thơ | truyện / tuỳ bút | phỏng vấn | tiểu thuyết | tiểu luận / nhận định | thư toà soạn | tư tưởng | kịch bản văn học | ý kiến độc giả | sổ tay | thảo luận | ký sự / tường thuật | tư liệu / biên khảo | thông báo |
văn học
Quyền-lực và Tự-zo [§16]

 

Zựa trên nguyên-tác tiếng Anh Power and Freedom (2008-2009), Nguyễn Quỳnh.

 

Hơn bốn trăm năm trôi qua, tư-tưởng trong triết-học Tây-fương, chủ iếu là Anh và Đức đã đóng góp rất nhiều cho sự hiểu biết của con người về mặt chính-trị, xã-hội và đạo-đức; ảnh hường rất lớn vào sự thay đổi văn-hoá, khoa-học, kĩ-thuật, chính-trị và kinh-tế toàn cầu. Kể từ gần hai trăm năm lại đây, triết-học thực-tiễn của Hoa-kì, coi hành-động là điểm khởi-hành trước khi tiến về lí-thuyết. “Philosophy is a point of actions, NOT a point of interpretations.” Quan-niệm này đã từ từ đẩy triết-học Âu-châu (continental philosophy) vào hậu-trường. Triết-học nào — Âu-châu hay Hoa-kì — sẽ júp con người thức-tỉnh hơn và can-đảm hơn để tiếp-tục đi lên? Chương cuối của chuyên-luận sẽ bàn đến triết-học hiện-đại (contemporary/post-modernism) và xã-hội con người trong đó Mĩ, Việt và Tầu là ba thực-tại chính-trị và xã-hội được tác-jả khai-thác nhiều nhất vì chúng ta đang chứng-kiến quyền-lực và tự-zo trong hai thái-cực: Vòng biện-chứng mở rộng biên-cương của bá-quyền (circle dialectics), và vòng biện-chứng ngịch-đảo (negative dialectics) để júp chúng ta hiểu vì sao có những thể-chế đang trở về man-rợ.
 
Nguyễn Quỳnh

 

 

 

HỌC-THUYẾT CHÍNH-TRỊ CỦA KANT

 

§16.

Học-thuyết chính-trị của Kant có vài điểm khác với Hobbes và Moses Mendelssohn.

Theo Kant, xã-ước trong í-ngĩa contractus originarius hoặc pactum sociale là một thoả-ước zựa trên khát-vọng của nhiều cá-nhân sống trong một nước. Xã-ước này chính là nền-tảng của lập-hiến (legislation) có thực chứ không fải là jả-thiết. Nếu xã-ước chỉ là jả-thiết (assumption) thì chuyện jì sẽ xảy ra? Kant luận rằng một jả-thiết cần fải được chứng minh là nó có căn-cơ trong lịch-sử. Khi chúng ta nói tới “ví-zụ” chúng ta thường nêu lên í-kiến (opinion) có tính chủ-quan, ít khi chúng ta trưng ra zữ-kiện. Thay vì nói: “Một chiến-thắng thần-tốc ví-zụ Trận Đống-đa của vua Quang-trung”, chúng ta có thể nói: “Một chiến-thắng thần-tốc ví-zụ như sóng thần”. Trận Đống-đa là zữ-kiện cụ-thể có trong lịch-sử, cho các nhà quân-sự ngiên-cứu. Sóng-thần chỉ là biểu-tượng (metaphor) chứ không fải là zữ-kiện. Bởi thế, khi Kant bàn tới jả-thiết ông không zùng biểu-tượng, ông zùng zữ-kiện, và ông đặt ra câu hỏi: “Nó xảy ra ở đâu?” Quyền-lợi (Rights) và bổn-fận (Obligations) nằm trong xã-ước được mặc nhiên trao từ thế-hệ này sang thế-hệ khác, chứ không fải là metaphor. Sự truyền-bá tinh-thần hay kiến-thức xã-ước như thế nằm trong hình-thức những bản-văn hay truyền-khẩu. Như vậy, theo Kant, xã-ước đúng là một thứ hiến-fáp của zân đã có mặt từ lâu (a pre-existing civil constitution).

