thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Lá thư | Những lá thư
 
Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn,
riêng tặng em tôi, Hoàng Ngọc Trâm,
người đang chiến đấu với bệnh ung thư
bằng một niềm yêu đời và lạc quan hiếm có.

 

 

EDUARDO GALEANO

(1940~)

 

Eduardo Galeano (1940~) nhà văn Uruguay, là một trong vài cây bút Mỹ La-tinh nổi tiếng nhất trong thế giới văn chương đương đại. Ông còn là nhà phê bình, sử gia và ký giả. Những tác phẩm đặc sắc của ông, như Memoria del fuego [1982-1986, Ký ức của lửa] Las venas abiertas de América Latina [1971, Những mạch máu mở của Mỹ La-tinh], đã được dịch ra hơn 20 ngoại ngữ. Nhiều tác phẩm của Galeano hầu như vượt khỏi lối phân định thể loại văn học thông thường, vì đó là một kết hợp của ký sự, hư cấu, bình luận chính trị, tài liệu báo chí và lịch sử.
 
14 tuổi, Galeano bán bức biếm hoạ chính trị đầu tay cho tuần báo El Sol. 16 tuổi, ông xuất bản bài tiểu luận đầu tay, rồi bỏ học, và bắt đầu làm nhiều việc khác nhau để mưu sinh. 20 tuổi, ông trở thành ký giả, rồi làm tổng biên tập cho tờ Marcha , một tuần báo gây ảnh hưởng lớn về văn hoá và chính trị, với sự cộng tác của những tên tuổi quan trọng như Mario Vargas Llosa, Mario Benedetti, Manuel Maldonado Denis và Roberto Fernández Retamar. Rồi ông biên tập cho nhật báo Épocha và làm tổng biên tập của University Press (1965-1973). Cuốn Las venas abiertas de América Latina [1971, Những mạch máu mở của Mỹ La-tinh] làm Galeano trở thành một trong những tác giả được đọc nhiều nhất ở Mỹ La-tinh. Sau vụ đảo chính năm 1973, ông bị bỏ tù và trục xuất khỏi Uruguay. Sang Argentina, ông thành lập và làm tổng biên tập tạp chí văn hoá Crisis.
 
Năm 1975, Galeano đoạt giải Casa de las Américas cho cuốn tiểu thuyết La cancion de nosotros [1975, Bài hát của chúng ta]. Sau vụ đảo chính ở Argentina năm 1976, tên tuổi ông nằm trong danh sách những người bị tử hình, nên ông chạy sang Tây-ban-nha, sống ẩn dật trên vùng bờ biển Catalan và khởi sự viết Memoria del fuego [1982-1986, Ký ức của lửa], một kiệt tác gồm ba tập (1. Los nacimientos [Khai sinh]; 2. Las caras y las máscaras [Những chân dung và mặt nạ]; 3. El siglo del viento [Thế kỷ của gió]) được giới phê bình so sánh với những kiệt tác của John Dos Passos và Gabriel García Márquez. Năm 1978, ông lại một lần nữa đoạt giải Casa de las Américas cho cuốn tự truyện Días y noches de amor y de guerra [1978, Ngày và đêm của tình yêu và chiến tranh].
 
Galeano trở về quê hương Montevideo vào đầu năm 1985, và tiếp tục sáng tác và xuất bản liên tục rất nhiều cho đến hôm nay. Ngoài hai giải thưởng Casa de las Américas (1975, 1978), ông còn được trao các giải thưởng quan trọng khác như: American Book Award (1989), và Cultural Freedom Award (1999, Lannan Foundation).
 

________________________

 

LÁ THƯ

 

Enrique Buenaventura[*] đang uống rượu rum trong một quán ở Cali thì có một chàng lạ mặt bước đến bàn của ông. Chàng ấy tự giới thiệu là một anh thợ nề, ngỏ lời xin lỗi về sự khiếm nhã và đường đột của mình, rồi nói:

“Tôi cần ông viết giùm cho tôi một lá thư. Một lá thư tình.”

