thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
20 câu trả lời cho 20 câu hỏi

 

Hoàng Ngọc-Tuấn giới thiệu và dịch

 

J.-M. G. LE CLÉZIO

(1940~)

 

Dưới đây là 20 câu trả lời của Le Clézio cho 20 câu hỏi. Những câu hỏi này nguyên là của Eugénie Renouf, một thanh nữ ở đảo Maurice [Mauritius], hồi cuối thế kỷ thứ 19, đặt ra để hỏi Joseph Conrad lúc ông còn là thuyền trưởng Josef Korzeniowski trẻ tuổi. Theo Walter Putnam,[1] lúc ấy là năm 1888, thuyền trưởng Josef Korzeniowski ghé vào Port-Louis (ở đảo Maurice) và cho chiếc thuyền buồm Otago cập bến suốt hai tháng để chờ nhận năm trăm tấn đường mà chàng có nhiệm vụ chuyên chở sang Úc châu. Hai tháng ấy đủ để chàng làm quen với nhiều gia đình cư dân tại Port-Louis, đặc biệt là gia đình Renouf. Đó là một gia đình gốc Ba-lan nói tiếng Pháp, có phong thái trưởng giả, lịch lãm. Trong một buổi dạ tiệc, nàng Eugénie Renouf, lúc ấy hăm sáu tuổi, đến trao cho chàng thuyền trưởng hăm chín tuổi một bản câu hỏi, và muốn chàng trả lời, để nàng lưu trữ trong cái album de confidences của nàng. Chàng thuyền trưởng đã trả lời như thế nào thì chúng ta sẽ tìm hiểu trong cuốn Vie de Conrad,[2] nhưng chúng ta biết, sau buổi dạ tiệc đó, chàng đã ngỏ lời cầu hôn cùng nàng và bị nàng từ chối, vì nàng đã nhận lời cầu hôn của một đấng trượng phu nào khác rồi! Và tất nhiên chàng thuyền trưởng Josef Korzeniowski đành phải đau đớn ra đi, để rồi sau này lại trở thành nhà văn Joseph Conrad lẫy lừng thiên hạ.
 
Hơn một trăm năm sau, bản câu hỏi của nàng Eugénie Renouf ở đảo Maurice được Walter Putnam trao cho Le Clézio, một nhà văn mang dòng máu dân đảo Maurice. Và Le Clézio đã đồng ý trả lời.
 
Dưới đây là nguyên văn những câu hỏi của cô thanh nữ thế kỷ 19 đi kèm với những câu trả lời của nhà văn thế kỷ 20, xếp song song với câu dịch ra tiếng Việt. Trong phần trả lời, Le Clézio có dùng một hai chữ tiếng Anh!

 

_________

 

1.

Quel est le principal trait de votre caractère? L'entêtement.

Nét chính của tính cách ông là gì? Bướng bỉnh.

 

2.

Par quels moyens cherchez-vous à plaire? En étant moi-même sans afféterie.

Ông tìm nguồn vui bằng cách nào? Bằng cách sống như chính mình, không giả vờ.

 

3.

Quel nom fait battre votre cœur? Balkis, Cléopatre, Séléné, et surtout Jemia.

Cái tên nào làm tim ông đập mạnh? Balkis, Cléopatre, Séléné và, trên hết, Jemia.

 

4.

Quel serait votre rêve de bonheur? Vivre au Libertalia, s'il venait à exister.

Giấc mơ hạnh phúc của ông là gì? Được sống ở Libertalia,[3] nếu nó trở nên có thật.

 

5.

Où habite la personne qui occupe votre penée? Très près de moi.

Người trong mộng của ông sống ở đâu? Rất gần bên tôi.

 

6.

Quelle est la qualité que vous préférez chez la femme? La subtilité.

Ông yêu thích phẩm tính gì trong một người đàn bà? Sự tế nhị.

 

7.

Que désirez-vous être? Un homme solide.

Ông muốn là một người như thế nào? Một người vững vàng.

 

8.

Quelle est votre fleur de prédilection? Toutes les fleurs sauvages.

Ông yêu thích loài hoa nào? Mọi loài hoa dại.

