thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Di chúc của ta | Máy đánh chữ | Một buổi trưa quang đãng
 
Bản dịch Hoàng Ngọc Biên
 
 
ZDZISŁAW JASKULA
(1951~)
 
Zdzisław Jaskuła là một nhà thơ, nhà phê bình văn học, đạo diễn sân khấu, dịch giả, tác giả nhiều kịch bản phóng tác và là người biên tập của tập san Tygiel Kultury ở Lodz. Ông sinh năm 1951 ở Lask, gần Lodz, tham gia hoạt động văn chương từ 1969, trong những tạp chí PoésiaLiteratura, tốt nghiệp Đại học Công giáo Lublin [KUL] ở Ba-lan. Tập thơ đầu tay của ông, Zbieg okolicznosci [Những tình huống ngẫu hợp], ra đời năm 1973. Có thời ông theo học triết ở Đại học Lodz, nhưng sau bị đuổi khỏi trường vì có tên ký trong Thư 300 Sinh viên phản đối những vi phạm các quyền tự do căn bản.
 
Bị cấm xuất bản ở Ba-lan, Jaskula cho ấn hành tại London cuốn Dwa poematy [Hai bài thơ, 1977] lấy tên nhà xuất bản là Hội các nhà văn và Hoạ sĩ Ba-lan; tiếp theo là những tập ấn hành không chính thức: Wieczor autorski [1981] và Maszyna do pisania [1984].l Ông cộng tác với tạp chí Puls do Jacek Bierezin khởi xướng và điều hành ở Lodz, và từng làm chỉ đạo nghệ thuật cho nhiều sân khấu ở Lodz [1992-1999]. Ông là người dịch thơ của Ingeborg Bachmann qua tiếng Ba-lan; là dịch giả những tác phẩm triết của Friedrich Nietzsche, và đặc biệt năm 1999, đã cùng với vợ là Slawa Lisiecka cho ấn hành Also sprach Zarathustra, đây là lần đầu tác phẩm này xuất hiện ở Ba-lan, và về sau được đưa lên sân khấu.
 
Có hai tuyển tập thơ Ba-lan giới thiệu thơ Zdzislaw Jaskula: Dreams of Fires — 100 Polish Poems 1970-1989 (Poetry Salzburg, University of Salzburg, 2004), và Rebelles et Rêveurs — quatorze poètes polonais contemporains (Tủ sách “La Peau des mots”, La Pensée sauvage, 1980), qua đó, người đọc dễ dàng nhận ra trí tưởng tượng tuôn tràn kết hợp với cái chân thật mộc mạc trong những quan hệ của ông bên cạnh những con người bình dị ngoài đời, những lời thơ trữ tình tinh tế kết hợp với giọng điệu mỉa mai cay độc [trong “Di chúc của ta”, hay “Máy đánh chữ”, chẳng hạn].
 
 

Di chúc của ta

 
Nếu ta là một tên chó đẻ xin hãy tha thứ
cho mẹ ta bà không có tội tình gì
Và cũng xin hãy tha thứ cho cha ta nếu
ta đã chứng tỏ là một đứa con bất xứng của trung đoàn
Nếu ta từng làm chứng bậy bạ xin hãy tha thứ
cho tội lỗi những kẻ đã hỏi cung ta
Xin tha cho đám công an và những nhà toán học
chẳng bao giờ chịu đếm những cái sườn của ta
Xin hãy thay mặt ta cám ơn những ca sĩ
và nhà chính trị đã tham gia những cuộc trình diễn tuyệt đẹp
tổ chức ngoài trời hay trong các câu lạc bộ
Xin cho họ biết là họ đã làm ta thấy vui
Xin hãy viết thư cám ơn các công nhân
các nông dân và các nhà trí thức nhờ họ mà những cỗ máy
không bị vô dụng đất màu mỡ và tư tưởng
sinh sôi theo đúng kế hoạch
Những kẻ chưa có dịp nói lời chia tay với ta
ngày mai có thể tạt ngang nhà ta khi ta bình tĩnh hơn
Dù sao cũng cứ đến thăm ta hỡi các bạn bè và —
nếu có thể — xin đem cho ta một chiếc đồng hồ báo thức
để ta không lỡ mất ánh sáng buổi mai
 
 
 

