thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU [I]

 

Bản dịch của Nam Giang

 

LUIS SEPÚLVEDA

(1949~)

 

Luis Sepúlveda sinh năm 1949 tại Ovalle, Chile. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông học ngành kịch nghệ tại Đại Học Quốc Gia Chile. Năm 1969, ông được học bổng 5 năm để tiếp tục học ngành kịch nghệ tại Đại Học Mátxcơva, nhưng chỉ sau 5 tháng, ông bị đuổi học vì đã kết bạn giao du với một vài người bất đồng chính kiến dưới chế độ Xô-viết, và phải quay về Chile.
 
Ông trở thành một lãnh tụ của sinh viên và làm việc với bộ văn hoá của chính phủ Salvador Allende, phụ trách việc xuất bản những tác phẩm văn học cổ điển với giá rẻ cho quần chúng. Sau vụ đảo chính 1973, chế độ quân phiệt của nhà độc tài Augusto Pinochet đã bắt giam Luis Sepúlveda 2 năm rưỡi, rồi được thả nhờ sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế (chi nhánh Đức), nhưng vẫn bị quản thúc tại gia. Thế nhưng, ông đã trốn thoát và ẩn nấp bí mật gần một năm và thành lập một nhóm kịch phản kháng. Rồi ông bị bắt lần nữa và lãnh án tù chung thân (sau này được giảm còn 28 năm tù) vì tội "phản quốc" và "phiến loạn".
 
Hội Ân Xá Quốc Tế (chi nhánh Đức) lại can thiệp, và bản án của ông được giảm xuống còn 8 năm lưu đày, và năm 1977 ông rời Chile. Từ đó, ông sống và làm việc ở nhiều nước khác nhau, tiếp tục hoạt động như một nhà vận động chính trị - xã hội, và trở thành một nhà văn nổi tiếng. Ông đã xuất bản gần hai mươi tác phẩm văn chương. Ngoài ra, ông còn hoạt động trong ngành điện ảnh, và đã thực hiện bốn cuốn phim.
 
Ngày 19.2.2009 vừa qua, ông được trao tặng giải thưởng lớn Premio Primavera de Novela với số tiền 200 ngàn Euro cho tiểu thuyết La sombra de lo que fuimos [Bóng tối của quá khứ chúng ta, 2009].
 
Tuy nhiên, cuốn Un viejo que leía novelas de amor [Một ông già đọc tiểu thuyết tình yêu, 1989] là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Cuốn này đã được xuất bản qua hơn 60 ngôn ngữ.

 

_________

 

 

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU

 

I

 

Bầu trời õng nước như bụng một con lừa treo rất thấp lửng lơ đe doạ trên đầu. Gió nồng nhớp nháp thổi qua đám lá cây xơ xác, quay quật những cây chuối còm cõi được trồng làm cảnh trước mặt tiền toà thị chính.

Một vài người dân ở làng El Idilio, cùng một nhóm người lang thang đến từ những vùng lân cận đang chờ trên bờ sông. Họ đợi đến lượt mình để được ngồi lên chiếc ghế chữa răng của bác sĩ nha khoa Rubincondo Loachamín. Ông ta đang thực hiện một biện pháp gây tê kỳ lạ bằng ngôn ngữ.

— Thế này có làm chú mày đau không? — Ông hỏi.

Tay bám chặt vào thành ghế, bệnh nhân trợn mắt ra hiệu, mồ hôi toát ra ròng ròng Có người thử cố kéo bàn tay thô bạo của bác sĩ từ trong mồm mình ra, để có thể trả lời bằng những lời thô tục cho đúng với cảm giác mà họ phải chịu đựng, nhưng họ vấp phải những bắp thịt cứng cứng rắn và giọng nói đầy uy quyền của ông.

— Ngồi yên, đồ chó. Hạ hai cái cẳng trước xuống! Đúng là nó đau, nhưng lỗi của ai, hử? Của thằng này? Không, đó là lỗi của nhà nước. Hãy nhồi điều đó vào đầu, do nhà nước. Đấy là tội lỗi của nhà nước khi chú mày có những cái răng thối và nó làm chú mày đau. Lỗi của nhà nước...