Nhưng trên thực-tế, thứ xã-ước này mới chỉ là cái í rút ra từ kinh-ngiệm và được fân-tích theo lí-trí mà thôi. Thế có ngĩa là cái jì trong ánh-sáng của lí-trí trông cũng thích và nge cũng bùi tai, nhưng còn xa vời thực-tại cấp thiết của thời hiện-tại. Theo lẽ tự-nhiên nếu xã-ước không sát với thực-tại, thì nó còn nhiều lấn cấn. Như vậy làm sao mang xã-ước vào đời! Cũng theo lẽ tự-nhiên này, bản tuyên-ngôn Cộng-sản còn kém xa xã-ước trong tinh-thần jả-thiết, bởi vì minh-chứng trong bản tuyên-ngôn ấy không theo kịp sự đổi thay quá mau và quá fức tạp của xã-hội Âu-châu. Mong đợi của bản tuyên-ngôn ấy lại “trật đường rầy”. Tuyên-ngôn Đảng Cộng-sản là những tiếng gào thét đấu tranh, kêu gọi jai-cấp vô-sản trở về với bản-ngã đích-thực của con người để xây zựng thế-jới đại-đồng, nhưng nó đã đi sai hoàn-cảnh và không hiểu tính người.

Marx và Angels khi viết Tuyên-ngôn đã thiếu nền-tảng kinh ngiệm xây-zựng thực-tế cho cuộc cách-mạng vô-sản, nên đảng Cộng-sản ở bất kì nơi nào có lá cờ của nó cũng gây kinh-hoàng và thất bại thê-thảm trong thời bình. Nó thất bại ngay trong vòng biện-chứng xã-hội chủ-ngĩa. Có thể nói Tuyên-ngôn Đảng Cộng-sản là những lời nói xúc-động nhưng không bao jờ có mặt trong cách-mạng. Điều này cho thấy nhận xét của Kant rất đúng, zù nó có cả trăm năm trước khi Marx ra đời.

Marx xuất bản Tuyên-ngôn Đảng Cộng-sản (Manifest der Kommunistischen Partei) ở London năm 1848. Bản-văn tiên đoán một cuộc cách-mạng vô-sản sẽ ziễn ra lật đổ jai-cấp Trưởng-jả (Bourgeois), i như là jai-cấp này đã lật đổ jai-cấp Fong-kiến (Feudalism) trước kia. Zựa vào đâu? Theo Marx và Engels, cuộc cách-mạng vô-sản zựa vào vòng biện-chứng tự-nhiên của lịch-sử con người, trong đó đấu-tranh jai-cấp luôn luôn có mặt. Nhưng, khi bản Tuyên-ngôn Đảng Cộng-sản tái bản lần thứ hai, thì tình trạng kinh-tế, xã-hội, và chính-trị ở Âu-châu đã biến đổi quá mau, đến nỗi cả Marx lẫn Angels công nhận rằng, mặc zù já-trị lịch-sử của bản tuyên-ngôn ấy luôn luôn đúng, nhiều điểm trong nội-zung của bản tuyên-ngôn ấy cần fải sửa lại, nếu không nói là fải loại bỏ. Marx quay qua ngiên-cứu tư-bản chủ-ngĩa, và viết Tư-bản Luận I (Das Kapital, I), một cuốn sách já-trị nhất thời-jan đó về lãnh-vực kinh-tế, nhưng chính Das Kapital lại chứng minh chủ-ngĩa Cộng-sản, i như lời mở đầu của bản tuyên-ngôn ấy, thực-sự chỉ là một “bóng ma”. Nó không còn là bóng-ma quyền-lực, hay một thực-tại cách-mạng hiển nhiên ám ảnh Âu-châu, mà chính là cái chết của bóng ma ấy vì nó là ảo-tưởng. Nói theo Toews, bản tuyên-ngôn ấy chỉ là tiểu-thuyết (fiction) mà thôi.

