thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU [VIII]

 

Bản dịch của Nam Giang

 

LUIS SEPÚLVEDA

(1949~)

 

Luis Sepúlveda sinh năm 1949 tại Ovalle, Chile. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông học ngành kịch nghệ tại Đại Học Quốc Gia Chile. Năm 1969, ông được học bổng 5 năm để tiếp tục học ngành kịch nghệ tại Đại Học Mátxcơva, nhưng chỉ sau 5 tháng, ông bị đuổi học vì đã kết bạn giao du với một vài người bất đồng chính kiến dưới chế độ Xô-viết, và phải quay về Chile.
 
Ông trở thành một lãnh tụ của sinh viên và làm việc với bộ văn hoá của chính phủ Salvador Allende, phụ trách việc xuất bản những tác phẩm văn học cổ điển với giá rẻ cho quần chúng. Sau vụ đảo chính 1973, chế độ quân phiệt của nhà độc tài Augusto Pinochet đã bắt giam Luis Sepúlveda 2 năm rưỡi, rồi được thả nhờ sự can thiệp của Hội Ân Xá Quốc Tế (chi nhánh Đức), nhưng vẫn bị quản thúc tại gia. Thế nhưng, ông đã trốn thoát và ẩn nấp bí mật gần một năm và thành lập một nhóm kịch phản kháng. Rồi ông bị bắt lần nữa và lãnh án tù chung thân (sau này được giảm còn 28 năm tù) vì tội “phản quốc” và “phiến loạn”.
 
Hội Ân Xá Quốc Tế (chi nhánh Đức) lại can thiệp, và bản án của ông được giảm xuống còn 8 năm lưu đày, và năm 1977 ông rời Chile. Từ đó, ông sống và làm việc ở nhiều nước khác nhau, tiếp tục hoạt động như một nhà vận động chính trị - xã hội, và trở thành một nhà văn nổi tiếng. Ông đã xuất bản gần hai mươi tác phẩm văn chương. Ngoài ra, ông còn hoạt động trong ngành điện ảnh, và đã thực hiện bốn cuốn phim.
 
Ngày 19.2.2009 vừa qua, ông được trao tặng giải thưởng lớn Premio Primavera de Novela với số tiền 200 ngàn Euro cho tiểu thuyết La sombra de lo que fuimos [Bóng tối của quá khứ chúng ta, 2009].
 
Tuy nhiên, cuốn Un viejo que leía novelas de amor [Một ông già đọc tiểu thuyết tình yêu, 1989] là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Cuốn này đã được xuất bản qua hơn 60 ngôn ngữ.

 

_________

 

 

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU

 

Đã đăng: [I] - [II] - [III] - [IV] - [V] - [VI] - [VII]

 

VIII

 

Thời gian còn lại trong ngày, người ta dành cho hai cái xác chết.

Họ quấn hai người lại bằng cái võng của Miranda, mặt đối mặt, để tránh cho họ đi về cõi vĩnh hằng như những kẻ xa lạ cô đơn. Sau đó họ khâu kín tấm khăn liệm bất đắc dĩ lại, buộc vào đó những hòn đá to ở bốn góc.

Họ kéo lê cái gói nặng đến một cái đầm lầy gần đó, nhấc nó lên, lăn nó lấy đà, rồi ném vào đám cỏ lác và hồng nước dại. Cái gói chìm dần, làm sủi những bong bóng to kéo theo nó đám cỏ dại và những con cóc bị bất ngờ.

Họ trở về cái quán lúc bóng tối đã làm chủ rừng già. Lão béo phân công mọi người canh gác. Hắn chỉ định hai người canh bốn tiếng một. Sao đó đổi phiên với hai người khác. Còn riêng hắn thì được ngủ yên tới sáng không bị đánh thức.

Trước khi đi ngủ, họ nấu cơm với chuối xanh. Khi bữa cơm kết thúc, Antonio José Bolivar rửa sạch hàm răng giả của mình để gói nó vào khăn mùi-xoa. Những người đi cùng nhìn thấy ông lưỡng lự mấy giây. Cuối cùng, trong sự ngạc nhiên của mọi người, ông lại lắp nó lại vào mồm.

Được gác phiên đầu, ông già cầm lấy cái đèn dầu.

Người cùng phiên gác nghi ngờ nhìn ông đang mở sách ra và dùng kính lúp lướt qua những dòng chữ đều đặn.

— Ông biết đọc thật à, ông bạn.

— Tôi biết một tí.

— Ông đang đọc gì?

— Một quyển tiểu thuyết. Thôi ông im đi. Khi ông nói, ông làm rung ngọn lửa, khiến tôi thấy những dòng chữ cũng rung theo.

Người kia tránh ra xa để khỏi làm phiền. Nhưng sự chăm chú của ông già dành cho quyển sách khiến anh ta không thể chịu nổi tình cảnh bị gạt ra ngoài rìa.

— Nó nói về cái gì?

— Về tình yêu.

Nghe thấy câu trả lời, anh ta sán lại gần với vẻ rất quan tâm.

— Ông không đùa chứ? Có tất cả mọi chuyện… với những người đàn bà giầu có ngoan ngoãn, nóng rực vì thèm khát?

Ông gấp quyển sách lại đột ngột làm lung lay ngọn đèn.

— Không. Nó nó về những tình yêu khác. Những tình yêu làm người ta đau khổ.

Anh ta cảm thấy thất vọng, khom lưng và lảng ra xa một lần nữa. Với một vẻ ngạo mạn, anh ta tu một ngụm rượu lớn, châm một điếu xì-gà, và bắt đầu mài con dao rừng của mình.

Anh mài dao lên đá, nhổ nước bọt lên lưỡi thép, mài tiếp, rồi vuốt ngón tay lên lưỡi dao, tán thưởng độ sắc của nó.

Ông già chúi đầu vào quyển sách, không để bị phân tán bởi tiếng động khô khan của đá lên trên lưỡi thép. Ông lẩm nhẩm đánh vần như là đang cầu nguyện.

— Thôi nào. Ông đọc to lên một tí.

— Nói thật sao? Anh cũng thích à?

— Tất nhiên rồi. Một lần tôi đi xem phim ở Loja. Đó là một phim Mexico về tình yêu. Làm thể nào giải thích cho ông được nhỉ, ông bạn? Rằng những cái đó có thể làm tôi khóc được.

— Nếu thế thì để tôi đọc lại từ đầu, như vậy ông mới biết ai là xấu ai là tốt.

Antonio José Bolivar giở lại trang thứ nhất.Vì đọc đi đọc lại nhiều lần, ông đã thuộc lòng.

“Paul trao cho nàng một nụ hôn nồng cháy trong khi người cầm lái đồng loã với bạn mình giả vờ nhìn đi chỗ khác. Chiếc Gondola mà bên trong được lót bằng những tấm gối mềm lướt êm ả trên những kênh đào ở Venise.

— Đừng đọc nhanh quá, ông bạn. — Một tiếng nói cất lên.