Bệnh nhân bất hạnh chỉ còn biết nhắm mắt lại chịu đựng, hoặc ngọ nguậy cái đầu. Bác sĩ Loachamín căm ghét nhà nước, mọi kiểu nhà nước, tất cả các nhà nước. Là con ngoài giá thú của một người dân di cư gốc Tây-ban-nha, ông thừa kế từ cha mình sự căm ghét sâu sắc đối với tất cả những gì đại diện cho quyền lực. Nhưng lý do chính xác của lòng căm thù đã mất đi theo những năm tháng của tuổi trẻ. Bây giờ những lời nguyền rủa vô chính phủ của ông chỉ còn như một thứ bài giảng đạo đức, khiến ông gần gũi, thân mật với mọi người hơn.

Ông nguyền rủa, chống các chính quyền nối tiếp nhau cũng giống như ông chống những người Mỹ thỉnh thoảng tới đây từ những khu thăm dò dầu mỏ ở Coca. Những kẻ nước ngoài thiếu lịch sự, họ dám chụp ảnh những cái miệng há hốc của bệnh nhân mà không chịu xin phép ông.

Cách đó vài bước chân, ê-kíp của tầu Sucre đang khuân lên boong những buồng chuối xanh và những bao tải cà-phê. Ở đầu bến những két bia, rượu mạnh hiệu Frontera, muối, bình ga chất thành đống. Chúng được chuyển lên bờ ngay từ sáng sớm.

Tàu sẽ nhổ neo ngay khi bác sĩ chữa xong tất cả các hàm răng. Nó sẽ ngược dòng sông Nangaritza, rồi xuôi vào sông Zamora. Sau bốn ngày lênh đênh chậm rãi trên sông, tầu sẽ cập bến cảng sông El Dorado.

Con tầu giống như một cái thùng cũ kỹ nổi trên sông. Nó còn nhúc nhích được là nhờ vào ý chí của người thợ máy chính, sự cố gắng của hai thuỷ thủ lực lượng trong ê-kíp, cũng như sự dẻo dai của chiếc đầu máy diesel cũ kỹ. Tầu sẽ không quay lại đây trước khi mùa mưa kết thúc. Điều mà bầu trời xám xịt mầu tang báo hiệu chúng đang tới gần.

Bác sỹ Rubincondo Loachamín ghé tới đây một năm hai lần, giống như người đưa thư của bưu điện, người hoạ hoằn lắm mới đem đến một bức thư cho dân chúng. Chủ yếu anh ta mang đến những giấy tờ hành chính dành cho ông xã trưởng hay những bức chân dung nghiêm nghị đã bạc mầu vì độ ẩm của vị thống đốc bang đương quyền.

Mỗi chuyến tầu ghé qua, dân chúng chẳng chờ đợi điều gì khác ngoài việc nhận hàng hoá dự trữ: muối, bia, rượu mạnh, bình ga. Mặc dù vậy, sự xuất hiện của bác sĩ cũng được đón chào bằng một sự thở phào nhẹ nhõm, đặc biệt của những người còn sống sót sau đợt sốt rét. Mệt mỏi vì phải khạc nhổ những mẩu vụn còn sót lại của chân răng, họ mong muốn có được một hàm răng sạch sẽ, để có thể thử những bộ răng giả, được bầy trên một cái thảm mầu tím. Tấm thảm gợi cho người ta mầu khăn tím của giám mục toà thánh.

Vừa luôn mồm nguyền rủa chính phủ, bác sĩ vừa nhổ hết những gì còn sót lại của chân răng. Sau đó ông bắt bệnh nhân súc miệng bằng rượu mạnh.

— Để xem nào, chú mày thấy thế nào, với cái hàm này?

— Nó chật quá, nhà em không thể ngậm miệng được.

— Đừng khó tính quá như một lũ con gái õng ẹo, thử cái hàm khác xem!

— Cái này lại lỏng, nhỡ nhà em ho, nó sẽ văng ra.

— Thế thì chú mày cố gắng đừng để bị cúm. Thằng đần, há mồm ra!