Chính Marx, trong cuốn Tư-bản Luận đã fải nhận rằng, cho đến thời-điểm của ông, thì Tư-bản là thuyết kinh-tế nhân-đạo nhất trên thế-jan này. Chỉ còn một điểm hữu lí là, theo Marx, Tư-bản sẽ suy thoái trong lí-thuyết thặng zư. Điều này luôn luôn là một ám-ảnh và rất có thể xảy ra như tôi đã có zịp trình bày nội-zung cuốn Tư-bản I (Karl Marx) và cuốn Những Bóng Ma của Marx (Jacques Derrida), tại Viện Triết-học và Fân-khoa Triết-học, Đại-học Tổng-hợp, Hànội, tháng 11 năm 2005.

Năm 1852 tức bốn năm sau bản tuyên-ngôn, trong bài Ngày Mười Tám Brumaire của Louis Bonaparte, Mark đưa ra nhận định về bản-chất thật của cách-mạng. Theo ông, cách-mạng fải fản ảnh sự hiểu biết của mình và của thời-đại mình, chứ không fải là những cóp chép hay học đòi (parody) khôi hài khờ khạo những jì người khác đã làm. Nếu thế, những jì gọi là cách-mạng của đảng Cộng-sản Việtnam chỉ là ziễn-trò ngớ ngẩn theo Nga và Tầu. Cho đến ngày nay lịch-sử kinh-tế Việtnam vẫn chưa tiến tới jai-đoạn kĩ-ngệ thì làm-jì có những đấu tranh jai-cấp jữa công-nhân và chủ-nhân, như chuyện xảy ra ở Đức và Fáp. Đảng Cộng-sản Việtnam đã lãnh-đạo một cuộc kháng-chiến chống ngoại xâm để zành độc-lập. Đó là sự-thực (reality). Nhưng vì cố tình hay vì không có khả-năng fân biệt thực và mộng, nên đảng ấy bắt chước Nga Tầu thủ tiêu những thành fần quốc-ja iêu nước hợp tác với họ. Họ coi những người này nguy hiểm cho quyền-lực của họ, chứ không fải nguy hiểm cho zân. Khi có những tiếng than từ zân về những chuyện thủ-tiêu đẫm máu zo đảng Cộng-sản Việtnam gây ra, như nhận định của Hoàng Xuân-hãn trong tập Hội-ngị Đà-lạt, thì Hồ Chí-minh đã cả vú lấp miệng em trả lời là “Trong khí thế cách-mạng những chuyện như thế (tàn-sát) không sao tránh khỏi.” Ngay cả lúc này tức đầu thế-kỉ 21, Việtnam vẫn chưa có cách-mạng, thì năm 1946 làm jì có cách-mạng như ông Hồ nói!

Câu nói của Marx, noi theo nhận-định của Hegel như sau, “Tất cả những sự-thực cũng như những nhân-vật quan trọng nhất trong lịch-sử đều đã hiện ra zưới hai zạng: Khởi đầu là đau-thương (tragedy) và sau đó là những học đòi hết sức nực cười (farce/parody) (t. 147)*. Thế-jới đại-đồng — nếu có — chỉ đang xảy ra ở Hoa-kì — mà vẫn còn trong vòng biện-chứng, tức là đang lột xác. Làm jì có thế-jới đại-đồng ở Nga hay Tầu, nơi nhân-công các nước đàn em bị ngược đãi. Jáo-zục cho quần-chúng — nếu có — chỉ đang tích cực xảy ra ở Hoa-kì. Đảng Cộng-sản thế-jới chưa có khả-năng làm kinh-tế, thì làm sao có đời sống jáo-zục và nhân-sinh lành mạnh cho jai-cấp vô-sản? Bây jờ chúng ta fải trở về với Kant.