Ông già ngước mắt nhìn. Có ba người đang vây quanh ông. Còn xã trưởng nằm xa hơn một chút trên những cái bao tải được xếp chồng lên thành đệm.

— Có những từ mà tôi không hiểu. — Người vừa nói giải thích.

— Ông có hiểu không, ông ấy? — Một người khác hỏi.

Ông già cố gắng giải thích những từ xa lạ bằng cách của mình.

“Gondola”, “cái hôn nồng cháy”, có vẻ như đã rõ ràng hơn sau hai giờ bàn tán chen lẫn những giai thoại lý thú. Nhưng bí mật của thành phố nơi người ta phải dùng thuyền đi lại vẫn ở trong tình trạng không thể giải thích được.

— Có thể thời tiết lúc nào cũng mưa.

— Hay là nước sông vào mùa lũ.

— Dân ở đó còn bị lụt lội hơn chúng ta

— Các ông có thấy không? Người ta nốc một chai Frontera, sau đó cần ra ngoài để đi tiểu, để rồi người ta thấy cái gì? Những con cá như là người láng giềng đang giương mõm nhìn mình.

Mọi người cười rôm rả, hút thuốc, uống rượu. Xã trưởng ngọ nguậy trên giường.

— Để cho các người hiểu! Venise là một thành phố được xây trên một cái phá nước mặn trên bờ biển. Nó thuộc về nước Ý. — Hắn ngáp ở trên giường.

— Thế thì đã sao. Những cái nhà đó sẽ nổi như là những cái bè. — Một người nào đó chêm vào.

— Nếu đúng như thế, tại sao cần có thuyền? Họ chỉ cần dùng nhà để đi lại trên mặt nước. — Một người khác nhận xét.

— Không ngờ các người ngu như thế. Đó là những toà nhà được xây dựng chắc chắn. Có cả nhà thờ, cung điện, pháo đài, cầu cống, đường sá cho dân chúng. Tất cả các nhà đều có móng làm bằng đá tảng. — Xã trưởng tuyên bố.

— Làm sao mà ông biết? Ông đã từng đến đấy? — Ông già hỏi.

— Không. Nhưng ta có đi học. Cũng chính vì thế mà ta mới là xã trưởng.

Những lời giải thích của hắn càng làm cho mọi chuyện phức tạp hơn.

— Cứ cho là tôi hiểu ý ông, ngài xã trưởng, dân ở đó họ có những loại đá có thể nổi trên mặt nước, giống như đá xốp. Nhưng ngay cả trong trường hợp như thế, ngay cả khi người ta dùng đá xốp xây nhà; chúng cũng không thể nổi được. Điều đó tôi chắc chắn. Họ nhất định phải dùng cả ván lót ở dưới.

Xã trưởng ôm hay tay lên đầu.

— Đúng là các người còn ngu hơn cả thiên nhiên. Các người muốn nghĩ thế nào tuỳ các người. Rừng đã làm các người hoàn toàn đần độn. Ngay cả chúa trời cũng chẳng cứu giúp được gì các người. Còn điều này nữa: từ nay về sau,các người dừng gọi ta là ngài xã trưởng nữa. Từ ngày các người nghe lời lão bác sĩ chữa răng, các người chỉ còn có mỗi cái từ ấy trong miệng.

— Thế ông muốn mọi người gọi ông như thế nào? Người ta gọi thẩm phán là ngài, gọi linh mục là cha. Ông cũng vậy, người ta phải đặt cho ông một cái tên. Thưa ông xã trưởng.

Lão béo muốn chêm thêm thêm vài lời, nhưng một dấu hiệu của ông già làm hắn ngừng lại. Mọi người đã hiểu, họ rút súng, tắt đèn chờ đợi.

Từ phía bên ngoài vọng tới một tiếng động khe khẽ của một thân thể di chuyển với sự uyển chuyển thận trọng. Không nghe thấy tiếng chân, nhưng có tiếng thân của con thú chạm nhẹ qua các bụi cây.Tiếng suối dừng lại khi nó lội qua, để rồi tiếp tục rì rầm chẩy to hơn.

Thân con thú chuyển động làm thành một nửa vòng tròn xung quanh ngôi nhà. Xã trưởng lại gần ông già.

— Chính là nó?

— Vâng, con báo cái đã đánh hơi thấy chúng ta.

Lão béo vụt đứng dậy. Mặc dù trời tối, lão cũng tìm thấy cửa ra vào và chĩa súng bắn mò vào rừng.

Mọi người bật đèn. Họ gật đầu ra hiệu với nhau, nhìn xã trưởng nạp đạn vào súng, không một lời bình luận.

— Đấy là lỗi của các người, nếu ta bắn trượt. Các người thức cả đêm để kể những chuyện ngu xuẩn giống như một bọn đồng tính trong khi phải canh gác nghiêm ngặt. — Xã trưởng nói.

— Chúng tôi thấy đúng là ông có học. Ngài xã trưởng. Nếu cứ để cho nó đi vòng quanh đến lúc chúng tôi ước lượng được khoảng cách, con thú sẽ không có khả năng chạy thoát. Chỉ cần thêm hai vòng nữa nó sẽ lọt vào tầm bắn.

— Tất nhiên. các người bao giờ cũng biết hết. Có thể ta đã bắn trúng. — Lão béo phân trần.

— Ông đi ra xem thử, nếu muốn. Nhưng chẳng may ông có bị muỗi đốt, thì đừng rút súng bắn nó. Tiếng động sẽ làm chúng tôi mất ngủ.

Sáng sớm, lợi dụng ánh sáng mờ nhạt của ban mai xuyên qua những tán lá rừng, họ đi thám thính xung quanh nhà. Nước mưa không xoá hết dấu con thú để lại qua những bụi cây bị đè rạp. Người ta không thấy vết máu để lại trên lá và dấu của nó mất hút vào rừng sâu.

Họ trở về nhà và uống cà phê đen.

— Điều tôi không lấy gì làm thích lắm — xã trưởng nói — là con thú này rình mò cách làng El Idilio dưới năm cây số. Con báo cần bao nhiêu thời gian để đi quãng đường đó.

— Nhanh hơn chúng ta. Nó có bốn chân, nên có thể nhẩy qua những vũng lầy và nó không đi ủng. — Ông già trả lời.

Xã trưởng hiểu mình đã mất hết uy tín với những người đi cùng. Thái độ ông già càng ngày càng trở nên châm biếm. Ở lại đây lâu hơn chỉ thêm mang tiếng vô tích sự và nhát gan của hắn. Để rút lui an toàn, hắn tìm một lý do bề ngoài có vẻ hợp lý.

— Hãy nghe tôi, Antonio José Bolivar, chúng ta hãy thoả thuận với nhau. Ông là người có kinh nghiệm đi rừng; Ông biết rừng còn hơn cả chính ông. Chúng tôi ở lại chỉ gây phiền phức cho ông. Ông hãy theo dấu và hạ thủ nó. Nhà nước sẽ trả cho ông năm ngàn đồng. Ông ở lại đây, tuỳ cơ ứng biến. Còn chúng tôi sẽ quay về bảo vệ làng. Năm ngàn đồng. Ông nghĩ thế nào?