Họ ngoan ngoãn nghe theo lời bác sĩ. Sau khi thử vài cái hàm răng giả khác nhau, cuối cùng họ cũng tìm được một cái vừa ý để mặc cả giá, trong khi bác sĩ khử trùng những cái còn lại bằng cách nhúng chúng vào nước sôi pha cờ-lo.

Với người dân ở trên các triền sông Zamora, Yacuambi, và Nangaritza, cái ghế chữa răng của bác sĩ Rubincondo Loachamín có một vị trí đáng kính trọng. Thực ra đó chỉ là một cái ghế cắt tóc cũ, chân và thành ghế tráng men trắng, mà thuyền trưởng và cả ê-kíp phải dùng hết sức lực mới bê được lên bờ. Nó được đặt lên một cái bục hình vuông rộng khoảng một mét, được bác sĩ gọi là phòng khám.

— Trong lúc khám bệnh, có chúa chứng giám, ta là người chỉ huy. Ở đây, phải tuân lệnh ta. Ra khỏi  phòng khám, các ngươi muốn gọi ta là gì cũng được: lão nhổ răng, thằng móc mồm, thằng bóp lưỡi,... hay bằng bất cứ danh từ nào xuất hiện trong óc các người. Các người còn có thể mời ta một ly rượu.

Những người đang chờ đến lượt mặt như đưa đám. Còn nhưng người đã nếm mùi cái kìm nhổ răng trông cũng chẳng sáng sủa hơn.

Những kẻ duy nhất còn cười được là những người da đỏ Jivaro. Họ ngồi xổm xung quanh phòng khám quan sát. Jivaro là tên dành cho những thổ dân bị chính bộ tộc của mình, bộ tộc Shuars, từ bỏ. Họ coi người Jivaro là những kẻ thoái hoá, biến chất bởi tập quán của bọn "Apaches", một từ dùng chỉ người da trắng. Người Jivaro mặc những đồ rách rưới của người da trắng thải ra, chấp nhận không phản đối cái tên Jivaro, vốn được những kẻ chinh phục Tây-ban-nha đặt cho. Jivaro có nghĩa là mọi rợ.

Có một khoảng cách lớn khủng khiếp giữa một người Shuars cao thượng và kiêu ngạo, người biết tất cả những bí ẩn của vùng rừng Amazon, và một người Jivaro, như những người đang tụ tập trên bờ sông ở làng El Idilio này. Họ đến đây với hi vọng xin được một chút rượu.

Những người da đỏ cười hở hàm răng được mài nhọn hoắt bằng đá cuội dưới sông.

— Còn những thằng kia, nhìn cái gì? Không lúc này thì lúc khác, chúng mày cũng sẽ nếm mùi, những con khỉ kia.

Bác sĩ đe doạ họ. Sung sướng vì có người bắt chuyện, những người Jivaro trả lời.

— Jivaro răng tốt. Jivaro ăn nhiều thịt khỉ.

Đôi khi một bệnh nhân rú lên làm cho cả chim chóc cũng hoảng sợ. Bác sĩ nới gọng kìm ra bằng cách đập bàn tay vào cán.

— Hãy ngồi yên như một thằng đàn ông. Ta biết là ta làm chú mày đau, nhưng ta đã nói rồi, đấy là lỗi của ai? Đừng có làm vẻ gớm ghiếc. Ngồi yên để chứng tỏ cho mọi người biết, chú mày không bị thọt hai hòn dái lên tới cổ.

— Nhưng bác sĩ đã nhổ cả linh hồn nhà em, cho em xin ngụm nước.

Bác sĩ đã nhổ xong răng của bệnh nhân cuối cùng. Ông trút một tiếng thở dài, gói những hàm răng giả không bán được trong cái thảm tím như mầu khăn của giáo chủ. Trong lúc tẩy trùng các dụng cụ, ông nhìn thấy một con thuyền độc mộc của một người Shuars đi qua.

Người thổ dân đứng chống sào ở phía cuối con thuyền mỏng mảnh. Đến ngang tầm tầu Sucre, anh ta chống nó cập vào thân con tầu. Khuôn mặt nhăn nhó cáu kỉnh của thuyền trưởng hiện ra từ trên mạn tàu. Người Shuars vừa hoa chân múa tay giải thích một điều gì đó vừa không ngớt khạc nhổ.