 

9.

Dans quel pays voudriez-vous vivre? Dans une île, peut-être Rodrigues.

Ông muốn sống ở nước nào? Ở một hòn đảo, có lẽ là Rodrigues.[4]

 

10.

Quelle est la couleur des yeux que vous préférez? Je ne sais pas le nom: le brillant: “glaze”. [5]

Ông thích màu mắt gì? Tôi không biết chọn chữ gì: toả sáng: rạng ngời.

 

11.

Quel est le don de la nature dont vous voudriez être doué? Le chant.

Ông muốn nhận được tặng vật nào của thiên nhiên? Tiếng hát.

 

12.

Que préférez-vous dans un bal? Entrer sans être vu.

Ông thích điều gì trong một đêm dạ vũ? Bước vào mà không ai thấy.

 

13.

Quelle est votre promenade favorite? En forêt, le matin.

Ông thích tản bộ như thế nào? Trong rừng, vào buổi sáng.

 

14.

Que préférez vous, les brunes ou les blondes? “Both”. [6]

Ông thích phụ nữ tóc nâu hay tóc vàng? Cả hai.

 

15.

Quelle est votre plus grande distraction? Je n'ai pas de “distraction”. Ecrire; rêver à ce que je vais écrire.

Ông thích trò tiêu khiển nào? Tôi không có “trò tiêu khiển” nào cả. Viết; mơ mộng về những gì tôi sẽ viết.

 

16.

Dites l'état présent de votre esprit. Inquiétude, expectative.

Mô tả trạng thái tinh thần của ông lúc này. Lo lắng, bất an.

 

17.

Que détestez-vous le plus? Les mondanités.

Ông ghét nhất cái gì? Những chuyện xã giao vớ vẩn.

 

18.

Vous croyez-vous aimé? J'aime à le croire.

Ông có tin rằng ông được yêu mến? Tôi thích tin như thế.

 

19.

Votre devise? “Ta main, ton œil”.

Châm ngôn của ông? “Bàn tay của ngươi, con mắt của ngươi.”

 

20.

Votre nom? J.M.G.

Tên ông? J.M.G.

 

 

_____________________

Chú thích của người dịch: 

[1]Walter Putnam, “J. M. G. Le Clézio and the Questions of Culture”, World Literature Today, Vol. 71 (1997), 741-744.

[2]G. Jean-Aubry, Vie de Conrad (Paris: Gallimard, 1947). Chương 7 nói về những mối quan hệ của Conrad với dân ở đảo Maurice.

[3]Tương truyền rằng Libertalia là một miền đất do các hải tặc thành lập vào cuối thế kỷ 15, dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng James Misson. Tuy nhiên, cho đến nay, không có tài liệu nào chứng minh vị trí của lãnh thổ ấy là hiện hữu trên bản đồ thế giới. Libertalia được xem là miền đất lý tưởng, vì dân hải tặc ở đó treo cờ trắng và có khẩu hiệu "Vì Thượng Đế và Tự Do".

[4]Rodrigues là một hòn đảo nhỏ, ở phía đông của Maurice.

[5]Le Clézio dùng tiếng Anh.

[6]Le Clézio dùng tiếng Anh.

 

-------------
20 câu hỏi và trả lời trên đây trích từ Walter Putnam (tài liệu đã dẫn). Nhan đề “20 câu trả lời cho 20 câu hỏi” là của người dịch.

 

 

Le Clézio trả lời phỏng vấn (2001):

... Nếu người ta cho rằng ông là một nhà văn không thể xếp loại được, thì có lẽ vì nước Pháp chưa bao giờ là nguồn cảm hứng duy nhất của ông. Những cuốn tiểu thuyết của ông là một phần của cái thế giới tưởng tượng mang tính toàn cầu hoá... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)

 

 

Những tác phẩm của Le Clézio đã đăng trên Tiền Vệ :

