thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Kiều, tuyệt tác không độc giả

 

Truyện Kiều được xem là một tuyệt tác phẩm của Việt Nam, nhưng ít có người Việt nào đọc nó.

Phát biểu này chắc sẽ làm cho một số người ngạc nhiên, hoặc bất bình, khó chịu; và một số khác, có thể khinh miệt vì sự nông cạn kém hiểu biết của người nói.

Không phải từ một chuyên gia về văn học và thích biện luận, nhưng đó là câu nói bất giác thốt lên từ sự nhận xét những gì thông thường có thể cảm nhận được, không cao siêu hay bí hiểm lắm.

Để làm rõ hơn ý nghĩa câu nói trên, xin nói rằng “đọc” được nêu ra ở đây, là tìm đến tác phẩm, xem hết ba ngàn hai trăm năm mươi bốn câu Kiều, để thưởng thức nó, vì bị nó cuốn hút, nó hấp dẫn, vì giá trị nghệ thuật tự thân của nó. Đọc, như thế không phải vì để có đủ khả năng làm bài luận văn vượt qua các kỳ thi; để có thể giảng dạy vì nhu cầu nghề nghiệp; để chứng tỏ mình cũng là người hiểu biết; hay đọc vì hiếu kỳ, vì bị áp lực bởi sự ca tụng của đám đông.

Đọc, như khi người ta bỏ ăn bỏ ngủ đọc truyện chưởng của Kim Dung, trẻ con say mê đọc Ngàn lẻ một đêm, thanh niên mơ màng khi đọc Liêu trai chí dị ... Nói tóm lại, đọc vì bị tác phẩm ấy chinh phục. Trong ý nghĩa này, Kiều không có độc giả.

Nói không có, là cách nói tương đối. Trên đất nước tám mươi ba triệu dân, nếu có một triệu người đọc, tỉ lệ đó quá thấp, và một khi tỉ lệ thấp quá, có thể xem như không đáng kể. Như trong một lít nước, ta bỏ vào một giọt rượu. Không đáng kể, thì cũng gần như không có.

Con số một triệu là một ví dụ cho gọn gàng, dễ nói, dễ hiểu, thực tế tôi muốn hỏi liệu có được chừng một ngàn người thôi, đọc Kiều, theo tính cách thông thường của việc đọc một tác phẩm văn học, như vốn phải là như vậy, như vừa nói trên, hay không?

Ngày xưa thì chắc chắn là không. Khi Kiều vừa hoàn thành, ít ai đọc Kiều. Điều này rút ra từ những suy luận, căn cứ vào lịch sử, vào trình độ văn minh, bối cảnh xã hội Việt Nam thời điểm đó.

Trình độ kỹ thuật in ấn, xuất bản, phát hành chưa thành hình; hệ thống báo chí truyền thông cũng chưa có để giới thiệu hay lăng xê cho bất kỳ một tác phẩm văn học nào. Các tác giả thời ấy, kể cả những vị cuối thế kỷ 19 như Tú Xương (1780-1907), như Nguyễn Khuyến (1835-1909)... có ai nhìn thấy hình dáng đứa con tinh thần của mình đâu. Kiều không được quảng bá vào thời ấy là điều hiển nhiên.

Kiều lại là tác phẩm để đọc, để ngâm, để nghiền ngẫm; không phải để kể- phương tiện truyền lưu tác phẩm quan trọng của thời xưa- thêm một bất lợi nữa cho Kiều. Về phương diện này, Lục Vân Tiên ở xứ Đàng Trong có nhiều ưu thế hơn, nhờ vậy chàng họ Lục đã theo bước chân các lưu dân đi khắp sông rạch của miền Nam kỳ lục tỉnh, đến tận chót mũi Cà Mau.

Kiều lại ra đời vào lúc chiến tranh loạn lạc gây nhiều đau thương cho dân chúng. Có quá nhiều điều để lo toan hơn là ngồi nghiên cứu thưởng ngoạn cái hay cái đẹp trong cách dùng chữ đặt câu của một tác phẩm mà nội dung không dính líu chi đến mối quan tâm sống còn của họ, khi ấy.