Ông già lắng nghe lời đề nghị của xã trưởng, im lặng không tỏ thái độ.

Trong thực tế điều hợp lý duy nhất là tất cả quay về làng El Idilio. Con báo cái sẽ mò xuống làng tiếp tục cuộc săn người. Lúc đó có thể dễ dàng giăng bẫy bắt nó. Nó nhất định sẽ đi tìm những nạn nhân mới. Thật là ngu xuẩn nếu muốn tranh lấy khu vực hoạt động của nó

Lão béo muốn tránh ông. Hắn giống như con thú mà quyền lực bị những câu nói của ông làm tổn thương. Hắn đã tìm cách rút lui lịch sự để khỏi bị ông bám vào lưng.

Ông già không quan tâm về những điều lão béo ròng ròng mồ hôi kia tính toán. Tiền thưởng cũng không làm ông để ý. Ông đang có những mối bận tâm khác trong đầu.

Có điều gì thầm bảo ông con thú kia đang quanh quẩn đâu đây. Có thể ngay giờ phút này, nó đang chăm chú theo dõi họ. Không kể từ ít lâu nay ông luôn tự hỏi mình tại sao những nạn nhân của con báo hoàn toàn làm ông thờ ơ. Có thể cuộc sống của ông với những người Shuars đã khiến ông nhìn cái chết như một sự phán xử của công lý. Một hành động tàn bạo, không thể tránh được. Nợ máu phải trả bằng máu.

Con thú này, tên gringo đã giết con nó, có thể đã giết cả con đực. Nhưng nhìn từ một phía khác, hành động táo bạo của con báo cái dám liều lĩnh đến gần người, như nó đã làm đêm hôm qua, hay đêm hôm trước nữa để giết Placencio và Miranda, khiến người ta nghĩ rằng nó muốn đi tìm cái chết.

Một ý chí không biết từ đâu tới ra lệnh cho ông. Giết con báo là một biểu hiện của tình thương. Ông không thể trốn tránh. Tình thương này không liên quan tới lòng từ bi của một người sẵn sàng tha lỗi cho kẻ khác hay như lúc người ta bố thí. Con báo cái tìm một cơ hội để chết trong một cuộc chiến đấu công khai, trong một cuộc đấu tay đôi mà từ xã trưởng đến những người khác không ai hiểu nổi.

— Ông nghĩ thế nào? — Xã trưởng nhắc lại.

— Thế cũng được. Nhưng hãy để cho lão thêm xì-gà, diêm, và đạn.

Xã trưởng thở phào nhẹ nhõm, và đưa cho ông tất cả những gì ông yêu cầu.

Mọi người giải quyết nhanh chóng những chi tiết của chuyến đi về. Họ tạm biệt ông già. Antonio José Bolivar cẩn thận đóng chặt cửa ra vào và cửa sổ của ngôi nhà.

Bóng tối đến ngay từ giữa buổi chiều. Ông già quay trở về với việc đọc sách của mình và chờ đợi dưới ánh sáng leo lét của ngọn đèn dầu, giữa tiếng mưa rơi róc rách qua kẽ mái lá.

Ông bắt đầu lại từ trang đầu, phật ý vì không hiểu nổi cốt truyện. Ông lần lượt nhẩm lại những câu văn đã thuộc lòng, nhưng chúng thoát khỏi miệng một cách vô nghĩa. Suy nghĩ của ông tản mát ra tứ phía như để tìm một điểm nào đó làm cho nó có thể tập trung nó lại.

— Có thể vì mình sợ.

Ông tắt đèn và nghĩ đến một câu tục ngữ của người Shuars khuyên người ta vượt lên trên nỗi sợ. Ông nằm duỗi dài trên những đống bao tải, ôm khẩu súng trên ngực, để cho mọi suy nghĩ lắng xuống, giống như những hòn đã cuội được ném xuống nước lúc chúng chạm tới đáy sông.

Sao thế, Antonio José Bolivar, có chuyện gì đã đến với ngươi? Đây không phải là lần đầu tiên ngươi đối mặt với một con thú hoá điên. Có chuyện gì khiến ngươi sốt ruột? Sự chờ đợi? Ngươi muốn nó xuất hiện ngay tức khắc, nó phá cửa nhẩy vào để mọi chuyện sẽ kết thúc nhanh chóng?

Ngươi biết chuyện đấy không thể xẩy ra. Ngươi biết chẳng có con vật nào đủ ngu ngốc đến mức tấn công vào hang của kẻ lạ. Tại sao ngươi có thể chắc chắn rằng chính ngươi sẽ là mồi săn của con vật? Ngươi không nghĩ rằng với tất cả sự thông minh mà nó đã thể hiện, phần nhiều con báo cái sẽ chọn việc tấn công đoàn người. Nó có thể bám theo, giết từng người một trước khi họ kịp về đến làng El Idilio. Ngươi biết con báo có đủ sức làm như thế. Ngươi đáng lẽ phải dặn trước:” Mọi người đừng đi cách nhau quá một mét. Phải luôn cảnh giác. Chọn chỗ nghỉ trên bờ sông nhưng không được ngủ.” Ngươi biết ngay cả như thế, con thú có thể bám theo dễ dàng, có thể vồ họ, cắn cổ một người và trước khi những người khác kịp hoàn hồn, nó có thể trốn đi để chuẩn bị một cú khác tiếp theo. Ngươi nghĩ rằng con báo coi ngươi là đối thủ của mình? Đ ừng có kiêu ngạo, Antonio José Bolivar. Hãy nhớ rằng ngươi không phải là thợ săn và ngươi luôn luôn từ chối nhận một cái tên như thế. Những con thú dữ bám theo những thợ săn thực sự bởi mùi của nỗi sợ và mùi của dục tính phát ra từ họ. Không. Ngươi không phải là một thợ săn. Dân chúng làng El Idilio thường nói tới ngươi như là thợ săn, nhưng ngươi luôn nói đó không phải là sự thực, bởi vì thợ săn giết thú để chiến thắng nỗi lo sợ. Những nỗi lo sợ khiến người ta phát điên và làm thối rữa cả gan ruột họ.

Đã bao nhiêu lần ngươi nhìn thấy những đám người rồ dại này, súng ống đầy người, đi vào rừng để mấy tuần sau ngươi thấy chúng quay lại với những ba-lô chật ních da thú ăn kiến, rái cá, gấu mật ong, mèo rừng, kỳ nhông... nhưng không bao giờ với cái xác của một đối thủ đích thực như con báo cái mà ngươi đang chờ. Ngươi đã nhìn thấy chúng uống say bí tỉ trước đống da để che đi nỗi sợ. Nỗi sợ sinh ra bởi cảm giác bị nhìn thấy, bị đánh hơi thấy, bị khinh bỉ bởi một đối thủ thực sự xứng đáng với cái tên ấy trong rừng sâu.