“Tôi ư?”

“Người ta bảo tôi rằng ông làm được điều đó.”

Enrique không phải là người chuyên viết thư tình, nhưng lại rất rộng lượng. Anh thợ nề giải thích rằng anh không phải là người mù chữ:

“Tôi biết viết. Nhưng một lá thư như vậy thì tôi không viết nổi.”

“Thế thì lá thư ấy sẽ gửi cho ai?”

“Cho... nàng.”

“Nhưng anh muốn nói với cô ấy điều gì?”

“Nếu tôi biết, thì tôi đã không nhờ ông.”

Enrique gãi đầu.

Đêm đó, ông bắt tay vào việc.

Hôm sau, anh thợ nề đọc lá thư.

“Đây rồi,” anh thốt lên, với đôi mắt sáng ngời. “Đúng là đây rồi. Nhưng đến bây giờ thì tôi mới biết đây là điều mà tôi muốn nói.”

 

 

NHỮNG LÁ THƯ

 

Juan Ramón Jiménez[**] mở phong thư lúc đang nằm trên giường bệnh trong viện điều dưỡng ở ngoại ô Madrid.

Ông nhìn lá thư, chiêm ngưỡng tấm ảnh. Nhờ những bài thơ của ông, tôi không còn cô đơn. Tôi vẫn thường nghĩ đến ông!, Georgina Hübner, một nữ độc giả ái mộ ông (mà ông chưa từng quen biết) đã viết thư cho ông từ chốn xa xôi và thú nhận như thế. Trang giấy màu hồng của lá thư đầu tiên ấy toả ra mùi hoa hồng, và tấm ảnh chụp một phụ nữ đang mỉm cười trên chiếc ghế xích đu trong một vườn hoa hồng ở Lima thì thoang thoảng mùi hương của hoa mai khôi.

Nhà thơ viết một lá thư đáp lễ. Sau đó ít lâu, một chuyến tàu thuỷ mang một lá thư khác của Georgina đến Tây-ban-nha. Nàng trách ông đã dùng thứ ngôn từ nghi lễ. Lời xin lỗi của Juan Ramón du hành đến xứ Perú: “Xin tha thứ cho tôi nếu lời văn của tôi quá nghiêm trang, và hãy tin tôi khi tôi đổ lỗi cho kẻ thù của tôi là sự rụt rè cả thẹn.” Lá thư này tiếp nối lá thư khác, chậm rãi du hành qua lại giữa phương bắc và phương nam của trái đất, giữa nhà thơ đang nằm bệnh và nữ độc giả đầy đam mê của ông.

Khi Juan Ramón rời bệnh viện và về nhà ở Andalucía, điều đầu tiên ông làm là gửi cho Georgina một lá thư diễn tả lòng tri ân nồng nhiệt của ông. Và nàng đã trả lời bằng những ngôn từ khiến cho đôi bàn tay ông run rẩy vì xúc động.

Nhưng những lá thư của Georgina là một nỗ lực của một tập thể. Một nhóm bạn bè đã cùng viết chúng từ một quán rượu ở Lima. Tất cả đều được bịa đặt: tấm ảnh, tên người, những lá thư, nét chữ thanh tú. Mỗi khi có hồi âm từ Juan Ramón, bạn bè lại tụ tập, bàn bạc nên trả lời thế nào, rồi hội ý để viết.

Qua thời gian và những lá thư gửi đi gửi về, sự việc dần dần thay đổi. Họ muốn viết một lá thư theo dự định, nhưng rốt cuộc lại thành một lá thư khác, ít tiết chế hơn, vì được gợi hứng, hay có lẽ bị điều khiển bởi đám con gái của họ, những cô gái không suy nghĩ giống các ông bố chút nào và không hề chịu khuất phục.

