thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Trần Wũ Khang & “Quà tặng của quỷ sứ”

 

Anh – Trần Wũ Khang. Có mà không. Đến và đi. Thoắt hiện rồi vụt mất.

Mùa hè 1996, anh hẹn tôi cuộc gặp ngắn để viết về tôi. Xong, lủi đâu mất dấu. Mùa thu cùng năm, anh ló mặt trong tối biểu diễn thời trang Lega – Minh Hạnh, làm cái phỏng vấn nhanh Hani. Đăng báo, rồi đi biệt. Viết tạp bút “Trở lại Chakleng” cho tờ Văn nghệ Dân tộc & Miền núi số Katê, lại biến. Như thể một bóng ma.

Phỏng vấn như không phỏng vấn. Thơ mà chẳng muốn kêu là thơ. Phê bình không hẳn phê bình. Tuỳ ông định đoạt – anh ném cho tôi cả mớ hỗn độn chữ. Anh – Trần Wũ Khang. Xuất hiện ồ ạt vào mùa Xuân năm 2004, để lặn mất tăm một năm sau đó. Không vọng âm. Không lời hẹn.

Trần Wũ Khang: một thực thể, bút danh hay thậm chí – một ảo giác chữ? Hoặc chỉ là loài ẩn ngữ hồ đồ gây hứng khởi, hồ nghi hay ngán ngại? Đột ngột có mặt như một phản kháng lại cái tù đọng của dòng chảy văn chương hôm nay hay chỉ như một giải toả ức chế nhất thời?

Hàng loạt bài phê bình đầy cảm tính, xốc nổi và thẳng băng xuất hiện trên website Tienve, Talawas. Phê phán bàn tròn văn chương, sẵn sàng va quẹt các cây đa cây đề văn chương chữ nghĩa. Phê bình nhà phê bình chuyên/nghiệp dư, cãi nhau đằng Đông, đằng Tây, trong nước hay hải ngoại. Lập Top Ten văn nghệ trong năm hay góp ý về văn hoá góp ý. Phê và tự phê. Quyết liệt nhưng không căng thẳng. Khi nhận ra mình sai, vui vẻ nhận khuyết điểm. Đó là thái độ phê bình rất Trần Wũ Khang. Ít nhiều tạo được không khí đang trầm lắng của sinh hoạt văn nghệ. Là một lối viết thẳng và trung thực, dù chínhh Wũ cũng là nhà phê bình chuyên nghiệp dư.

 

Thơ, Trần Wũ Khang cũng không khác. Ngôn ngữ thơ thoải mái, nhịp điệu phóng túng, đề tài thơ đụng chạm trực tiếp vào cuộc hiện thực hôm nay: hộ khẩu và KT3, bán độ bóng đá, tường lửa internet,... Cả vấn đề thời sự nóng nhất: nạn khủng bố đang tràn lan khắp mặt địa cầu.

“Quà tặng của quỷ sứ” được Đinh Linh dịch ra tiếng Anh: “Gift of the Devil”. Bài thơ ngắn, nhưng từ “khủng bố” [terrorize, terrorism] 32 lần lặp đi lặp lại. Khi nhờ tôi gởi nó đăng Tienve.org, tác giả lưỡng lự trong xử lí đoạn áp chót. Tôi nói, bạn thử vận dụng nghệ thuật thơ tạo hình xem sao. Cả đoạn cuối nữa! Trần Wũ Khang: à hén, và bài thơ đã ra hình hài như nó hiện có.

Ở đó, khủng bố nổ tan xác âm thanh đẹp nhất của thiên nhiên và thế giới con người. Nó bất kể, bất cần và bất chấp. Nó là trung tâm. Nó là nó, chỉ có nó và, không ai khác. Tuyệt đối. Nó muốn và nó được! Nó - với tư tưởng, chủ nghĩa và hành động khủng bố của nó. Rồi khi mọi thứ đã tanh bành, nó còn lại mỗi mình nó. Như nó muốn.

Hãy chú ý từ TAO. Tao khinh thường, khinh bỉ, tao sẵn sàng chà đạp mọi sự chống lại tao. Tao huỷ hoại tất cả kẻ cản mũi tao. Huỷ hoại cái loài người cho là đẹp (thơ ca), phá nát tương lai của chúng (học hành), triệt tiêu nhân loại và tiêu huỷ luôn hành vi tạo ra nhân loại (làm tình). Để cuối cùng, trái đất còn mỗi nó: TAO KHỦNG BỐ.

Còn mỗi TAO đơn độc rồi một [T] trơ trơ, và dấu chấm đen thê thảm [.] rút cục không gì cả [ ]: HƯ VÔ!

 

Đây không là trò chơi kĩ thuật. Vô ích, mấy thứ vớ vẩn đó.