Sự thật là càng ngày càng ít thợ săn, bởi thú rừng đã di cư về miền đông, vượt qua những rặng núi không thể leo được. Chúng càng ngày càng đi xa, đến mức con trăn nước cuối cùng nhìn thấy là ở trong lãnh thổ Brazil. Mặc dù trước đây ngươi đã từng nhìn thấy và săn trăn nước không xa đây lắm.

Cuộc đi săn đầu tiên của ngươi là một phán quyết của công lý hay là sự trả thù. Ngươi có thể lật đi lật lại sự việc theo đủ mọi hướng, người sẽ không tìm được sự khác nhau. Con rắn đã tấn công bất ngờ đứa trẻ, con một người khai hoang, trong lúc nó đang tắm. Ngươi rất yêu trẻ con. Đứa bé chưa đến tuổi 12, và con trăn nước đã để lại xác chú bé mềm nhũn như một cái túi da đựng nước. Ngươi có nhớ không? Ngươi đã theo dấu nó bằng thuyền độc mộc và ngươi đã tìm được bãi cát chỗ nó sưởi nắng.

Rồi ngươi bày ra những những con hải ly chết để làm mồi và rình. Lúc đó, ngươi còn trẻ và nhanh nhẹn. Ngươi biết rằng sự nhanh nhẹn ấy là lợi thế duy nhất để ngươi không biến thành món ăn của thần sông. Bằng một cú nhẩy phi thường với dao rừng trong tay và một nhát chém ngọt ngươi đã khiến đầu con trăn rơi xuống cát. Trước khi nó có thể vùng lên quấn lấy ngươi, ngươi đã nhảy ra xa trốn dưới bụi cây để tránh những cơn giẫy chết của một cơ thể cuồn cuộn sức lực. Mười một mười hai mét của sự căm thù. Mười một mười hai mét của một bộ da mầu xanh ô liu sẫm, điểm những vòng đen, đang cố gắng tìm cách giết người mặc dù nó đã mất đầu.

Cuộc đi săn thứ hai là để trả ơn cho một ông thầy mo người Shuars đã cứu sống ngươi. Ngươi nhớ không? Ngươi đã làm lại thủ thuật để mồi thịt trên bãi cát và rình ở trên cành cây. Ngươi đã nhìn thấy nó nhô từ dưới sông lên. Lần này, ngươi hoàn toàn không có chút căm giận. Ngươi đã nhìn thấy nó nuốt những con chuột chết. Ngươi đã chuẩn bị mũi tên của mình, quấn đầu nó bằng mạng nhện trước khi tẩm thuốc độc. Ngươi đã nhét tên vào ống phi tiêu, rồi nhắm vào phía gáy của con trăn nước.

Con trăn trúng tên. Nó dựng đứng dậy đến khoảng ba phần tư chiều dài thân thể. Từ chỗ nấp trên cây, ngươi nhìn thấy cặp mắt mầu vàng với đôi đồng tử nằm dọc đang đi tìm ngươi, nhưng nó không kịp có thời gian mổ lại, bởi thuốc độc ngấm rất nhanh.

Sau đó là lễ lột da. Ngươi phải đi tới mười lăm hai mươi bước để dùng dao rừng rạch dọc theo thân nó. Để cho những thớ thịt mầu hồng và máu lạnh ngắt thấm vào cát.

Ngươi có nhớ? Lúc ngươi trao cho họ bộ da, những người Shuars nói ngươi không phải là một người trong bọn da trắng, nhưng ngươi là người ở đây.

Ngay cả những con báo cũng không xa lạ gì với ngươi, chỉ có điều ngươi không bao giờ săn một con báo con, không chỉ riêng với loài báo mà với tất cả mọi loài đều thế. Người ta chỉ săn những con thú đã đến tuổi trưởng thành, như lệ của người Shuars đặt ra.

Ngươi biết những con báo vùng Amazon là những con vật lạ thường, với tính khí khó đoán trước. Chúng không có sức mạnh của những loài báo khác, nhưng lại thông minh tinh tế.

“Khi dấu vết của nó quá dễ tìm, khi người ta tưởng bắt được nó đến nơi, đó chính là lúc con báo đang đứng ở đằng sau, mắt nhìn chăm chú vào gáy kẻ săn mình.” Người Shuars nói vậy, và đó là sự thật.

Có một lần, theo yêu cầu của những người khẩn hoang, ngươi đã chứng kiến sự khôn ngoan của những con mèo đốm đen to lớn này. Một con báo lớn đã tàn sát bò và lừa, khiến họ yêu cầu ngươi giúp đỡ. Cuộc truy lùng thật vất vả. Đầu tiên con báo để cho ngươi bám theo dấu nó, dẫn ngươi đến tận chân núi Condor, một vùng đất bằng phẳng chỉ có cây bụi lúp xúp, rất thuận tiện để nó rình sát mặt đất. Cho đến khi ngươi hiểu ra cái bẫy của nó, định tìm cách quay trở về rừng già, con báo đã hiện ra chặn đường. Nhưng nó không để cho ngươi có đủ thời gian ngắm bắn. Ngươi đã bắn ba lần đều trượt, và cuối cùng ngươi hiểu, con báo muốn làm cho ngươi mệt mỏi trước cuộc tấn công cuối cùng của nó. Nó muốn làm cho ngươi hiểu, nó cũng biết chờ đợi, có thể nó còn biết ngươi không có nhiều đạn.

Đó là một cuộc đấu sòng phẳng. Ngươi có nhớ? Ngươi nằm chờ, không động đậy đến một bắp thịt, chỉ thỉnh thoảng tự tát vào má mình để xua những cơn buồn ngủ. Ba ngày nằm chờ đợi, cho đến lúc con báo cảm thấy đủ tự tin để tấn công. Một thủ thuật tốt, đó là nằm chờ trên mặt đất, súng lên đạn sẵn.

Tại sao lại nhớ lại tất cả những kỷ niệm? Bởi vì con báo cái chiếm hết suy nghĩ của ngươi? Cũng có thể ngươi và nó, cả hai đều giống nhau? Sau bốn lần vồ người, con báo đã đủ hiểu biết về con người cũng như ngươi hiểu về loài báo. Có thể ngươi còn biết ít hơn nó. Người Shuars không săn báo. Thịt chúng không ăn được, còn bộ da của một con đủ để làm những đồ trang sức cho mấy thế hệ. Những người Shuars. Ngươi muốn có một người ở bên cạnh ngươi trong lúc này? Tất nhiên rồi, đó là Nushino, bạn của ngươi.

— Người anh em, có thể tìm dấu nó không?

Nushino sẽ từ chối. Anh sẽ khạc nhổ nhiều lần xuống đất để chứng minh điều mình nói là sự thật. Anh sẽ nói săn báo không làm anh hứng thú. Đấy không phải là việc của anh. Ngươi là một thợ săn của những người da trắng. Ngươi có một khẩu súng, ngươi xâm phạm cái chết bằng cách làm cho nó đau đớn. Người bạn của ngươi, Nushino, sẽ nói rằng con thú duy nhất mà họ giết chỉ để giết là những con cu-li.