Thế rồi họ nhận được lá thư của Juan Ramón báo tin chuyến du hành. Nhà thơ sẽ đi đến Lima, để diện kiến người phụ nữ đã mang lại sức khoẻ và niềm vui cho ông.

Một cuộc họp khẩn cấp. Phải làm gì bây giờ? Nên thú nhận sự thật? Nỡ nào mà độc ác đến thế? Họ tranh cãi rất lâu và rất căng, và cuối cùng họ tìm được sự chung quyết.

Hôm sau, viên lãnh sự Perú ở Andalucía đến gõ cửa nhà Juan Ramón trong vườn cây ô-liu miền Moguer. Viên lãnh sự vừa nhận được một điện tín khẩn từ Lima: Georgina Hübner đã chết.

 

_________________________

Chú thích của người dịch:

[*]Enrique Buenaventura (1925-2003) là một nhà thơ, luận giả, diễn viên, kịch tác gia, và đạo diễn nổi tiếng của nước Colombia.

[**]Juan Ramón Jiménez (1881-1958) là nhà thơ Tây-ban-nha, đoạt giải Nobel Văn Chương năm 1956. Ngoài những tập thơ tuyệt vời, ông còn được độc giả trên khắp thế giới yêu mến qua cuốn tiểu thuyết mỏng Platero y yo [1917, Con lừa Platero và tôi].

 

 

---------------------
Dịch từ nguyên tác tiếng Tây-ban-nha: “La carta” và “Las cartas”, trong Eduardo Galeano, Bocas del tiempo (Buenos Aires: Siglo XXI Editores S.A., 2004), 122-124.
 

 

Những tác phẩm của Eduardo Galeano đã đăng trên Tiền Vệ:

Nhà văn và chính trị  (tiểu luận / nhận định) 
... Tôi không nghĩ nhà văn nên có ý đồ chính trị. Tôi nghĩ nhà văn nên thành thật, thành thật trong những gì họ đang làm. Họ không nên bán chính họ. Họ không nên để cho chính họ bị mua. Họ nên tự kính trọng bản thân họ. Họ nên gìn giữ tư cách của họ, như những con người và như những nhà văn chuyên nghiệp. Họ nên nói những gì họ muốn nói. Chữ nghĩa phải trung thực, và chữ nghĩa phải đến từ trái tim, nếu không thì chữ nghĩa chỉ là giả tạo. Khi bạn ban ra mệnh lệnh chính trị, thì đó là một thảm hoạ. Cái gọi là “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” chính là hậu quả. Nó cũng thê thảm như “chủ nghĩa hiện thực tư bản chủ nghĩa” vậy... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Một người ở thị trấn Neguá, trên vùng ven biển Colombia, đã leo được lên trời. Khi trở về, ông mô tả chuyến đi. Ông kể lại rằng từ trên cao ông đã trầm tư về đời sống con người như thế nào . Ông nói chúng ta là một mặt biển đầy những ngọn lửa li ti... | ... Julio sắp bấm được tấm ảnh đẹp nhất của đời mình, nhưng ngón tay của anh từ chối. Julio thử bấm lại, rồi bấm lại, nhưng ngón tay của anh vẫn không cử động. Rồi anh hạ máy xuống, không thể bấm được một tấm ảnh nào, và lặng lẽ ra đi... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Ngọn gió báo trước cho nó những cơn bão và đưa nó vào hải ngạn. Nó không bao giờ đánh mất hay quên nơi sinh của nó; nhưng cả đất và biển đều không thuộc về nó... | ... Cát, bị gió cuốn, không bao giờ nằm yên. Ở chốn mông mênh nóng bỏng ấy, ai cũng có thể lạc đường. Nhưng những con kiến luôn luôn về tổ bằng con đường ngắn nhất... | ... Thời gian đã trôi qua, và cá hồi không còn như chính chúng ngày xưa. Sinh quán của chúng cũng đã đổi thay... Nhưng suốt hàng triệu năm qua, chúng vẫn tin rằng chúng có thể trở về, và những cuộc du hành khứ hồi ấy không phải là một điều dối trá... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Ánh sáng reo lên, không khí nhảy múa. Mỗi con người là một màu sắc đang bước đi. Những thân thể màu đen trải xuống đất những cái bóng màu lá cây và xanh, và cơn gió heo may mang quá nhiều sắc độ đến nỗi cầu vồng phải giấu mặt vì e rằng mình trông ngốc nghếch... | ... Những chiếc lông đỏ của chim vẹt đuôi dài khiến cho trời mưa xuống, những chiếc lông vàng của nó mời gọi những tin lành. Và những chiếc lông xám buồn bã của con đà điểu mang niềm say mê ngây ngất vào khúc hát của con người... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Xem tranh Miró  (truyện / tuỳ bút) 
... Và ông trông thấy. Ông thấy những màu sắc nổ tung, một trái cà chua có ria mép, một cái nĩa đang nhảy múa, một con chim trông như người đàn bà trần truồng, những bầu trời đầy những con mắt, những khuôn mặt đầy những ngôi sao... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Từ những thân cây lăn xuống sườn đồi, chúng ta đã học về những cái bánh xe. Từ những thân cây trôi nổi trên nước, chúng ta đã học về thuyền bè. Từ gió, chúng ta đã học về những cánh buồm. Bằng cách nào chúng ta học những trò ác độc? Từ đâu chúng ta đã học làm nhơ nhớp trái đất và hành hạ con người? ... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Mặt trời | Đêm | Mặt trăng  (truyện / tuỳ bút) 
... Trăng khuyết mang thai quả đất, để cho những thân cây bị đốn ngã có thể tiếp tục sống trong rừng. Trăng tròn khiến những kẻ ngớ ngẩn, những kẻ mộng mơ, những người đàn bà, và mặt biển lên cơn mê sảng. Trăng xanh lá cây giết chết những mùa hoa trái... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Cây hồi tưởng | Hoa hồi tưởng  (truyện / tuỳ bút) 