Nội dung của Kiều, lại có nhiều vấn đề nhạy cảm đụng chạm đến đạo lý và quan niệm thẩm mỹ của một vùng đất vốn là một trú quán của Nho giáo với những quan niệm hết sức khắt khe về tam cương ngũ thường. Điều ấy đã được đúc kết trong câu ca dao: “Đàn ông chớ kể Phan Trần, đàn bà chớ kể Thúy Vân,Thúy Kiều.”

Đã ít người đọc, mà nếu có đọc, người ta cũng không đồng nhất với nhau vể giá trị tác phẩm. Do vậy nhiều bài thơ công kích Kiều nay vẫn còn lưu truyền, và trước thế kỷ 20, không có sử liệu cho thấy đánh giá cao của các Nho sĩ thời đó về tác phẩm, tác giả. Những nhà cách mạng như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế... từng phê phán Kiều Có lẽ vì vậy mà sinh thời cụ Nguyễn đã từng than: “Bất tri tam bách dư niên hậu. Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”. Khi hạ bút viết hai câu thơ đó, tiên sinh chắc cũng không ngờ, không tưởng tượng nổi là ba trăm năm sau chẳng những có người khóc, mà là cả dân tộc này khóc cho cụ. Khóc, theo nghĩa là thương tiếc, thương tiếc vì bái phục một thiên tài thi ca vĩ đại nhất lịch sử của đất nước.

Kiều bắt đầu lên ngôi vào những thập niên đầu của thế kỷ 20. Câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn” đánh dấu một bước chuyển mới trong số phận của Kiều. Ông phát biểu: “Một nước không thể không có quốc hoa, Truyện Kiều là quốc hoa của nước ta; một nước không thể không có quốc túy, Truyện Kiều là quốc túy của ta; một nước không thể không có quốc hồn, Truyện Kiều là quốc hồn của ta. Truyện Kiều là cái “văn tự” của giống Việt nam ta đã “trước bạ” với non sông đất nước này” (Bài diễn thuyết bằng quốc văn, tạp chí Nam Phong số 86, tháng 8-1924).

Trong phong trào đấu tranh cháy bỏng chống thực dân để dành độc lập, câu nói của ông như một liều thuốc kích thích tinh thần ái quốc của dân chúng. Muốn nước ta còn, như vậy là phải đọc Kiều. Câu đó như một lời hiệu triệu, và thế là người ta bắt đầu đổ xô đọc Kiều, khen Kiều hết lời. Kiều làm một cuộc phục sinh, rồi phục hưng, lên tuyệt đỉnh vinh quang từ ấy.

Đọc Kiều trước tiên là những chuyên gia về văn học, các nhà giáo, các sinh viên học sinh. Về sau, khi Kiều được đưa vào chương trình giáo khoa và được báo chí liên tục hết sức đề cao, Kiều nghiễm nhiên trở thành tác phẩm độc tôn của Việt Nam. Nó trở thành niềm tự hào dân tộc, là một điển phạm quan trọng nhất, giá trị của nó là điều không còn tranh cãi, không thể tranh cãi. Hay nói đúng hơn, không còn ai dám tranh cãi.

Điều gây thất vọng là mặc dù đã được dân ta nhiệt tình giới thiệu và tôn vinh hết mức như thế, người ngoại quốc vẫn không để ý đến Kiều, không chịu đọc Kiều, như dân ta ước mong hoặc khao khát nó phải thế. Trong văn học thế giới người ta không nhắc đến Nguyễn Du và Kiều như họ nhắc đến Lý Bạch, Tô Đông Pha, hay, Tagore...

Không khó để những người yêu nước và nhất là yêu Kiều trả lời rằng “vì văn hoá họ khác ta, họ không thưởng thức nổi Kiều của chúng ta.” Đành vậy, nhưng niềm tự hào dân tộc của ta cũng bị tổn thương ít nhiều.

Tạm chấp nhận như thế, ta quay về xem lại tình hình trong nước, thời nay. Chỉ một vài đoạn trích ngắn ngủi trong sách giáo khoa, học sinh học đã toát mồ hôi, thế thì không hy vọng họ sẽ đọc hết Kiều. Đọc hết thôi, khoan nói chuyện thưởng thức.