— Tại sao thế, người anh em? Những con cu-li, chúng chỉ treo mình ngủ suốt ngày trên cành cây.

Trước khi trả lời, Nushino sẽ hú lên những tiếng chói tai, để chắc chắn không có con cu-li nào nghe được, và kể rằng: Ngày xưa, có một tù trưởng Shuars trở nên độc ác và dã man. Hắn giết những người đồng loại không lý do, vì thế các già làng quyết định buộc hắn tội chết. Khi hắn biết bị đe doạ, Tnaupi, tên tù trưởng đó, đã biến thành cu-li để trốn. Những con cu-li này, cũng như loài khỉ, đều trông giống nhau. Người ta không thể biết con cu-li nào là hoá thân của tên tù trưởng có tội

— Chuyện đã xẩy ra như vậy. — Nushino kết luận, và nhổ xuống đất một lần cuối trước khi bỏ đi, bởi vì người Shuars bao giờ cũng bỏ đi khi kể hết một câu chuyện để tránh những câu hỏi có thể gây ra những suy luận dối trá.

Từ đâu đến với ngươi tất cả những suy nghĩ đó? Thế nào, Antonio José Bolivar? Thế nào, ông già? Dưới gốc cây nào những suy nghĩ miên man đang rình ngươi? Có phải sự sợ hãi đã tìm thấy ngươi? Có phải ngươi chẳng có cách che giấu chúng? Nếu đúng như thế, đôi mắt của sự sợ hãi có thể nhìn thấy ngươi, giống như ngươi nhìn thấy những tia sáng của bình minh chiếu vào nhà qua những kẽ liếp.

Ông uống mấy bình cà-phê đen, rồi bắt đầu công việc chuẩn bị. Ông nấu chẩy nến ra, nhúng những các-tút đạn vào đó. Phơi khô chúng, cho đến khi chỉ còn một lớp sáp mỏng bám lên trên. Bằng cách đó, ngay cả khi chúng rơi vào nước, những viên đạn vẫn sẽ khô ráo.

Phần còn lại của sáp nến, ông bôi nó lên trán, đặc biệt là trên lông mày giống như để tạo ra một cái kính ngắm trên mắt. Như vậy, nếu ông phải đối mặt với con thú trong một bụi cây, cái nhìn của ông sẽ được bảo vệ không bị nhoà bởi nước mưa.

Cuối cùng, sau khi kiểm tra độ sắc của lưỡi dao. Ông đi vào rừng tìm dấu con báo.

Đầu tiên ông đi thẳng về phía đông theo một đường bán kính dài khoảng 200 bước bắt đầu từ nhà, theo những dấu vết con báo để lại đêm hôm trước.

Đến cuối đường bán kính, ông bắt đầu đi theo một hình vòng cung, về hướng tây nam.

Ông phát hiện thấy những bụi cây bị đè rạp, cành cây bị vùi xuống bùn. Chính ở đây, con thú đã ẩn mình, trước khi lần xuống ngôi nhà. Những bụi cây bị xéo nát lặp đi lặp lại ở những khoảng cách đều đặn, rồi cuối cùng mất hút trên một sườn núi.

Ông bỏ qua những dấu vết cũ này, tiếp tục tìm kiếm.

Dưới những tầu lá lớn của một bụi chuối rừng, ông nhìn thấy những dấu chân còn mới của con thú. Dấu chân to, gần bằng một nắm tay của một người lớn. Bên cạnh những vết chân, ông tìm thấy những chi tiết nói lên thói quen của nó.

Con báo cái không săn mồi. Những cành cây bị gẫy xung quanh những vết chân, hoàn toàn ngược lại với cách săn mồi của bất cứ loài thú ăn thịt nào. Con báo cái đã vẫy đuôi cuồng nhiệt đến mức không thận trọng, bị kích thích khi đến gần những nạn nhân của nó. Không, nó không săn mồi. Nó di chuyển với niềm tin chắc chắn rằng những con mồi của nó là một loài sinh vật hạ đẳng.

Ông tưởng tượng nó đang ở chính chỗ này, gầy rộc đi, thở hổn hển, bồn chồn, mắt nhìn chằm chặp, một cái nhìn sững sờ, với tất cả các bắp thịt căng lên, sẵn sàng. Nó đang vẫy đuôi thèm thuồng..

— Tốt rồi, cô nàng, bây giờ ta đã biết ngươi đi lại như thế nào. Bây giờ chỉ còn phải biết ngươi ở đâu.

Ông nói với rừng, và chỉ có trời mưa đáp lại. Nới rộng hơn bán kính tìm kiếm, ông đi xa nhà hơn tới một chỗ một mô đất, chỗ đó giúp ông, mặc dù trời mưa, có một cái nhìn bao quát tất cả không gian ông đã đi qua. Phía trên đỉnh, cây cối mọc dầy, thấp lúp xúp, ngược lại với những vùng có cây cao có thể giúp ông tránh được một cuộc tấn công sát mặt đất. Ông quyết định bỏ lại điểm cao, đi thẳng về phía tây, hướng về dòng sông Yacuambi chẩy gần đâu đó.

Trước buổi trưa một chút, trời ngừng mưa, và điều đó làm ông lo ngại. Trời phải tiếp tục mưa, nếu không hơi nước sẽ bắt đầu bốc hơi, và rừng sẽ biến đi trong một đám sương mù dầy đặc. Sương mù sẽ ngăn cản hơi thở, cũng như người ta không thể nhìn xa quá một bước chân.

Bất ngờ, ánh nắng như hàng triệu mũi kim bạc xuyên thủng tán cây rừng làm sáng rõ hẳn lên những điểm chúng chiếu xuống. Ông đang đứng dưới một khoảng trời quang mây, lọt mình vào lưới những tia nắng mặt trời đang dội xuống những cành lá ẩm ướt.

Lầu bầu dụi mắt, bị hoa lên bởi trăm ngàn ánh cầu vồng, ông vội vàng tránh xa khoảnh rừng, trước khi hơi nước kịp bốc lên thành sương mù đáng sợ.

Chính lúc đó, ông nhìn thấy con báo. Bị đánh động bởi tiếng nước đổ bất ngờ, ông quay đầu lại và nhìn thấy nó đang đi về phía nam, cách ông khoảng năm chục mét.

Con báo cái di chuyển chậm chạp, nó nhe răng, đuôi cụp vào sườn. Ông nhẩm tính có lẽ nó dài đến hai mét tính từ đầu đến đuôi. Nếu đứng thẳng trên hai chân sau, nó sẽ vượt quá chiều cao của một con chó béc-giê.

Con thú biến mất sau một cây nhỏ, rồi lại hiện ra ngay tức khắc. Lần này nó đi về hướng bắc.