Máy đánh chữ

 
Tôi đang suy nghĩ xem còn cái gì có thể
cứu vãn
(mỗi đêm giấc mơ của tôi trải ra
như một ngọn cờ
có cái miệng màu trắng-đỏ kêu gào:
NHÀ THƠ! GIẢI THOÁT LÀ SỨC MẠNH TỐI THƯỢNG CỦA NGƯƠI!)
đột nhiên một viên chấp pháp bước vào.
                  — Ố ?!
tôi lại nợ ngài,
xin lỗi, nợ Nhà nước
cái gì nữa chăng?
                  — Không thể có những kẻ vô tội không nợ nần gì
— ông ta nói — Cần phải có công lý.
                  — Tim tôi
— tôi nói với ông — làm việc không ngừng và,
xin ông hãy tin tôi, nó không nuôi nổi chính nó.
Quả thật là tôi đang sống bằng thẻ trả góp, thế nhưng...
                  — Thì chính người ta vừa
rút của ngươi cái thẻ
tín dụng. Ngươi không còn sống nữa! — ông hét lớn
và ông chụp cái máy đánh chữ của tôi.
— Cái máy đánh chữ đẹp của tôi! — tôi cất tiếng la
từ thề giới bên kia với những lời thơ của Cendras.
                  — Giá trị
thẩm mỹ của nó ta chẳng quan tâm — ông nói vọng từ thềm cầu thang
và tôi đã hiểu ra, hiểu quá trễ, ngôn ngữ
là vũ khí không hiệu quả của tất cả những kẻ đã bị tước mất vũ khí.
Có cần phải giải thích là, từ đó, giấc mơ ngọn cờ của tôi
không còn mở miệng được?
 
 
 

Một buổi trưa quang đãng

 
Trong thế giới những vụ tự tử và những vụ phá thai    Giữa
những sự thật hiển nhiên và những dối trá hiển nhiên    Giữa
những kẻ bị hành quyết và những kẻ hành quyết    Nằm giữa
những kẻ bị bệnh cúm quật ngã
và những kẻ vật lộn với bệnh ho lao
 
Trong cái rốn của thế giới và trên cao dưới thấp hai bên
trong khi chất pyramidon làm dễ chịu và chất brome
thì không    Khi người ta khai trương bến cảng trên vịnh vành cung
và những vòng hoa được kết    Dưới sự chuyên chính
 
vô sản của đội quân những toà án
và những đảng phát xít    Trong một tiểu lục địa bên bờ sông Vistule[*]
ở mũi đất Hi vọng Tốt lành[**]    Cho những tội phạm
 
và cho những kẻ ca hát    Cho những kẻ người ta thương khóc
Cho những cô điếm    và    những    nhà thơ    của    giai cấp    thợ thuyền
Cho hết tất cả giữa đêm
ngay cả giữa đêm
phải có ít ra là một buổi trưa quang đãng đầy nắng
mà ta muốn tin vào như tin vào lý lẽ tối thượng
 
 
_________________________

[*]Sông lớn ở Ba-lan.

[**]Mũi đất Bonne-Espérance [ở Nam Phi] nằm cuối bán đảo phía nam thành phố Cap và khép lại ở phía tây, là nơi gặp nhau của hai dòng biển rất khác nhau: dòng lạnh phía tây và dòng nóng phía đông.

 
 
----------------
“Di chúc của ta” dịch từ bản tiếng Anh “My Testament” của Zbigniew Joachimiak, David Malcolm & Georgia Scott trong Dreams of Fires 100 Polish Poems 1970-1989 (Poetry Salzburg, University of Salzburg, 2004). “Máy đánh chữ” và “Một buổi trưa quang đãng” dịch từ bản tiếng Pháp “La machine à écrire” và “Un clair midi” của Lucienne Rey trong Rebelles et Rêveurs quatorze poètes polonais contemporains (Tủ sách “La Peau des mots”, La Pensée sauvage, 1980).
 
 
Phụ lục:
 

Di chúc của ta

 
Nếu ta là một tên chó đẻ xin hãy tha thứ
cho mẹ ta bà không có tội tình gì
Cũng thế xin hãy tha thứ cho cha ta
nếu ta đã chứng tỏ là một đứa con trung đoàn bất xứng
Ta từng làm chứng bậy bạ nhưng xin hãy tha thứ
cho tội lỗi những kẻ đã phải hỏi cung ta
Xin đừng thù oán đám công an và đám thống kê
chẳng bao giờ chịu đếm những cái sườn của ta
Xin hãy thay mặt ta cám ơn những người viết ca khúc
và nhà chính trị đã tham gia những cuộc biểu dương tuyệt đẹp
tổ chức ngoài trời hay trong các nhà văn hoá
Xin cho họ biết là họ đã làm ta thấy vui
Xin hãy viết thư cám ơn các thợ thuyền các nông dân
và các nhà trí thức về những gì họ đã làm:
những cỗ máy không mệt mỏi
đất màu mỡ và tư tưởng
có lợi về mọi mặt
Những kẻ chưa có dịp nói lời chia tay với ta
ngày mai có thể tạt ngang nhà ta
khi ta bình tĩnh trở lại một chút
Dù sao cũng cứ đến thăm ta hỡi các bạn bè và
— nếu có thể — xin tặng ta một chiếc đồng hồ báo thức
để ta không lỡ mất ánh sáng buổi bình minh
 
 
-----------
“Di chúc của ta” dịch từ bản tiếng Pháp “Mon testament” của Lucienne Rey trong Rebelles et Rêveurs quatorze poètes polonais contemporains (Tủ sách “La Peau des mots”, La Pensée sauvage, 1980).
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018