“Dẫu thơ bị đóng cứng bởi đầu óc bảo thủ ngoan cố tới đâu, bị làm rách nát do kẻ nổi loạn phá phách cỡ nào; thơ có thay hình đổi dạng bao lần hay lang thang lạc bước đến những đâu chăng nữa, nó cũng phải trở về. Trở về nơi nó xuất phát: con người, ở ngôi nhà của nó: ngôn ngữ. Trong ngôi nhà đó, thơ và thi sĩ cư ngụ”. (Inrasara, Song thoại với cái mới, 2008).

Bài thơ đã đạt tối đa hiệu quả nghệ thuật, bằng vận dụng linh hoạt kĩ thuật thơ hình hoạ.

Thơ hình hoạ, bản thân nó không gì hơn trò nhí nhố, nếu nó không thể tạo nổi cho bài thơ hiệu quả nghệ thuật. Ở Việt Nam, Nguyễn Vỹ là nhà thơ đầu tiên thử nghiệm loại thơ này, có lẽ. Từ chối thủ pháp cũ (tượng trưng), sau “Sương rơi”, khi biết mình không thể làm hay hơn [và cũng không nên làm hay kiểu] “Il pleure dans mon coeur”, hoặc “Chanson d’automne”... Nguyễn Vỹ quyết chơi thơ tạo hình. Và ông đã thất bại. Một thất bại không phải không đáng gương sáng.

 

Hậu hiện đại ra đời, thủ pháp này được mang ra xài lại, khá đắc. Trần Wũ Khang thành công với “Quà tặng của quỷ sứ”. Tôi cũng đã thử nó trong “Ở nơi ấy, nhà thơ” như thể một bài “hoạ” ăn theo “Quà tặng của quỷ sứ” (Tienve.org, 2008):

Tao không muốn mầy làm thơ tình buồn
Tao không muốn mầy làm thơ tình
Tao không muốn mầy làm thơ
Tao không muốn mầy làm
Tao không muốn
Tao không
Tao
T
 
Đơn giản mầy là phụ nữ đã có chồng, con, có gia đình
Đơn giản mầy là phụ nữ đã có chồng, con
Đơn giản mầy là phụ nữ đã có
Đơn giản mầy là phụ nữ
Là của cải là đồ chơi
Đơn giản
 
Mầy còn muốn gì nữa
Mầy đã có cuộc sống no đủ
Mầy đã có tao
            Đã có tao
            Có tao              
            Tao
            T

 

Chế độ nam quyền khuếch trương tối đa quyền lực, nơi đó chỉ có “tao muốn” và “tao không muốn”, ngoài ra không gì cả! Dù là muốn phi lí nhất, nhưng đó là cái muốn CỦA tao. Và khi tao đã muốn thì mầy (nữ, vợ) không thể/ không được quyền muốn; nếu có, là muốn theo tao muốn (chú ý thêm: “tam tòng” của Nho giáo hay tên vợ “ăn theo” chồng ở phương Tây). Sự khẳng định uy quyền tuyệt đối đó quyết tước dần qua từng dòng, từng câu bị ngắt như cắt từng chút sở hữu/ thuộc tính/ vũ khí của đối thể, để tồn đọng lại chủ thể ở cuối đoạn thứ nhất và đoạn thứ ba bài thơ: chỉ có riêng Tao và rồi mỗi “T” có mặt, viết hoa và viết đậm.

Chế độ phân biệt giới tính hất người nữ ra ngoài lề, coi họ như giới tính hạng hai (la deuxième sexe). Người nữ không là gì hơn một phái sinh CỦA đàn ông, tài sản CỦA đàn ông, trò chơi CỦA đàn ông. Một tạo hình như thế - xin nhắc lại: không là trò chơi chữ - tạo hiệu ứng trong chính bản thân “hình thức” bài thơ. Nó thể hiện một “cắt dần”, thu hẹp dần vai trò của người nữ trong gia đình, tái khẳng định vị thế của người nam, trong nền văn hoá đối xử phân biệt giới tính tệ hại. Hậu hiện đại quyết phá tan và đánh sập tinh thần đó. Không phải bởi nữ giới quan trọng hơn nam giới, càng không phải lật đổ chế độ phụ hệ để đưa mẫu hệ lên ngôi, mà là giải trung tâm: bình đẳng giới trong một xã hội công bằng.

Trước nữa, Nguyễn Hoàng Tranh, cũng đã làm thế, nhưng ở hướng ngược lại. Từ một khẩu hiệu quen thuộc, anh đã ứng biển bằng cách thêm thắt hàng lô hình vị phụ vào chữ “độc”, tạo nên một không khí xô bồ và hỗn độn, khác hẳn sự khẳng định dứt khoát một chiều của khẩu hiệu. Của mọi loại khẩu hiệu.