Khi xã-ước chứng minh được nó là một thực-tại cụ-thể hiển-nhiên thì xã-ước mới có khả-năng khiến cho người soạn luật soạn thảo luật theo í-chí thống-nhất của quốc-ja, và cho mỗi người có quyền-hạn là công-zân và người đó đồng í với í chung của toàn zân, để tránh vấn-đề gọi là fản công lí, nhất là khi quyền-lực nằm trong tay một jai-cấp cai trị.

Luật có đúng không (just) nếu người zân ngờ rằng một sắc luật nào đó có thể không cho người zân chất vấn, ví-zụ, người zân xin khỏi đóng thuế chiến-tranh zựa trên hoàn-cảnh riêng? Họ ngĩ rằng thuế chiến-tranh ép-buộc họ, không đúng với công-lí, vì thuế ấy không cần thiết cho họ. Theo Kant, luật đòi hỏi người zân fải đóng thuế chiến-tranh là đúng. Luật không thể nhìn vào những lí-zo riêng, như hạnh-fúc và quyền-lợi của một cá-nhân nào đó, trong khi cả bàn zân thiên-hạ fải fục-tùng. Một quyết-định (judgment) hay một cách nhìn như thế fải là việc làm của cơ-quan lập-hiến (legislator), để cho quyết-định hợp hiến. Nói tóm lại, không có luật nào đặt nền-tảng trên hạnh-fúc riêng, vì hạnh-fúc của người này không hẳn là hạnh-fúc của người kia.

Ổ đây, luật chỉ có trách-nhiệm một điều là bảo đảm mỗi người zân có quyền tự-zo mưu-cầu hạnh-fúc của riêng mình, miễn là đừng vi-fạm an-ninh và tự-zo của người khác. Có một thứ quyền tối-thượng đặt ra vì hạnh-fúc, ví zụ luật khuyến-khích jàu sang của toàn zân, hay tăng zân-số. Trong trường-hợp liên quan tới hạnh-fúc kiểu này ta chớ hiểu lầm cho rằng luật ấy là cứu-cánh để trở thành hiến-fáp, mà chẳng qua chỉ nhằm cho xã-tắc (state) được iên-bình. Và như thế, nhà lãnh-đạo fải có khả-năng biết rõ cái gọi là iên-bình ấy có cần-thiết cho sự thịnh-vượng của quốc-ja hay không. Nói rõ hơn, đây chính là trường-hợp đòi hỏi một xã-hội mạnh và vững vàng trước kẻ thù trong và ngoài nước. Mục-đích của cái gọi là iên-bình ấy không fải làm cho zân thiếu hạnh-fúc mà chẳng qua chỉ là sự sống còn của một khối thịnh-vượng chung.

Trong trường-hợp này cơ-quan lập-hiến có thể zễ lầm, cho nên khi quyết định lựa chọn những fương-thức, cơ-quan này fải cẩn-thận. Cơ-quan lập-hiến đừng nên quyết định vội xem luật có hợp với nguyên-tắc về quyền-lợi (principle of right) hay không. Cơ-quan lập-hiến nên nhớ họ đã có một tiêu-chuẩn theo lẽ rất tự-nhiên (a priori) và tốt về í-niệm một xã-ước nguyên-thủy, cho nên họ khỏi cần kinh-ngiệm để chứng-minh fương-thức áp-zụng có thích-hợp hay không. Điều này cần lưu í để xem nếu những fương-thức kia zựa trên căn-bản hạnh-fúc riêng.