— Ta biết cái trò này. Nếu ngươi muốn giải quyết mọi vấn đề ở đây, ta sẽ ở lại. Trong đám sương mù, ngươi cũng thế, ngươi sẽ chẳng nhìn thấy được gì. — Ông già kêu lên, chuẩn bị tinh thần, lưng tì vào một gốc cây.

Trời ngừng mưa, khiến muỗi rừng xuất hiện ngay tức khắc. Chúng tấn công vào môi, mí mắt, hay bất cứ một khoảng da nhạy cảm hở ra ngoài. Bé tí xíu, chúng chui vào lỗ mũi, lỗ tai, lẩn vào trong tóc. Ông vội vàng nhét một điếu xì-gà vào mồm, nhai nát nó ra, rồi cầm miếng bã ngấm đầy nước bọt, bôi nó lên trên mặt và hai cánh tay.

May mắn là trời nắng không lâu thì mưa quay trở lại, nặng hạt hơn, đem lại sự bình yên. Người ta chỉ còn nghe thấy tiếng mưa rơi xuyên qua các tán cây.

Con báo xuất hiện nhiều lần, luôn di chuyển theo hướng bắc-nam. Ông già tiếp tục quan sát nó. Ông theo dõi hướng di chuyển của con thú để phát hiện ra cái điểm mà tại đó ở trong bụi cây nó quay ngoắt lại về hướng bắc, để ông khiêu khích nó lần nữa.

Ta ở đây. Chính ta đây, Antonio José Bolivar. Sự kiên nhẫn, ta có đủ để bán lại cho ngươi. Ngươi là một con thú đáng kinh ngạc, không nghi ngờ gì nữa. Nhưng ta tự hỏi, thái độ của ngươi là một sự thông minh hay tuyệt vọng. Tại sao ngươi không đi vòng quanh ta? Tại sao ngươi không tấn công ta? Tại sao ngươi không đi về phía đông để bắt ta phải bám theo ngươi? Ngươi đi từ bắc xuống nam, rồi quay lại qua phía tây, và ngươi luôn trở lại đúng đường cũ? Ngươi muốn chặn đường ta ra sông. Đó chính là kế hoạch của ngươi. Ngươi muốn nhìn thấy ta bỏ trốn vào rừng để ngươi đuổi theo. Ta không ngu đâu, cô bạn gái của ta, và ngươi, ngươi cũng không thông minh như ta nghĩ.

Ông quan sát nó đi lại, và nhiều lần định bắn. Nhưng ông dừng lại. Phát súng phải chắc ăn và quyết định. Nếu ông chỉ làm nó bị thương, con báo cái sẽ không để cho ông có thời gian nạp đạn lại. Khẩu súng hai nòng của ông, do kim hoả bị hỏng, chỉ có thể bắn hai phát đồng thời cùng một lúc.

Thời gian trôi đi, ánh mặt trời yếu dần. Ông hiểu trò chơi của con báo không phải là đuổi ông về phía đông. Nó muốn giữ ông ở đây, chính chỗ này, nó đang chờ trời tối để tấn công.

Ông lão nhẩm tính trời còn sáng được khoảng một tiếng, ông phải tận dụng thời gian, để đi ra phía bờ sông tìm một địa điểm an toàn.

Ông chờ lúc con báo đi đến điểm tận cùng phía nam và sẽ phải quay đầu lại, thì ông bắt đầu chạy ra phía bờ sông.

Ông đi tới một khoảng rừng đã từng được vỡ hoang, và điều đó cho phép ông có thể chạy nhanh hơn. Ông đi xuyên qua nó, ôm chặt khẩu súng trên ngực. Với một chút may mắn, ông sẽ kịp đến bờ sông trước khi con báo phát hiện ra cuộc chạy trốn. Ông biết, ông ở không xa lắm một cái trại bỏ hoang của những người đãi vàng. Ở đó ông có thể tìm chỗ trú ẩn.

Ông vui mừng khi nghe thấy tiếng nước sông đang mùa lũ. Sông đã gần bên cạnh. Ông chỉ cần tụt xuống cái dốc phủ đầy dương xỉ, cỡ độ 15 mét nữa là tới bờ sông. Chính lúc đó con báo tấn công ông.

Con báo cái, khi phát hiện ra cuộc chạy trốn, đã đuổi theo nhanh và im lặng đến nỗi nó đã chạy song song đến ngang tầm ông, mà không bị ông phát hiện.

Ông nhận phải cú sốc của chân trước con báo, lăn tròn xuống dốc. Buồn nôn, ông đứng dậy, giơ cao con dao rừng bằng cả hai tay, chờ cuộc chiến cuối cùng.

Phía trên dốc, con báo cái rối rít vẫy đuôi. Tai nó dựng lên, rung rung, đón nhận tất cả những tiếng động của rừng. Nhưng nó không tấn công ông.

Ngạc nhiên, ông già khẽ khàng cử động để tìm lại khẩu súng bị văng ra.

— Tại sao ngươi không tấn công ta? Ngươi làm cái trò gì?

Ông lên đạn, kéo kim hoả và nhắm vào nó. Ở khoảng cách này, ông không thể bắn trượt.

Trên cao, con thú không rời mắt khỏi ông. Bất ngờ, nó rên lên một tiếng buồn bã, mệt mỏi, rồi đứng dậy trên hai chân sau.

Tiếng trả lời yếu ớt của con đực vọng tới, rất gần. Ông già chẳng khó khăn gì không nhìn thấy nó.

Bé hơn con cái, con báo đực nằm dài dưới một gốc cây khô. Nó gầy xọp, da dính vào xương. Một bên đùi gần như bị rứt đứt bởi một viên đạn. Nó thở mệt nhọc, người ta thấy rõ cơn hấp hối của nó rất đau đớn.

— Người muốn thế à? Muốn ta thương hại kết liễu đời nó?— Ông già hét lên. Con báo cái biến mất sau bụi cây.

Ông lại gần con báo đực bị thương và vuốt ve đầu nó. Con thú nặng nhọc mở một bên mắt. Xem xét kỹ hơn vết thương, ông già thấy kiến rừng đã bắt đầu ăn nó.

Ông dí nòng súng vào ngực con vật.

— Xin lỗi mày, ông bạn. Thằng Mỹ thối tha kia đã làm hỏng cuộc sống của chúng ta. — Ông bóp cò.

Ông không nhìn thấy con báo cái, nhưng ông đoán được, ở trên kia, nó trốn sau bụi cây, người rung lên bởi những giọt nước mắt như một con người.

Khi ông tới cái trại bỏ hoang của những người đãi vàng, trời đã tối hẳn. Mưa gió đã làm trôi đi tất cả những lán trại được làm bằng tre. Ông đảo mắt nhìn xung quanh và vui mừng nhìn thấy một cái thuyền độc mộc cũ nằm úp trên bãi sông.

Ông cũng tìm thấy một cái túi đựng những lát chuối khô. Nhét đầy chúng vào túi, ông luồn vào dưới bụng cái thuyền, thở phào nhẹ nhõm và nằm ngửa ra.