[Không]
không có
không có gì
không có gì quý
không có gì quý hơn
không có gì quý hơn độc ác độc âm độc ẩm độc bản độc bình độc canh độc chất độc chiếm độc dược độc đáo độc đạo độc đắc độc địa độc đinh độc đoán độc giả độc hại độc huyền độc kế độc mộc độc mồm độc miệng độc nhất độc quyền độc tài độc tấu độc thân độc thần độc thoại độc tính độc tố độc tôn độc vận
 
(Nguyễn Hoàng Tranh, “Tháng tư & hơi thơ”, đoạn IV, trong tập Thở, Tiền Vệ xuất bản, 2003)

 

Nhưng đề tài gây thú vị hơn cả ở Trần Wũ Khang là thực tế cuộc sinh hoạt văn chương Việt Nam: “Việt kiều” mang đôla vào thì được thơ ca vào thì không, “Nhà văn” với nỗi mơ khôn rời làm sao có tác phẩm lớn, “Tân hình thức cảm thán”, những bài thơ ăn theo, phê bình nhân và phê bình nhân danh, nghi ngờ và gây nghi ngờ giữa văn nghệ sĩ với nhau,... tất tần tật. Ngôn từ và nhịp điệu Wũ vô ngại giữa những con chữ và đề tài. Chúng chồng lấp, xô đẩy, lôi kéo nhau vào cuộc chơi – hoạt náo và vui vẻ.

Thằng con ngoài giá thú của mọi ý thức hệ, tôi viết thơ
thơ không ăn theo ý thức hệ
thơ về chứng ngứa mông của thằng cu con tôi, tật mơ mộng của tôi, thói đọc sách tạp của bạn tôi, mảnh ruộng và cơn gió trái vụ của cha, cái lo muôn đời của mẹ, xã hội nát bét nơi tôi đang sống, bụi đường Cam Ranh, màu trời Phan Thiết, cô gái bia ôm Sài Gòn...
thơ mọi mọi thứ thứ mọi nơi nơi chốn chốn mọi tôi đi...
 
 

________

 

Tháng 10-2007, mẹ mất. Bốn tối liền tôi nằm phòng mẹ. Để cảm nhận thẳm sâu hơn ngôi nhà nơi tôi sinh và lớn. Ngày cuối, tôi qua ngủ nhà để chuẩn bị sáng mai đón xe đò vào Sài Gòn. Chín giờ tối, đang mơ màng thì thình lình một bóng đen lù lù đứng ngáng cửa, như từ đất mọc lên, cái đầu tóc bờm muốn đụng bậc trên cái cửa lớn. – Trần Wũ Khang. Cao to và sạm đen. Quen thân mà xa lạ.

– Tôi biết ông thương mẹ, đến chia buồn ông.

– Có kẻ muốn in mấy thứ ông viết đấy.

– Tuỳ ông định đoạt. Vậy nhé.

– Trà đã chứ?

– Thôi, tôi đi đây!

Thế thôi. Anh biến. Đi như thể xuyên tường. Như là không có. Wũ không có hay bức tường không có?

 

________

 

Wũ, không mà có.

Trần Wũ Khang – một con Ma Hời chính hiệu.

 
Sài Gòn, ngày 10-1-2009.
 

-----------------------

Ghi chú cần thiết:

Tại Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam [mở rộng] ở Hà Nội trong những ngày đất kinh kì lênh láng nước, tháng 11-2008, tôi đã nêu 3 lạc hậu của nhà văn (xem: “Nhà văn và tính chuyên nghiệp trong sáng tạo văn học”, Tạp chí Sông Hương, số 12, 2008).

- Suy tư về nghề rất yếu. Bàn tròn văn chương của Ban sáng tác trẻ của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2006 được tổ chức khá chuyên nghiệp. Sau kì 7, tôi làm cái sơ kết: BTVC thu về ba thành công nhỏ, nhưng qua đó vỡ ra một thất bài lớn. Thành công trong tập hợp đa thành phần, đa xu hướng sáng tác, nhiều lứa tuổi khác nhau với số lượng người tham dự ngày càng tăng để thực sự cùng bàn về văn chương đương đại; đề tài hay tác giả - tác phẩm được chọn tự do, vô phân biệt; thành viên thảo luận tự do trong một không khí cởi mở, vô ngại. Là ba điều chưa từng xảy ra trước đó. Nhưng thất bại lớn nhất và duy nhất là chất lượng của ý kiến. Đặt 7 Biên bản BTVC bên cạnh Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo, sự chênh lệch là rất lớn. Đó là vật chứng không thể chối cãi về tầm nghĩ về nghề của nhà văn hôm nay. Trong khi tuổi trung bình của ta gấp rưỡi thế hệ trước ở thời điểm Sáng Tạo thảo luận, và ta đi sau họ đến nửa thế kỉ! Nhưng BCH Hội Nhà văn Việt Nam vẫn rất bàng quan với Bàn tròn!