Tôi thử hỏi nhiều người yêu thích và có hiểu biết về văn học, nhất là các giáo viên dạy văn tại trường phổ thông, cao đẳng hay đại học, mà việc đọc Kiều đã là nhiệm vụ bắt buộc, thì nhiều người đỏ mặt thẹn thùng trả lời rằng họ cũng chưa làm chuyện ấy. Họ có đọc lướt thướt một vài đoạn, chánh yếu là đọc sách và bài viết giới thiệu phân tích về Kiều, tham khảo đủ để giảng bài mà thôi.

Đối với những người đã đọc hết Kiều, lại thử hỏi: Tại sao bạn đọc Kiều? Cảm giác bạn ra sao khi đọc tác phẩm ấy? Người đọc thực sự như yêu cầu đọc tác phẩm văn học bình thường như đã nói trên đây lại càng hiếm. Người ta đọc, vì nhiều lý do khác nhau hơn là vì tự thân tác phẩm.

Hoá ra người Việt Nam ca tụng Kiều nhưng không ngưỡng mộ nó nhiều lắm. Như một cô gái được xưng tụng có sắc đẹp như hoa hậu nhưng lại ít có người yêu và không ai chịu cưới cô làm vợ. Đẹp nhưng cô đơn, cũng như số phận nàng Kiều, nhiều mối tình nhưng rốt cuộc vẫn sống một mình.

Trên thế giới, không biết có tác phẩm nào có số phận vinh quang tuyệt đỉnh nhưng lại thiếu bạn tri kỷ tri âm như Kiều không?

Đến đây, tự nhiên một câu hỏi khác lại nổi lên: người Việt không đọc Kiều như đọc các tác phẩm văn học khác, phải chăng vì Kiều không hay? Chắc chắn không phải rồi, Kiều bắt buộc phải hay, nếu không hay nó đã không được xem là tuyệt tác. Thế thì nó hay chỗ nào? Tôi hỏi nhiều người quen biết có am hiểu về văn học.

 

- Kiều hay ở cốt truyện. Đời một người con gái tài sắc vẹn toàn mà bất hạnh, truân chuyên chìm nổi làm xao xuyền lòng người.

+ Thế nhưng đây chỉ là truyện phóng tác của Tàu, tác giả có gia công thêm nhưng như thế thì không phải là điểm thể hiện thiên tài của ông! Hai truyện thuộc vào loại bán chạy nhất của Hồ Biểu Chánh là Ngọn cỏ gió đùaCay đắng mùi đời được ca ngợi ở tài sử dụng phương ngữ Nam bộ và không khí nông thôn miền nam, không ai khen ông ở tài kết cấu hay xây dựng nhân vật. Đơn giản vì đó là truyện ông phóng tác từ tác phẩm của Victor Hugo và Hector Marlot?

 

- Thời nay khác, thời xưa khác, không phải chỉ Kiều mà còn vài tác phẩm lớn khác nữa của chúng ta, như Hoa Tiên, trong đó cụ Nguyễn Huy Tự cũng vay mượn từ Đệ Bát Tài Tử Hoa Tiên Ký của Trung Hoa. Đó là khuynh hướng sáng tác của thời ấy, so sánh sao được!

+ Như vậy, một là các cụ ta nghèo trí tưởng tượng, hay vì tâm lý của thuộc địa, thần phục ngoại bang quá đáng chăng? Trên thế giới, không có tác phẩm nào vay mượn của nước khác về gia công thêm mà thành khuôn vàng thước ngọc cho quốc gia mình được! Có người cũng từng nói:

“Từ bản dịch lục bát một cuốn truyện Tầu, thế mà đã mấy thế kỷ vẫn còn là sách gối đầu giường. Hay nói đúng hơn, nó là cái hầm mộ tập thể, không ngớt mai táng cho những số phận tinh thần của trí thức Việt Nam.” (Nguyễn Quốc Chánh, trong bài tựa tập thơ Của căn cước ẩn dụ)[*]

 

- Nếu vậy hãy xét phần nhân vật. Nhân vật trong truyện rất là đa dạng, hỷ nộ ái ố người thiện kẻ ác đầy đủ cả, tính cách nhân vật được khắc hoạ rõ nét, sinh động, chứng tỏ tài xây dựng nhân vật của tác giả thuộc vào bậc thầy!