— Ngươi đã gặp may mắn, Antonio José Bolivar. Ngươi có thể bị gẫy xương khi ngã xuống. Đúng thế, một may mắn thực sự, nhờ vào những bụi dương xỉ như là cái đệm ấy.

Ông kê súng và dao kề bên tay. Bụng của thuyền độc mộc khá cao, khiến ông có thể ngồi xổm dậy nếu muốn di chuyển tới lui. Chiếc thuyền này dài chín mét, trên mạn thuyền đầy những vết cào xước bởi những tảng đã sắc nơi các ghềnh nó đã đi qua.

Sắp đặt xong xuôi, ông ăn một nắm chuối khô, ngon lành hút một điếu xì-gà. Rất mệt mỏi, ông ngủ thiếp đi nhanh chóng.

Ông mơ một giấc mơ kỳ lạ. Ông thấy người mình được sơn những mầu sắc sặc sỡ của con trăn, và đang ngồi bên bờ sông để hưởng thụ những đê mê của rượu natema.

Trước mặt ông có cái gì đang chuyển động trong không khí, trong cây cỏ, trên mặt nước, ở sâu dưới đáy nước. Một con vật gì đó mang tất cả các hình dạng, cùng một lúc vừa hiện ra vừa bị nuốt mất bởi những hình dạng ấy. Chúng thay đổi liên tục không để thời gian cho đôi mắt lờ đờ, mơ màng của ông kịp nhận biết. Chúng xuất hiện với hình dạng của con vẹt, sau đó chuyển thành con cá trê mồm rộng ngoác đang nhảy lên ăn mất mặt trăng, rồi chúng rơi xuống nước mạnh mẽ như một con trăn đang quấn chặt người ông. Chúng không có một hình dạng nhất định, rõ ràng. Nhưng dù với hình dạng nào, chúng luôn luôn có đôi mắt mầu vàng lóng lánh.

— Đấy là cái chết của chính ngươi đang đóng giả để bắt ngươi. Chúng làm thế, bởi vì giờ ra đi của ngươi chưa đến. Hãy đuổi chúng đi.

Ông thầy mo người Shuars vừa ra lệnh vừa xoa bóp thân thể ông với tro lạnh.

Những hình khối với đôi mắt vàng di chuyển khắp nơi. Chúng rời xa, bị nuốt mất bởi chân trời xanh lá cây, tan ra gần phía đường chân trời. Những bầy chim bắt đầu bay lượn và hót những lời ngợi ca hạnh phúc và bình yên.

Thế rồi chúng xuất hiện lại trong những đám mây đen đang hung hãn tràn xuống. Một trận mưa đổ xuống những đôi mắt mầu vàng, treo chúng lên cành cây, làm sáng cả khu rừng với một ánh sáng mầu vàng ma quái. Chúng lôi ông một lần nữa vào nỗi hoảng loạn của cơn sốt và sự sự hãi.

Ông muốn kêu lên, nhưng nỗi sợ như một loài gặm nhấm cắn đứt lưỡi ông. Ông muốn ăn, nhưng những con rắn mỏng manh đang bay trên trời, quấn mình trói chân tay ông lại. Ông muốn quay trở lại túp lều của mình, lấy lại chỗ của mình trong tấm ảnh ông ở cạnh Dolores. Ông muốn rời bỏ cái mảnh đất tàn bạo này, nhưng những con mắt mầu vàng chặn đường ông. Chúng ở khắp mọi nơi, xuất hiện cùng một lúc. Ngay cả giờ phút này, ông cảm thấy chúng đang ở ngay phía trên thuyền độc mộc. Chiếc thuyền chuyển động, lắc lư, dưới sức nặng của một cơ thể đang đi lại trên mặt gỗ.

Ông nín thở để hiểu xem chuyện gì xẩy ra.

Không phải. Ông không còn ở trong thế giới của giấc mơ. Con báo cái đang ngồi trên đầu ông. Nó đang đi đi lại lại, dùng những cái vuốt bám chặt vào mặt gỗ của đáy thuyền vốn trơn nhẵn vì bị nước cọ xát. Nó đi từ cuối thuyền ra đầu thuyền. Người ta có thể nghe thấy rất gần, tiếng thở hổn hển bồn chồn của nó.

Tiếng nước sông, tiếng trời mưa, tiếng động của con báo là tất cả những gì nối ông với thế giới bên ngoài. Thái độ của con thú bắt ông phải tính toán thật nhanh. Con báo thừa đủ thông minh để hiểu. Ông không chấp nhận sự thách thức giao đấu trong bóng đêm.

Nó muốn làm trò gì? Có thể những người Shuars có lý, khi họ nói tới mùi con thú.

— Mèo rừng có thể đánh hơi thấy mùi thần chết trong khi con người mang nó trên thân thể mà không biết.

Một vài giọt, rồi sau đó một dòng nước hôi hám trộn lẫn với nước mưa, xuyên qua những khe gỗ hở lọt vào trong thuyền.

Ông hiểu con báo cái đã bị điên. Nó đang đái ở trên để đánh dấu con con mồi của mình. Nó coi ông đã chết trước khi giáp chiến với ông.

Thời gian dài nặng nề trôi qua, cho đến lúc một ánh sáng rụt rè mạo hiểm chiếu vào lòng thuyền.

Ông nằm duỗi thẳng ở dưới, kiểm tra xem súng có nạp đạn sẵn sàng. Con báo cái ở phía trên vẫn đi lại không mệt mỏi, với những bước chân càng ngày càng ngắn và sốt ruột.

Dựa theo ánh sáng, ông đoán có lẽ trời khoảng giữa trưa, khi ông cảm thấy con báo bước xuống đất. Ông nghe ngóng tiếp những hành động mới của nó, cho đến lúc tiếng động báo cho ông biết, con báo đang đào cái hố dưới lớp đá, được dùng làm nền để úp thuyền.

Trườn bằng lưng, ông lùi lại tới điểm tận cùng của khoang thuyền, kịp thời gian để tránh những cái vuốt xuất hiện, thò vào sờ soạng. Ông ngửng đầu lên, tỳ súng vào ngực, bóp cò.

Ông kịp nhìn thấy máu bắn ra từ bàn chân con thú, cùng lúc một cảm giác đau nhói ở chân phải làm ông hiểu đã không dự tính đúng được khoảng cách giữa hai chân. Những mảnh đạn gém bật lại cắm vào chân ông.

Bất phân thắng bại. Cả hai cùng bị thương. Ông nghe thấy tiếng con báo đi ra xa. Bằng con dao rừng, ông nhấc cái thuyền lên một chút đủ để nhìn thấy nó. Cách đó khoảng 100 mét, nó đang liếm cái chân bị thương.

Ông lên đạn, rồi đột ngột lật ngược cái thuyền độc mộc lên. Khi ông đứng dậy, vết thương ở chân làm ông đau ghê gớm. Con báo, ngạc nhiên, nằm dài lên trên tảng đá. Nó đang nhẩm tính khoảng cách từ nó đến con mồi.