- Lạc hậu thứ hai thuộc về giới lí luận phê bình. Khi phong trào Thơ Mới còn chưa kết thúc, Hoài Thanh đã làm xong Thi nhân Việt Nam, vừa bắt mạch đúng tinh thần Thơ Mới và nhất là, vừa rất kịp thời. Trong khi đến hôm nay, có ai cầm lên một tác phẩm phê bình mà nói rằng mình nhận diện được khuôn mặt thơ ở một thời đoạn dù ngắn không? Không! Đổi mới và cả hậu đổi mới cũng thế. Nhà phê bình còn chưa có ý tưởng đó nữa, có lẽ? Chúng ta làm đủ thứ tuyển, nhưng nắm bắt để khái quát kịp thời cái đang xảy ra là điều tưởng dễ làm nhất thì, không! Đành rằng, với nỗi “dồi dào” và “phong phú đa dạng” các tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn chương xuất hiện trên đủ loại phương tiện thông tin, không ai dám tự nhận quán xuyến tất cả. Nhưng ít ra người làm phê bình vẫn có thể chọn một/ một vài trào lưu nhất định để làm phê bình. Vậy mà mãi tận hôm nay, giới phê bình Việt Nam vẫn chưa cho ra đời tác phẩm như thế.

- Cuối cùng, Ban chấp hành Hội cũng khá tụt hậu với các hiện tượng văn chương đương đại. Văn chương mạng đang phát triển mạnh, phong trào hậu hiện đại cũng thế, nhưng Hội vẫn chưa lần có ý định tổng kết hay làm hội thảo về nó. Các bài viết về chúng trên các báo, tạp chí của Hội cũng có mặt rất hoạ hoằn. Cái đang xảy ra ta không bàn mà đi lo tổ chức hội thảo tận... Cao Bá Quát.

 

*

 

Tâm hồn dân tộc, thiển nghĩ, lộ bày rõ hơn cả trong tác phẩm văn chương. Qua Văn học Chăm khái luận - văn tuyển (3 tập) và Văn học Chăm hiện đại 1&2, tôi đã ít nhiều hiểu được tâm hồn dân tộc mình. Từ đó, tôi phần nào lí giải [có thể sai] nguyên nhân Champa thất bại trước Đại Việt.

Do đó, trong ý hướng tìm hiểu tinh thần người cùng thời, tôi cũng khởi từ văn chương. Mà tôi mạo muội gọi tên là “lập biên bản”. Về thơ dân tộc thiểu số, tôi bắt đầu từ một tác giả/ tác phẩm (mươi tác giả cả thảy), sau đó tổng hợp lại làm thành “Thơ dân tộc thiểu số, từ một hướng nhìn động”. Và dĩ nhiên: cuốn nghiên cứu - phê bình - tuyển về nó ra đời một ngày không xa.

Về thơ hậu đổi mới, tôi cũng đang thực hiện thao tác tương tự. Mỗi tác giả/ tác phẩm được nỗ lực tiếp cận bằng nhiều cách thế khác nhau, diễn đạt bằng nhiều lối khác nhau. Như là một gợi mở, gợi ý [tục gọi là giải mã] để người đọc đi vào chính sáng tác của tác giả. Chúng khác bài điểm sách, càng không giống một bài phê bình đúng nghĩa. Hi vọng sau đó, sẽ làm một bài tổng luận: “Thơ Việt, từ hiện đại đến hậu hiện đại”. Như tôi đã từng làm với “Thơ nữ trong hành trình cắt đuôi hậu tố ‘nữ’” hay “Thơ đổi mới, khởi đầu cho một khởi đầu”. Dĩ nhiên, lại hi vọng rồi cũng sẽ có nghiên cứu - phê bình - tuyển, như trên.

Trước hết, tôi làm vì vui thú. Ví như về thơ dân tộc thiểu số và thơ nữ, ngoài ít cái độc đáo (khác nhau), rất nhiều sáo mòn và nhảm nhí giống nhau đến kì lạ; đến nỗi tôi thấy không cần thiết lập biên bản về mỗi tác giả nữa, mà gộp lại bàn chung (xem: “Thơ trẻ và hiện tượng lặp lại mình”). Bên cạnh đó, công việc này giúp tôi hiểu được phần nào tinh thần người cùng thời, nhìn lại hành trình sáng tác của mình, đồng lúc giúp người đọc nhận diện khuôn mặt thơ của một thời kì.

Có thể nó dang dở hay thất bại, nhưng đó là thất bại cần thiết, chắc chắn thế.

 

 

-------------
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018