất cả đều xảy ra chỉ đơn sơ như vậy, không kiểu cách, không muốn là điêu luyện kỳ tài, không cả cảm xúc. Tiếng sáo không muốn ta cảm nhận, không muốn ta phải buồn. Nó không đào sâu vào tâm hồn, nó không tìm cách thuyết phục. Nó lên tiếng ở đấy, chỉ ở chỗ đấy khi cần thiết, là sự đột khởi của gió và của tiếng động giữa sự im lặng của những bức tường, không loan báo gì, không chờ đợi gì cả. Những nốt nhạc vang đi rồi vang lại, vẫn là những nốt nhạc, choảng vào nhau, chia cách nhau, phủ đầy cả không trung, nhưng chính không trung tiếp đó lại trống vắng lập tức. Nó ở đấy như một cọng cỏ, hay như một con thằn lằn, nó không có ý chí.

Hogan lằng nghe nhạc sáo, không dám cử động. Khi anh hút xong điếu thuốc, anh nghiền nát mẩu thuốc dưới một hòn đất khô, giữa đám cỏ. Anh thấy mặt trời bấy giờ xuống hơi thấp hơn trên bầu trời, thấp hơn khoảng mười milimét. Anh thấy những đám mây đã bay qua phía bên phải, những đám mây ti tích kỳ lạ bồng bềnh trên không trung cao khoảng trên sáu ngàn mét. Trên mặt đất, cây cối cằn còi cần có nước. Và còn có mấy bức tường thành mơ hồ đổ nát, rải rác đây đó quanh cánh đồng cỏ, nhưng không ai chú ý tới chúng nữa. Bởi lẽ khúc nhạc cao vút của sáo đã làm cho cảnh vật trống vắng. Khúc nhạc đã lấy đi mọi thứ trên đời, nó làm tan dần mọi thứ, và làm biến mất mọi thứ. Âm thanh duy nhất thoát ra từ ống tre, giữa hai bàn tay thằng bé, và lướt đi trên không trung. Người ta không nhìn thấy nó, nhưng nó đi nhanh, như một vết nứt, như một tia nước đang chảy.

Có thể đó là một giọng phụ nữ, một giọng mềm và quả quyết, phát ra từ mũi, với những âm tiết dài rõ ràng vang lên trong vắng lặng. Một giọng phụ nữ có thể gọi là vĩnh cửu, với gương mặt chuyển động có mắt mở, có miệng và răng, có tóc đen, với bộ ngực căng phồng và háng rộng. Nàng chiếm trọn không gian, phủ kín mặt đất. Nhìn đâu đâu người ta cũng trông thấy nàng... Nàng nhảy múa trên đôi chân trần, nàng dang rộng hai tay, vươn dài những ngón.

Điệu nhạc bây giờ không còn xa lạ nữa. Nó kết hợp với mọi vật, nó thoát ra rõ ràng từ mặt đất, từ cây cối cằn còi, từ những tường thành đổ nát. Lúc nào nó cũng toả ra từ bầu trời, nó cử động cùng với những quả bóng mây, nó vang đến cùng lúc với ánh sáng, hết tốc lực. Không còn lý do gì phải lắng nghe. Không lý do gì phải ở xa. Người ta không còn cả đôi tai nữa. Người ta đã ở kế cận, sát liền, đã ở cùng với điệu nhạc. Điệu nhạc dài, không có chỗ dứt. Nó chưa hế bắt đầu chỗ nào. Nó dù có đó, vô cùng bất động, gần giống như một mũi tên trong không khí, một mũi tên không bay.

Điều tiếng sáo nói lên chính là thế, trong khi thằng bé ngồi xổm thổi và cử động những ngón tay. Cái tiếng sáo nhìn thấy chính là thế. Những nốt nhạc vuốt giãn đã trở thành một cái nhìn thật sự, một cái nhìn dài của ý thức dựa trên cảnh vật. Cái nhìn đi đi lại lại, nó di chuyển trên những ngọn cỏ, nó băng qua những nhánh cây con, những tường thành, những thân người. Cái nhìn trầm tĩnh đi mãi về tận chân trời, và còn xa hơn nữa, nó phóng sâu hút vào bầu trời trong suốt, và theo những đám mây ti tích cách mặt đất sáu ngàn mét, nó đi mãi đến tận mặt trời và những vì sao vô hình, nó thăm thú tận những đảo vũ trụ ở mất hút trong khoảng không. Nhảy vọt một cái, nó đã lên tới chỗ giới hạn của thế giới có thật, nó đã xuyên suốt con người như một cái rùng mình. Cái nhìn bén nhọn của tiếng sáo đã nhìn thấy tất cả. Nó đã du hành không phải vất vả qua trí tuệ, nhanh hơn hàng triệu hàng triệu chữ, và nó tiếp tục, tiếp tục nữa, tiếp tục mãi, đi xa hơn cả thời gian, xa hơn cả tri thức, xa hơn cả đường xoắn ốc chóng mặt đang tự vặn chặt vào sọ của một kẻ điên.