Bác sĩ lau khô các dụng cụ nha khoa, xếp chúng vào một cái cặp da đen, rồi ông cầm chiếc khay đựng những cái răng đã nhổ hất nó xuống dòng nước. Thuyền trưởng và người thổ dân đi ngang qua ông, rảo bước về phía toà thị chính.

— Bắt buộc phải chờ rồi, bác sĩ. Người ta mang đến cho chúng ta xác một thằng gringo.[1]

Cái tin mới này không làm cho ông thích thú. Sucre là một con tầu chật chội, đặc biệt trong những chuyến quay về, khi người ta chất đầy tầu chuối xanh và những bao tải cà-phê thô cuối mùa đã thối gần một nửa. Mùa mưa có thể đuổi kịp con tầu, một chuyện có khả năng xẩy ra, do nó đã bị chậm một tuần bởi những hỏng hóc kỹ thuật. Nếu như vậy hàng hoá, hành khách, và cả ê-kíp phải chung nhau một cái mái bạt, không có đủ chỗ để treo võng. Vì thế sự hiện diện của một xác chết càng làm cho chuyến đi mệt mỏi hơn.

Bác sĩ giúp mọi người khuân cái ghế lên tầu, rồi quay xuống bờ sông. Antonio José Bolivar Proano đã đứng chờ sẵn ở đó. Đó là một ông già nhưng thân thể vẫn còn gân guốc, một người hình như chẳng để ý gì về việc mình mang một cái tên nổi tiếng như thế.[2]

— Lão vẫn chưa chết à, Antonio José Bolivar?

Ông già làm bộ ngửi hai bên nách của mình trước khi trả lời:

— Người ta có thể nói là chưa. Lão chưa bốc mùi, còn bác sĩ, hôm nay kiếm có khá không?

— Răng của lão thế nào?

— Lão luôn có trong người. Ông già trả lời, thò tay vào túi lôi ra một cái khăn mùi-xoa bạc mầu. Ông giở nó ra và chỉ cho bác sĩ thấy bộ răng giả.

— Tại sao lão không dùng, lão già say khướt kia?

— Lão lắp ngay bây giờ. Lão không ăn, cũng không nói, vậy lắp vào mồm làm gì cho phí của.

Ông già lắp hàm răng vào mồm, nhai khan vài cái, khạc nhổ vung vãi xung quanh rồi chìa cho bác sĩ một chai rượu mạnh Frontera.

— Cám ơn. Hôm nay tôi cũng kiếm được.

— Rõ rồi. Bác sĩ nhổ 26 cái răng cộng với một đống chân răng sâu, nhưng vẫn không phá được kỷ lục của mình.

— Lão ngồi đếm à?

— Đếm vì tình bạn, để còn mừng cho những thành công của bạn bè. Nhưng trước đây vẫn khá hơn đấy, bác sĩ có thấy vậy không? Lúc đó còn có nhiều người khai hoang trẻ. Bác sĩ còn nhớ gã đến từ Manta. Hắn đòi nhổ cả hàm răng để đánh cược?

Bác sĩ Rubincondo Loachamín nghiêng đầu, sắp xếp lại những kỷ niệm, và cuối cùng tìm thấy hình ảnh một gã thanh niên, ăn mặc theo kiểu dân vùng Manta. Gã mặc một bộ cánh trắng, đi chân đất, nhưng lại đeo một cái cựa giầy nhỏ bằng bạc.

Gã đi đến phòng khám cùng một đám thanh niên khoảng chừng 20 người. Tất cả đều có vẻ đang say. Đấy là những người lang thang đi tìm vàng, không có chỗ ở cố định. Người ta gọi họ là những người hành hương vì họ chẳng quan tâm đến việc kiếm vàng bằng cách nào, đãi vàng trên bờ sông, hay trong túi đồng loại.

Gã để rơi mình vào ghế, nhìn bác sĩ với một vẻ ngây ngô.

— Anh muốn gì?

— Ông nhổ cho tôi tất cả hàm răng, từng cái một, rồi để nó lên đây, trên mặt bàn.