+ Nhưng có người nói rằng nhân vật trong Kiều lại toàn là những người nói dối. (Hãy đọc “Các nhân vật trong truyện Kiều đều nói dối!”, Lê Xuân Lít, tạp chí Kiến thức ngày nay số 667)

 

- Vậy là bác không biết quái gì về văn học! Đề tài không quan trọng, quan trọng là anh đã thể hiện nó như thế nào.

+ Nhưng nhân vật Kiều toàn là những người yếu đuối, uỷ mị, nữ tính. Kẻ có khí phách chỉ mỗi ông Từ Hải nhưng ông ấy là một tên giặc, lại dại gái nên chết thảm ở pháp trường. Thương họ thì thương, nhưng nghe họ than thở khóc lóc mãi cũng ngán, đời sống này vốn đã nhiều tiếng khóc!

 

- Chính vì vậy nó mang tính hiện thực cao. Xã hội phong kiến với tất cả những gì xấu xa bỉ ổi của nó được phơi bày, tố cáo để đánh thức lương tri con người.

+ Nhưng đó là xã hội của: “Rằng năm Gia Tĩnh triều Minh / Bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng”. Lại cũng là xã hội của Tàu, tiếng khóc người Tàu, không phải tiếng khóc Việt Nam, mà thời đó dân ta khóc nhiều lắm. Chiến tranh loạn lạc triền miên, đất nước bị phân ly chia cắt, dân tình đói khổ, trai tráng bị bắt đi lính, ít người trở về. Không ai khóc dùm cho họ. Các thi nhân của chúng ta cứ nhìn về bên Tàu, xem có ai buồn, trong chốn thanh lâu hoặc nơi lãnh cung, mà khóc. Dân chúng lầm than yếu đuối của ta bị kẻ sĩ bỏ rơi. Hãy đọc lại hết thi ca Trung quốc, thi nhân của họ khóc cho dân họ, cho những người đi xâm lược các lân bang, trong đó có nước ta. Họ không khóc dùm cho những người nô lệ lặn lội chốn rừng thiêng nước độc đi tìm ngà voi cống nạp cho vua chúa của họ!

 

- Thi nhân ta chỉ mượn chuyện Tàu để mà nói lên điều khác. Ông phải thấy tính nhân văn và tư tưởng vĩ đại hàm chứa trong tác phẩm. Cốt tuỷ của một tác phẩm giá trị không phải là cốt truyện mà là văn chương và tư tưởng.

+ Ở nước ngoài, giáo sư Phạm Công Thiện có viết một cuốn sách khá dầy về Kiều, Thiền sư Nhất hạnh viết Thả một bè lau, cũng nói về Kiều. Cả hai chứng minh cho thấy tinh thần Phật giáo đậm đặc trong Kiều. Tìm những ý hay trong Kiều, ta đều nhớ đã đọc đâu đó trong kinh điển của Tam giáo. Những tư tưởng chính của Kiều như “tài mệnh tưởng đố”, “bỉ sắc tư phong”, “hồng nhan bạc mệnh”... đều đã xuất hiện trong tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân. Xưa hơn, nếu đọc Nam Hoa Kinh của Trang Tử, cũng thấy có trong đó rồi. Một số học giả thời nay, nghiên cứu Kiều, phát hiện cụ Nguyễn chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sách vở Trung quốc thời nhà Minh và nhà Thanh. Nói tính tư tưởng là phần đặc sắc sáng tạo của Kiều e chưa thuyết phục lắm! Một tác phẩm lớn đòi hỏi những dấu ấn cá nhân, những sáng tạo mới mẻ, độc đáo! Các tác phẩm lớn ở Tây phương người ta không dựa vào lời giảng trong Kinh Thánh. Đôi khi họ còn nói ngược lại.

 

- Nói chi thì nói, không thể phủ nhận giá trị văn chương nghệ thuật của Kiều, thành tựu cao nhất của ngôn ngữ và trí tuệ Việt Nam.