Điểm sau đây của Kant rất đáng lưu-í. Ngày nào người zân không thấy có jì gọi là tự mâu-thuẫn jữa mưu-cầu hạnh-fúc cá nhân và lập-hiến thì người zân có thể chấp-nhận luật-fáp, zù cho zường như luật-fáp ấy có điểm làm họ không vui. Nếu người zân ngĩ thế thì luật-fáp và quyền sống của người zân zung hoà. Nhưng nếu trong trường-hợp luật chẳng đếm xỉa jì tới quyền sống của zân, thì nó lạm zụng quyền-lực uy-hiếp zân là những người sống theo luật-fáp. Nói một cách khác, đây là trường-hợp luật không cho zân fản đối cơ-quan lập-hiến bằng bạo-lực. Và nói xa hơn nữa, không ai được fép cưỡng lại chuyện nhà nước zùng quyền-lực để thi-hành luật-fáp. Thế thì, không có một xã-hội nào zù đã có trật-tự vững vàng có thể tồn-tại mà lại không cần đến một sức mạnh hay uy-quyền để zập tắt sự nổi zậy trong xã-hội. Tại sao? Theo Kant, một sự chống đối hay nổi zậy trong xã-hội có thể bị chi-fối bằng thủ-đoạn lừa bịp bởi fương-châm (maxim). Ví-zụ, theo fương-châm nói: “Không có luật-fáp mới là xã-hội thanh-bình!” Và khi fương-châm này ảnh-hưởng toàn zân, nó có thể làm cho hiến-fáp sụp đổ. Thế thì, xã-hội trong đó người zân có những quyền căn-bản sẽ tiêu ma. Ở đây Kant muốn chúng ta lưu í tới một hiện-tượng hỗn-loạn vô chính-quyền (anarchism).

Điểm chính của Kant trong chuyên-luận này là sự thách-đố jữa công-lí và luật-fáp, cũng như jữa quyền-lợi cá-nhân và cơ-quan lập-hiến. Ở một hoàn-cảnh nào đó chúng ta sẽ thấy sự va chạm jữa công-lí và luật-fáp. Người zân đòi hỏi rằng những thiệt thòi về tài-sản và sinh-mạng họ fải gánh chịu, kể cả những xáo trộn hay tổn-thất tinh-thần gây ra bởi bất kì cơ-cấu nào trong xã-hội cần fải được công-lí soi tỏ. Nhưng trên thực-tế, với những điều-kiện đã được thoả-thuận và có jới-hạn, luật-fáp không thoả-mãn được công-lí. Ngay cả trong trường-hợp, theo Kant, lãnh-tụ quốc-ja vi-fạm xã ước zùng bạo-lực (tyrannically) cấm chất vấn luật-fáp, người zân vẫn không có quyền chống đối. Nhà nước luận rằng đã chấp nhận hiến-fáp thì người zân không có quyền hạch hỏi hiến-fáp fải được thi hành ra sao. Trong một cuộc tranh-luận jữa zân và người lãnh-đạo về luật-fáp và công-lí, thì câu hỏi sẽ như thế này: ai là người đứng ra fân xử fải trái? Nếu có một cơ-quan đứng ra điều-jải thì hoá ra trong một xã-hội còn có một quyền-lực cao hơn cả người lãnh-đạo. Theo Kant, như thế là một tình trạng tự mâu-thuẫn (self-contradictory). Trong các xã-hội tân-tiến hiện nay, thì lưỡng viện, đại ziện cho zân fải có trách-nhiệm nhìn sâu vào vấn-đề người lãnh-đạo có vi-hiến hay không, và sự đòi hỏi công-lí của zân có hợp hiến hay không? Ở trường-hợp thứ nhất, liên-quan tới sự lạm zụng quyền-lực của người lãnh-đạo, thì vấn-đề xét-xử tội lạm-zụng (impeachment) quyền lực chống lại công-lí, nếu đúng, có thể đưa tới quyết-định truất-fế (indictment) người lãnh-đạo theo hiến-fáp. Nhưng đây không fải là trường-hợp ở thế-kỉ 18 ở Âu-châu của Kant.