... Mỗi người đàn bà đưa một chiếc lá kề vào vành tai mình, vò nhè nhẹ. Và mỗi chiếc lá mở một khung cửa vào ký ức của cây: Một người nghe gió thổi vào tai. Một người khác, cành cây đung đưa khe khẽ. Một người khác, tiếng vỗ của những cánh chim trời. Một người khác, trong tai như có mưa rơi... | ... Khi Alessandra chào giã biệt các bạn của nàng ở sân bay và trở về nhà, nàng thấy những cánh hoa trắng muốt xoè ra từ một bông hoa mới nở... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Bởi vì mụ đàn bà này không bao giờ câm mồm, bởi vì mụ luôn luôn phàn nàn, bởi vì không có một chuyện ngớ ngẩn nhỏ nhặt nào mà mụ không xé cho to ra thành vấn đề, bởi vì gã đã quá mệt nhọc làm việc như một con lừa để cung phụng cho mụ và cả bầy họ hàng của mụ, bởi vì gã phải năn nỉ như một thằng ăn mày mỗi khi lên giường với mụ... | ... Ai mà hiểu thấu cho nỗi lòng chàng? Để yêu mà khỏi chết, chàng đã trói nàng và chạy trốn bữa điểm tâm; và bây giờ thoát chết, chàng nhớ nàng da diết... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Những trò chơi của thời gian  (truyện / tuỳ bút) 
Nghe kể rằng một lần nọ có hai người bạn đang ngắm một bức tranh. Hoạ phẩm ấy, ai vẽ thì ai mà biết, đến từ Trung Hoa. Đó là cảnh một cánh đồng hoa trong mùa gặt... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Hắn không thể nhìn một ánh trăng mà không tính toán về khoảng cách. Hắn không thể nhìn một cái cây mà không tính toán về củi đốt. Hắn không thể nhìn một thực đơn mà không tính toán về giá tiền... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Tôi thốt ra những điều tôi không nói. Tôi sống nhưng tôi không hiện hữu. Và tôi lên một chuyến xe lửa để đi đến một nơi tôi sẽ không đến, trong một đất nước đã bị lưu đày ra khỏi chính tôi... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Câu chuyện của kẻ khác  (truyện / tuỳ bút) 
Bạn dọn bữa ăn sáng, như mọi ngày. Như mọi ngày, bạn đưa con đến trường. Như mọi ngày. Thế rồi, bạn trông thấy hắn... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Đêm | Những tiếng gọi  (truyện / tuỳ bút) 
Tôi không ngủ được. Có một người đàn bà nằm chặn giữa hai mí mắt của tôi. Chắc hẳn tôi đã bảo nàng đi ra nếu tôi nói được. Nhưng có một người đàn bà nằm chặn trong cổ họng của tôi... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Những kẻ-không-là-ai-cả  (truyện / tuỳ bút) 
... Những kẻ-không-là-ai-cả: không là con cháu của ai cả, không là sở hữu chủ của cái gì cả. Những kẻ-không-là-ai-cả: những kẻ không nhân thân, những kẻ không tiểu sử, chạy như những con thỏ, chết giữa dòng đời, bị bạc đãi bằng mọi cách... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Hệ thống / 1, 2 & 3  (truyện / tuỳ bút) 
Các nhà chức trách không thi hành chức trách. Các nhà chính trị phát ngôn nhưng không nói bất kỳ điều gì... | Đây là thời của loài kỳ nhông: không ai dạy bảo chúng ta về lòng nhân đạo nhiều bằng những con thú ấy... | Nếu anh không lanh lẹ, anh sẽ chết. Anh bị bắt buộc phải làm một kẻ lừa đảo hay một kẻ bị lừa đảo, một kẻ láo khoét hay nạn nhân của sự láo khoét... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Họ cho nó một vỏ sò: “Với nó, con sẽ học yêu dòng nước.” Họ mở một cái lồng và thả một con chim bay đi: “Với nó, con sẽ học yêu không khí.” Họ cho nó một đoá hoa phong lữ: “Với nó, con sẽ học yêu mặt đất.” ... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Khung cửa sổ mở vào ký ức [I-V]  (truyện / tuỳ bút) 
Ánh sáng của những ngôi sao chết đang du hành, và trong đường bay rực rỡ của chúng, ta thấy chúng còn sống. Cây đàn ghi-ta, vẫn còn nhớ kẻ đồng hành, ngân vang không cần bàn tay khảy. Tiếng hát tiếp tục cuộc du hành, bỏ cái miệng lại phía sau... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Nghệ thuật và hiện thực / 1 & 2  (truyện / tuỳ bút) 
Eraclio Zepeda đóng vai Tướng Pancho Villa trong phim México nổi loạn, do Paul Leduc đạo diễn, và ông diễn quá hay đến nỗi từ đó trở đi, một số người nghĩ rằng Eraclio Zepeda là cái tên mà Tướng Pancho Villa dùng khi ngài làm việc trong những cuốn phim... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Câu chuyện về bảy kỳ tích  (truyện / tuỳ bút) 