+ Nhưng Kiều nhiều điển tích quá! Muốn hiểu Kiều cần phải đọc cả trăm quyển sách viết về Trung quốc, phải am tường lịch sử văn hoá của Trung quốc. Tức là muốn hiểu tác phẩm của nước mình, người đọc nước ta phải hiểu về Trung quốc trước! Trên thế giới, không có tại nước nào mà mỗi khi sáng tác người ta phải dựa vào văn hoá của nước cai trị mình nặng nề như tại Việt Nam. Sử dụng điển tích là dấu ấn rõ nét của tâm lý thuộc địa và thần phục kẻ cai trị. Phản đối quyết liệt những ai nói lên điều đó lại là tâm lý của chủ nghĩa hậu thuộc địa. Cả hai điều này lại là những nét chính yếu trong sáng tác văn học nước ta, xưa nay vẫn thế. Mỗi khi tranh biện, họ thường trích dẫn câu nói của một người nước ngoài nào đó để làm chỗ dựa cho lập luận của mình. Chúng ta có tinh thần bất khuất đấu tranh cho độc lập dân tộc, nhưng về phương diện tư tưởng, văn hoá, ta tự nguyện làm thân nô lệ. Hãy xem các quyển danh ngôn thế giới có rất nhiều tại các nhà sách, hay trên một số tạp chí, toàn là câu nói của người nước ngoài. Bốn ngàn năm văn hiến của ta chẳng lẽ không có câu nói hay để tuyển chọn? Và mười mấy ngàn giáo sư tiến sĩ của ta chẳng lẽ không nói được câu nào đáng suy ngẫm? Không phải thế. Chính hậu quả của tâm thức nô lệ, vọng ngoại, chúng ta tự xem thường chính mình. Lịch sử nước ta, nhất là lịch sử thời Nguyễn Du có biết bao điêu hay, lạ. Thế nhưng hãy tìm trong Kiều, toàn là tích Trung Hoa!

 

- Đó là hạn chế của thời đại. Nhưng thiên tài của cụ là từ một tác phẩm tầm thường vô danh cụ đã thể hiện sự sáng tạo và làm nên một tác phẩm tuyệt vời hoàn toàn Việt Nam, vượt xa nguyên tác.

+ Từ những gì có sẵn của người, thêm bớt, thay đổi, uốn nắn lại để làm nên cái của mình là một đặc tính của dân ta. Như cách ngày xưa các cụ đã tạo nên chữ Nôm. Nhắc lại là cùng thời điểm, cùng bối cảnh lịch sử, người Nhật và người Hàn cũng nỗ lực tìm ra chữ viết cho riêng họ. Chỉ có cách họ làm là khác ta. Bằng hai quẻ âm dương, một ngắn một dài, sắp đặt lại với nhau, người Hàn tạo ra một loại chữ viết mới rất khoa học, có thể nói là khoa học nhất thế giới, đơn giản, dễ học, dễ viết, chỉ cần một buổi học, bạn có thể biết viết và biết đọc tiếng Hàn ngay. Chữ Nôm ta thì khác, vay mượn lắp ghép từ chữ Hán một cách đầy phức tạp, ta tạo ra chữ Nôm. Muốn học, ta phải học chữ Hán, giỏi chữ Hán trước. Ta tự hào về chữ Nôm, nhưng có người nói rằng đó chẳng khác nào một sự khổ dâm. Có lẽ vì vậy mà trong thời kỳ thực dân, nước ta là nước duy nhất từ bỏ chữ viết truyền thống của chính mình, chấp nhận thọ ơn khai hoá của Pháp.

Cái tinh thần tiếp biến văn hoá văn minh theo kiểu cách đó kiến chúng ta có tâm lý chờ đợi, thích lẽo đẽo đi sau thiên hạ. Chúng ta không có đầu óc khai phá, sáng tạo, nghèo tưởng tượng và khát vọng. Chẳng những thế, nguy hiểm hơn là chúng ta có khuynh hướng e dè và chống lại hoặc ngăn cản sự khai phá của người Việt chúng ta.