Bây giờ Hogan đang ở xa, anh ngồi trên gót chân, trên cánh đồng cỏ nằm giữa phế tích, như một con chó nằm dưới chân bà chủ của mình; nóng và nắng gay gắt, gió không thổi. Sự việc xảy ra ở đâu vậy? Anh sẽ làm gì đây? Mây trôi chậm trên nền trời, cây cằn còi cần có nước. Có phải đã có đủ chữ rồi cho mỗi chúng ta? Niềm vui thật lớn, niềm vui với những nốt nhạc lên cao và xuống thấp, với những tiếng xuýt êm ái, những tiếng láy rền chát chúa. Cái sợ hãi cũng lớn, cái sợ hãi cuỗn quấn chất đầy sự im lặng. Mặt đất giờ đây đã ở xa, người ta nhìn thấy nó qua chỗ đầu ngược của kính viễn vọng. Ta ở bên này, hay bên kia của tấm gương soi? Chim hót, ngựa hí, cá reo, ngay cả những con rệp cũng hét lên khi dòng máu chuyền qua, và cũng vậy, cả những ngọn cỏ không có miệng để hét. Tất cả đều lạnh, tất cả đều vắng bóng người.

Khi nắng xuống khoảng bốn giờ mười lăm chiều, thằng bé ngừng thổi sáo. Nó đứng dậy không nhìn Hogan và bước đi trong cỏ với đôi chân trần. Bấy giờ Hogan cũng bỏ đi. Anh đi dọc theo một thứ mặt đường làm bằng những tấm đá lát đã cũ, con đường băng qua một con kênh. Anh trông thấy rất nhiều người đi đi lại lại với những máy chụp ảnh, những sổ tay bỏ túi và những cặp kiếng đen đeo mắt. Và anh rất khó khăn để nhớ lại một phần những gì anh đã hiểu ra.

 

 

--------------------
“Người thổi sáo ở Angkor” là một chương trích trong Jean-Marie Gustave Le Clézio, Le Livre des Fuites [Paris: Gallimard, 1969], được tác giả gọi là tiểu thuyết phiêu lưu. Bản dịch trên từng xuất hiện trên tạp chí Văn ở California, số 70 & 71, tháng 10 & 11 năm 2002.

 

 

Le Clézio trả lời phỏng vấn (2001):

... Nếu người ta cho rằng ông là một nhà văn không thể xếp loại được, thì có lẽ vì nước Pháp chưa bao giờ là nguồn cảm hứng duy nhất của ông. Những cuốn tiểu thuyết của ông là một phần của cái thế giới tưởng tượng mang tính toàn cầu hoá... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)

 

 

Những tác phẩm của Le Clézio đã đăng trên Tiền Vệ :

Gió Nam  (truyện / tuỳ bút) 
... Thời gian trôi qua. Ta nói ra những chuyện này chuyện nọ, ta đau khổ và ta tưởng vì thế ta có thể chết được, thế rồi vài năm sau mọi chuyện đều chỉ còn là kỷ niệm... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Người của trời  (truyện / tuỳ bút) 
... Đó chính là lúc mà cái im lặng lớn đến độ mọi chuyện đều có thể xảy ra. Petite Croix nhớ tới cái câu nó đã hỏi, từ bao nhiêu năm nay, câu hỏi mà nó rất muốn biết, về chuyện bầu trời, về màu sắc của nó. Nhưng con bé không còn cất gịọng lớn nữa: “Xanh là gì vậy?” Bởi vì không ai biết được câu trả lời đúng. Con bé vẫn ngồi bất động, thật thẳng góc, ở cuối vách đá, trước bầu trời... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Ba cô gái phiêu lưu  (truyện / tuỳ bút) 
... Sự cô đơn cùng tận là sức mạnh của cô. Chính cô giữ cho thân hình mình đứng thẳng và mạnh, chống chọi với năm tháng, chính cô lúc nào cũng đem lại cho đôi mắt mình sự rạng rỡ của cuộc sống... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Trái tim cháy  (truyện / tuỳ bút) 
... Khi đêm xuống, có một cơn sốt, một cái gì giục giã. Ta có thể nói là có một lễ vui đang được chuẩn bị. Nhất là vào những ngày đẹp trời, tháng chín, tháng mười, tháng mười một. Không khí dịu và mát, có những dây bìm bìm nở hoa trên các hàng rào, những con đôm đốm đậu trên ngọn cỏ. Những con cóc ca hát dưới mương rãnh... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Khách sạn Cô Đơn  (truyện / tuỳ bút) 
Đối với Eva, đấy là kỷ niệm của một đời sống khác, một thời gian không hạn định. Nàng đã ở khách sạn suốt đời nàng, du lịch trên những con tàu chở khách lao vào cuộc phiêu lưu trên biển, từ bến này đến bến kia, giữa Venise và Alexandrie, hay trên lãnh hải Cortés, từ Topolobampo đến La Paz... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Kalima  (truyện / tuỳ bút) 
Em đã đi khỏi nơi này, và em đã để lại cả thế giới này trong trật tự của nó, trong mưu đồ của nó, cái thế giới mà những quảng trường cứ tiếp tục ồn ào, với những máy nước và những cô gái, và những tiếng gà trống gáy và tiếng chó sủa, và bụi bặm không ngớt tung lên rồi rải xuống, tung lên rồi nằm yên nghỉ. Thế nhưng em, em không còn ở đấy nữa... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Người châu Phi  (truyện / tuỳ bút) 
Chương thứ ba trong tác phẩm L’Africain của Jean-Marie G. Le Clézio — một tên tuổi nổi bật trong văn chương hậu hiện đại Pháp — lần đầu đến với độc giả Tiền Vệ qua bản dịch và lời giới thiệu của nhà văn Hoàng Ngọc Biên. (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018