Adam Pollo  (truyện / tuỳ bút) 
... Adam hoá thành chuột bạch, nhưng bằng một sự hoá thân kỳ lạ; hắn vẫn giữ thân thể của hắn, tay chân hắn không ngả qua màu hồng, và những chiếc răng cửa không dài ra; không, những ngón tay hắn vẫn còn hôi mùi thuốc lá, nách hắn vẫn còn mùi mồ hôi, và cái lưng hắn vẫn khom tới trước, trong tư thế ngồi chồm hổm, sát gần sàn nhà, theo hai hình vòng cung của cột xương sống... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Người thổi sáo ở Angkor  (truyện / tuỳ bút) 
... Cái nhìn bén nhọn của tiếng sáo đã nhìn thấy tất cả. Nó đã du hành không phải vất vả qua trí tuệ, nhanh hơn hàng triệu hàng triệu chữ, và nó tiếp tục, tiếp tục nữa, tiếp tục mãi, đi xa hơn cả thời gian, xa hơn cả tri thức, xa hơn cả đường xoắn ốc chóng mặt đang tự vặn chặt vào sọ của một kẻ điên... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Gió Nam  (truyện / tuỳ bút) 
... Thời gian trôi qua. Ta nói ra những chuyện này chuyện nọ, ta đau khổ và ta tưởng vì thế ta có thể chết được, thế rồi vài năm sau mọi chuyện đều chỉ còn là kỷ niệm... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Người của trời  (truyện / tuỳ bút) 
... Đó chính là lúc mà cái im lặng lớn đến độ mọi chuyện đều có thể xảy ra. Petite Croix nhớ tới cái câu nó đã hỏi, từ bao nhiêu năm nay, câu hỏi mà nó rất muốn biết, về chuyện bầu trời, về màu sắc của nó. Nhưng con bé không còn cất gịọng lớn nữa: “Xanh là gì vậy?” Bởi vì không ai biết được câu trả lời đúng. Con bé vẫn ngồi bất động, thật thẳng góc, ở cuối vách đá, trước bầu trời... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Ba cô gái phiêu lưu  (truyện / tuỳ bút) 
... Sự cô đơn cùng tận là sức mạnh của cô. Chính cô giữ cho thân hình mình đứng thẳng và mạnh, chống chọi với năm tháng, chính cô lúc nào cũng đem lại cho đôi mắt mình sự rạng rỡ của cuộc sống... [Bản dịch Hoàng Ngọc Biên] (...)
 
Trái tim cháy  (truyện / tuỳ bút) 
... Khi đêm xuống, có một cơn sốt, một cái gì giục giã. Ta có thể nói là có một lễ vui đang được chuẩn bị. Nhất là vào những ngày đẹp trời, tháng chín, tháng mười, tháng mười một. Không khí dịu và mát, có những dây bìm bìm nở hoa trên các hàng rào, những con đôm đốm đậu trên ngọn cỏ. Những con cóc ca hát dưới mương rãnh... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Khách sạn Cô Đơn  (truyện / tuỳ bút) 
Đối với Eva, đấy là kỷ niệm của một đời sống khác, một thời gian không hạn định. Nàng đã ở khách sạn suốt đời nàng, du lịch trên những con tàu chở khách lao vào cuộc phiêu lưu trên biển, từ bến này đến bến kia, giữa Venise và Alexandrie, hay trên lãnh hải Cortés, từ Topolobampo đến La Paz... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Kalima  (truyện / tuỳ bút) 
Em đã đi khỏi nơi này, và em đã để lại cả thế giới này trong trật tự của nó, trong mưu đồ của nó, cái thế giới mà những quảng trường cứ tiếp tục ồn ào, với những máy nước và những cô gái, và những tiếng gà trống gáy và tiếng chó sủa, và bụi bặm không ngớt tung lên rồi rải xuống, tung lên rồi nằm yên nghỉ. Thế nhưng em, em không còn ở đấy nữa... [Bản dịch Nguyễn Thu Hồng] (...)
 
Người châu Phi  (truyện / tuỳ bút) 
Chương thứ ba trong tác phẩm L’Africain của Jean-Marie G. Le Clézio — một tên tuổi nổi bật trong văn chương hậu hiện đại Pháp — lần đầu đến với độc giả Tiền Vệ qua bản dịch và lời giới thiệu của nhà văn Hoàng Ngọc Biên. (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018