Phải chăng chính vì có thái độ văn hoá khác hẳn với chúng ta, nên Hàn quốc, dù dân số chỉ hơn phân nửa dân số ta thôi, trong năm qua đã có trên trăm ngàn bằng sáng chế. Còn cả nước ta, với mười lăm ngàn tiến sĩ, và vài năm tới có thêm hai chục ngàn nữa, chẳng có được cái bằng nào.

 

- Tóm lại, ý ông muốn nói Kiều không hay?

+ Không phải thế, tôi không hề dám đụng chạm đến Kiều. Một tác phẩm đã được những chuyên gia văn học ưu tú lỗi lạc của nước ta ca tụng, chắc chắn nó phải hay, phải vô cùng giá trị. Là người biết lan man về văn học, tôi không bao giờ cả gan dám đụng đến vấn đề đó.

Thế nhưng chính những điều đó đã gợi cho tôi nhiều suy nghĩ, có thể chỉ là chuyện bên lề. Kiều hay, nhưng chắc chắn nó không thể toàn bích. Thế gian này không có điều hoàn hảo hay có chân lý cuối cùng. Ngay trong lãnh vực khoa học, người ta chỉ mong tìm ra những định lý gần đúng với chân lý, không đặt vấn đề tìm ra chân lý cuối cùng. Thuyết tương đối của Einstein vĩ đại vì nó mở rộng ngõ chờ đợi mọi sự vượt qua.

Kiều có thể bị vượt qua? Sau một thế kỷ nằm hắt hiu trong bóng tối, là một thế kỷ Kiều đứng trên đỉnh vinh quang chói lọi. Giờ đây Kiều trở nên đỏng đảnh khó ưa khi đã thừa mứa những lời ca tụng. Kiều khó chịu và phản ứng dữ dội trước những lời vạch ra tì vết của mình.

Trên một đất nước tự xem là đất nước thi ca, vào bất cứ thời điểm nào, dù chiến tranh, dù đói kém, dù bão lụt, vẫn có hàng trăm ngàn người làm thơ, vậy mà đã mấy thế kỷ trôi qua, chưa có tác phẩm nào ngang tầm với Kiều, một thi phẩm được gọi là tuyệt tác nhưng không toàn bích.

Thi nhân chúng ta hàng hàng lớp lớp bằng lòng đứng chen chúc vây quanh chân tượng đài của Kiều, ngước nhìn cụ Tiên Điền phất phơ chòm râu bạc ngồi một mình trên đỉnh tháp vút cao, cô đơn lạnh lẽo chịu đựng những cơn gió lạ lạnh lùng từ muôn hướng lồng lộng thổi về.

Chỉ có mỗi tác phẩm Kiều trong nền văn học của chúng ta, đó không phải là niềm tự hào, mà là nỗi bất hạnh. Cái bất hạnh của một dân tộc thích chiêm ngưỡng những tượng đài mà không thích vượt qua.

Đã đến lúc, chúng ta không còn có thể ngồi yên dưới mái chùa Một Cột nhỏ bé mà ngâm nga mãi truyện Kiều.

 

(10-03-09)

 

_________________________

[*]trích lại từ Nguyễn Hưng Quốc, “Giải lãnh thổ hoá trong văn học Việt Nam”, 25-09-2008, Tienve.org.

 

-----------

Đã đăng:

Cứt đái, đừng ngó lơ!  (tiểu luận / nhận định) 
... Vừa nghe thôi bạn đã khó chịu, xấu hổ, muốn chống đối. Phản ứng của bạn không phải là chuyện nhất thời, của riêng bạn. Nó mang dấu ấn của ký ức tập thể, của dân tộc, của truyền thống. Nó phản ánh một thái độ ứng xử văn minh, văn hoá. Do vậy, nó thuộc phạm trù của mỹ học, của văn hoá, rất đáng bàn, chỉ ngại không đủ sức bàn cho thấu tình, đạt lý đó thôi. Không có đề tài dở, mà chỉ có người viết dở và đôi khi, người đọc dở! Chuyện tôn nghiêm có khi biến thành rác rưởi, và chuyện thối tha, biết đâu, chẳng mở ra những điều thơm tho trong sạch... (...)

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018