— Tao đây. Hãy kết thúc trò chơi đáng nguyền rủa này.

Ông nghe thấy mình hét lên bằng một giọng nói mà ông không nhận ra được. Cũng không biết ông nói tiếng Tây-ban-nha hay tiếng Shuars. Rồi ông nhìn thấy con báo phi vun vút trên bãi sông trông giống như một mũi tên có đốm, mặc dù một chân nó đã bị thương.

Ông ngồi xổm xuống. Con thú khi đến gần ông khoảng năm mét, liền nhảy một cú dài, nanh và vuốt nhe ra.

Một sức mạnh vô hình bắt ông chờ đến khi con báo đạt đến độ cao nhất của cú nhảy mới bóp cò. Con thú dừng lại trên không, thân nó vẹo đi, rồi rơi xuống nặng nề, ngực vỡ toang bởi hai viên đạn.

Antonio José Bolivar chậm chạp đứng dậy. Ông tiến lại gần con báo chết, xúc động khi nhìn thấy thân nó bị xé nát. Ngực của con vật chỉ còn là một vết thương khổng lồ, những mảnh ruột và phổi phòi ra phía sau lưng.

Nó còn lớn hơn là ông dự đoán khi nhìn thấy nó lần đầu tiên. Mặc dù gầy đi, đó vẫn là một con thú tuyệt vời. Một cái đẹp, một kiệt tác không thể làm lại được, ngay cả trong tưởng tượng.

Ông già vuốt ve nó, quên hẳn đi cơn đau ở cái chân bị thương. Ông khóc vì xấu hổ, cảm thấy mình xấu xa, hèn hạ. Dù sao đi nữa, ông không phải là kẻ chiến thắng trong trận đấu này.

Mắt nhoà đi vì nước mắt và nước mưa, ông đẩy xác con báo ra bờ sông. Dòng sông sẽ mang nó vào trong rừng sâu, tới những nơi chưa từng bị ô uế bởi người da trắng, tới những hợp lưu của rừng Amazon, tới những cái ghềnh nước chẩy xiết. Ở đó những tảng đá sắc như dao, sẽ làm nhiệm vụ xé tan nó ra, để nó vĩnh viễn nằm ngoài tầm tay của những kẻ tệ hại khốn khổ.

Ông tức giận vứt khẩu súng xuống sông, và nhìn nó chìm xuống đáy không một chút vinh quang. Con thú bằng sắt tệ hại đáng phỉ nhổ nhất trong tất cả những gì thế giới đã làm ra.

Antonio José Bolivar gỡ hàm răng giả, gói nó vào khăn mùi-xoa. Ông không ngừng nguyền rủa thằng Mỹ, kẻ gây ra cái bi kịch này, rồi nguyền rủa xã trưởng, những người tìm vàng, tất cả những kẻ đang làm nhơ bẩn sự trong trắng của rừng Amazon. Ông chặt một cành cây to làm gậy, và chống gậy đi về phía làng El Idilio, về căn nhà của mình, về với những cuốn tiểu thuyết. Những cuốn tiểu thuyết nói về tình yêu với những từ ngữ tuyệt đẹp, để đôi khi ông có thể quên đi sự dã man của con người.

 

[hết]

 

 

--------------
Dịch theo bản tiếng Pháp, Le vieux qui lisait des romans d'amour, của François Maspéro (Paris: Editions Métailié, 2004).
 

 

 

Đã đăng:

... Ngồi yên, đồ chó. Hạ hai cái cẳng trước xuống! Đúng là nó đau, nhưng lỗi của ai, hử? Của thằng này? Không, đó là lỗi của nhà nước. Hãy nhồi điều đó vào đầu, do nhà nước. Đấy là tội lỗi của nhà nước khi chú mày có những cái răng thối và nó làm chú mày đau. Lỗi của nhà nước... [Bản dịch của Nam Giang] (...)
 
... Một buổi tối sau khi thoả cuộc mây mưa với Joselina, một cô gái quê ở tỉnh Esmeraldas, người có một nước da nhẵn và khô như mặt trống, ông nhìn thấy một chồng sách xếp gọn gàng trên nóc tủ đầu giường. — Em cũng thích đọc sách à? — Ông hỏi. — Vâng, nhưng em đọc chậm lắm. — Em thích những loại sách nào? — Những tiểu thuyết tình yêu. — Cô gái trả lời... [Bản dịch của Nam Giang] (...)
 
... Cô không có bầu. Hàng tháng kinh nguyệt đến đều đặn một cách ghê gớm. Mỗi lần tới tháng càng làm tăng thêm sự cô lập của cô. — Con bé này đẻ ra đã vô sinh. — Các bà già nói với nhau. — Tôi đã nhìn thấy kinh của nó từ lần đầu tiên. Nó chứa đầy những con nòng nọc chết. — Một bà già khẳng định. — Con bé này đã chết từ trong ruột. Thứ đàn bà như nó thì dùng làm được việc gì? — Mấy bà già tiếp tục... [Bản dịch của Nam Giang] (...)
 
... Ông tiếp tục chăm chú nhìn theo bàn tay cha cố. Bàn tay béo mập, trắng nõn, đặt ở trên bìa quyển sách mầu đen. — Các quyển sách khác kể những gì? — Ta vừa nói với con, đủ thứ chuyện: thám hiểm, khoa học, cuộc đời của những thánh nhân, kỹ thuật, tình yêu... — Cái điều cuối cùng làm ông chú ý. Tình yêu... [Bản dịch của Nam Giang] (...)
 
... Antonio José Bolivar ngủ ít, không bao giờ quá 5 tiếng một đêm và 2 tiếng ngủ trưa. Thời gian còn lại, ông dùng để đọc sách, để mơ màng theo những bí ẩn của tình yêu và tưởng tượng đến những nơi mà câu chuyện đã xẩy ra... [Bản dịch của Nam Giang] (...)
 
... Một cái hôn nồng cháy. Một cái hôn. Giờ đây ông mới phát hiện ra, ông không hôn bao nhiêu và duy nhất chỉ hôn vợ mình, bởi vì người Shuars không biết hôn. Họ, cả đàn ông và đàn bà chỉ vuốt ve khắp thân thể nhau và không hề quan tâm tới sự có mặt của một người thứ ba. Ngay cả khi làm tình với nhau, họ cũng không hôn. Phụ nữ thích ngồi lên trên người đàn ông... [Bản dịch của Nam Giang] (...)
 
... Antonio José Bolivar ngồi khoanh chân tựa lưng vào gốc cây. Thỉnh thoảng ông lại vuốt ve vào lưỡi dao rừng của mình và chăm chú theo dõi từng tiếng động. Có những tiếng động lặp đi lặp lại đều đặn, tiếng của một khối khổng lồ đập vào nước làm cho ông biết rằng họ đang ở gần một nhánh sông hay một dòng suối đang trong cơn lũ... [Bản dịch của Nam Giang] (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018