Từ cửa sông Amazon đến vịnh Các Thánh, chưa bao giờ có một người đàn bà khó tính như thế và một người đàn ông thần kỳ như thế. Để lấy lòng nàng María, chàng José đã thực hiện bảy kỳ tích... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Câu chuyện về cái bóng  (truyện / tuỳ bút) 
Cái vị đầu tiên hắn còn nhớ là một củ cà-rốt. Cái mùi đầu tiên, một quả chanh cắt đôi. Hắn còn nhớ hắn đã bật khóc khi phát hiện sự xa cách. Và hắn còn nhớ buổi sáng hắn đã phát hiện cái bóng của hắn... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Khung cửa sổ mở vào chữ [I-VIII]  (truyện / tuỳ bút) 
Những người kể chuyện, những người hát chuyện, chỉ kể những câu chuyện của họ trong khi tuyết rơi. Làm như vậy là đúng cách. Thổ dân da đỏ Bắc Mỹ rất cẩn thận về việc kể chuyện. Họ nói rằng trong khi những câu chuyện được kể, cây cối quên mọc và chim quên mớm mồi cho con... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
“Những kẻ thật sự biết chơi đàn acordión có thể làm cho nó nói,” Don Alejo Durán thích phát ngôn như thế. “Đối với họ, người và chiếc đàn là một.” ... | Khi một con dao cắm ngập vào thân thể Papá Montero, đêm Havana đột nhiên câm nín. Nhưng... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Câu chuyện con chim bị mất một chân  (truyện / tuỳ bút) 
... tại sao ngài lại tạo ra con người để con người mài lưỡi dao để lưỡi dao giết con bò để con bò uống nước để nước dập tắt lửa để lửa đốt cái que để cái que đánh con chó để con chó rượt con mèo để con mèo ăn con chuột để con chuột khoét bức tường để bức tường chặn ngọn gió để ngọn gió thổi sương mù để sương mù che mặt trời để mặt trời làm tan tuyết để tuyết làm què chân tôi... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Và Ngài giáng thế. Ngài đến bằng cách đu vào một chiếc ô mở bung ra. Một ngọn gió bất ngờ thổi khiến ngài bay lơ lửng một hồi lâu trên đầu đám người chen chúc. Hai tay níu lấy cán ô, con trai của Chúa Trời không thể ngăn ngọn gió thổi tốc tấm áo chùng làm lộ ra cái khoảng nhục thể phàm trần của ngài... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Những nghịch lý  (truyện / tuỳ bút) 
Nếu sự mâu thuẫn là buồng phổi của lịch sử, thì nghịch lý, theo tôi nghĩ, chắc hẳn phải là tấm gương soi mà lịch sử dùng để trêu chọc chúng ta... Ngay cả con trai của Chúa Trời cũng không thoát khỏi nghịch lý... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Đàn bà? Một nòi thấp hèn như mọi da đen, như lũ người nghèo khổ và bọn điên khùng. Như trẻ nít, họ không thích hợp với sự tự do. Họ mang số phận phải khóc lóc và gào thét, nói xấu hàng xóm láng giềng, và thay đổi ý nghĩ và kiểu tóc xoành xoạch hàng ngày. Trong giường và trong bếp, đôi khi họ cho ta khoái lạc. Ở những nơi khác thì họ chẳng gây nên cảm giác gì ngoài sự lợm giọng... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Định nghĩa Nghệ Thuật  (truyện / tuỳ bút) 
“Tôi chỉ biết mỗi một điều: nghệ thuật là nghệ thuật, nếu không, nó là cứt.” ... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
Nhiệm vụ của người đọc / 1 & 2  (truyện / tuỳ bút) 
... Lucía chưa bao giờ đọc lại cuốn sách ấy. Chị không còn nhận ra nó nữa. Nó đã âm thầm mọc lên quá lớn trong chị, đến nỗi giờ đây nó không còn là cuốn sách, mà trở thành một điều gì khác: giờ đây nó là sức sống của chị... | ... Đại uý Castañón, anh hùng của đạo quân chiến thắng, ngồi chong mắt suốt đêm, chìm đắm vào cuốn sách, đọc đi đọc lại tác phẩm của César Vallejo, nhà thơ của phe bại trận... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 
... Ngay đêm đầu tiên, con thằn lằn nhảy chồm lên, đè vợ nó xuống và ăn thịt nàng. Khi mặt trời lên, trên chiếc giường hợp cẩn chỉ có một kẻ goá vợ nằm ngủ, chung quanh đầy những mảnh xương vụn. Thế rồi con thằn lằn đòi một cô vợ khác, và một đám cưới khác và một cuộc ăn thịt khác lại xảy ra... [Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn] (...)
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018