— Há mồm ra.

Gã ngoan ngoãn nghe lời. Bác sĩ thấy dù có nhiều răng bị hỏng, nhưng một bên hàm vẫn còn tốt. Một số cái bị sâu, những cái khác còn nguyên vẹn.

— Anh vẫn còn nhiều răng tốt. Nhưng có đủ tiền để trả không?

Gã mất đi vẻ ngây ngô.

— Chuyện như thế này, bác sĩ. Bọn đi cùng này không tin thằng này dũng cảm. Vì thế thằng này cược với chúng sẽ nhổ hết hàm răng của mình, lần lượt từng cái một, và cam đoan không kêu một tiếng. Bọn tôi đã cược với nhau. Bác sĩ giúp thằng này một tay. Thắng cuộc, bác sĩ và thằng này, mỗi người sẽ được một nửa.

— Đến cái răng thứ hai, mày sẽ đái ra quần và sẽ khóc tu tu gọi mẹ. — Có tiếng một ai đó kêu lên trong đám đông, và cả bọn cười rộ lên.

— Tốt nhất là tiếp tục uống rượu và suy nghĩ đi. Đừng có đùa một cách ngu xuẩn như thế. — Bác sĩ nói.

— Đấy, việc nó là như thế. Nếu bác sĩ không giúp thằng này thắng cược, thì anh bạn nhỏ này của hắn sẽ xin bác sĩ cái đầu.

Mắt gã sáng lấp lánh trong khi tay gã vuốt ve chuôi con dao quắm đeo bên người.

Thế thì bắt buộc phải làm thôi. Gã há mồm, để bác sĩ đếm lại số răng. Ông tuyên bố có tất cả 15 cái. Gã đặt lên trên cái khăn bầy răng giả một dẫy 15 cục vàng, mỗi cục cho một răng. Những kẻ tham gia đặt cược thắng hoặc thua bỏ thêm vàng vào đó. Từ cái răng thứ 5 số lượng vàng tăng đáng kể. Gã để cho nhổ 7 cái răng đầu tiên mà không nhúc nhích một bắp thịt. Yên lặng tới mức người ta có thể nghe thấy được tiếng ruồi bay. Đến cái răng thứ 8, máu ra nhiều ngập cả mồm. Gã không nói được, nhưng giơ tay ra hiệu đòi nghỉ.

Gã khạc nhổ nhiều lần, làm máu đọng thành cục trên bục đất. Gã hớp một ngụm rượu lớn, quằn quại trên ghế vì đau đớn, nhưng không hé một lời. Sau lần khạc nhổ cuối cùng, gã giơ tay ra hiệu cho bác sĩ tiếp tục.

Kết thúc cuộc tàn sát, mồm hoàn toàn không còn cái răng nào, mặt sưng vù tới mang tai, gã người Manta thể hiện một thái độ toại nguyện trong lúc chia phần thắng với bác sĩ.

— Đúng thế, — bác sĩ Loachamín hớp một ngụm rượu — đấy là thời kỳ huy hoàng.

Những giọt rượu cất từ mía làm cháy cổ họng làm bác sĩ nhăn mặt trả lại chai rượu.

— Đừng có nhăn nhó như thế. Cái đồ quỷ này giúp người ta tẩy giun trong ruột. — Antonio José Bolivar nói. Rồi lão dừng lại giữa chừng, không thể tiếp lời.

Hai cái thuyền độc mộc tiến lại gần. Trong một chiếc thuyền, nhô ra một cái đầu tóc vàng bất động.

 

[còn tiếp]

 

_________________________

[1]gringo: tiếng lóng ở châu Mỹ La-tinh, để chỉ người da trắng Bắc Mỹ.

[2]Bolivar là tên người anh hùng Simón Bolívar (1783-1830) của nước Venezuela. Người có công giải phóng Venezuela và nhiều nước ở Nam Mỹ (như Colombia, Peru, Ecuador, Bolivia, Panama) khỏi ách thực dân Tây-ban-nha.

 

 

--------------
Dịch theo bản tiếng Pháp, Le vieux qui lisait des romans d'amour, của François Maspéro (Paris: Editions Métailié, 2004).
 

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018