Zẫu sao, Kant có lưu í tới vấn-đề trên, khi ông nói, bàn đến thuyết quyền tự-nhiên của con người, thì Achenwall có những nhận-định rất chính-xác, rất thận-trọng và rất có kỉ-luật. Theo Achenwall, nếu có nguy-cơ ảnh-hưởng nặng nề cho xã-hội chỉ vì những chuyện bất-công zo người lãnh-đạo gây ra, thì người zân có quyền chống đối và lật đổ người lãnh-đạo, vì người đó là một bạo-chúa hay một kẻ độc-tài. Hành-động hạ bệ kẻ độc-tài là một cách trở về quyền tự-nhiên của con người.

Lật-đổ độc-tài bằng võ-lực là một hành-vi cách-mạng. Có đúng thế không? Không, vì nói thế chưa đủ. Định-ngĩa fổ-quát của cách-mạng là lật đổ một chính-thể xấu và thay thế bằng một chính-thể tốt. Tốt thế nào? Cái gọi là “tốt” cho đúng lẽ trên đời, không fải là lí-tưởng nêu trong khẩu-hiệu mà fải nằm trong những hành-động cụ-thể với những kết quả tốt cho xã-hội. Người Fáp, năm 1989 đã thẳng thắn nhận định rằng cuộc Cách-mạng Fáp 1789, với lí-tưởng: “Tình Huynh-đệ, Tự-zo, và Bình-đẳng” chưa thành-công, nếu không nói là thất bại ở lúc này. Cuộc cách-mạng vô-sản ở các nước gọi là Cộng-sản, trong đó có Việtnam, không fải là cách-mạng, vì xã-hội không có tương-lai, và còn sống trong sợ sệt trước một nhà nước tự coi là “cách-mạng”. Cộng-sản Việtnam chỉ thành công trong nỗ-lực đuổi ngoại xâm và zành độc-lập, chứ không biết làm cách-mạng, bởi chính những người đang quản-lí xã-hội Việtnam không có kiến-thức và tài làm cách-mạng. Tức là không hiểu tương lai sẽ đi về đâu, cho nên họ mới nói: “Nếu Tầu thành-công thì Việt cũng thành-công!” Cái gọi là cách-mạng nhưng thiếu chí tiến-thủ (initiative) và fải nhờ vào sự đưa đường chỉ lối của ngoại bang — có khi rất sai — là một cuộc nổi zậy vì fẫn nộ — đầy thú-tính, cho nên không có độc-lập, tự- zo theo nhiên-tính và minh-triết của con người.

Định-ngĩa cách-mạng, theo thuyết Marx, là thay thế jai-cấp xã-hội thống-trị hiện hữu bằng một jai-cấp xã-hội thống-trị mới, với hi-vọng tiến tới thiên-đường Cộng-sản lại càng mơ hồ — đến độ chính-trị và kinh-tế ở những nước Cộng-sản, sau cái gọi là cách-mạng, quá ngèo nàn, nếu không nói là ai cũng mong có zịp bỏ xứ ra đi — kể cả một số “quan lớn” chân trong, chân ngoài, sẵn sàng ẵm tiền của ra đi vì an-ninh và hạnh-fúc của họ, nếu một cuộc “đổi đời” bất lợi” cho họ. Và nếu luật-fáp cho fép sự đòi hỏi công-lí và hạnh-fúc như thế — cũng theo Kant — có luôn luôn đúng (constant) không? Nếu không luôn luôn đúng, không fải là luật.

Như vậy, điều Kant thắc mắc xem ra hợp lí: sau một cuộc đảo-chính, người zân có thể mất hiến-fáp, tức là mất những quyền căn-bản của con người, chỉ vì quyền-lợi và hạnh-fúc của fe nhóm khác. Có fải đây là điều đang xảy ra ở Nga, ở Tầu, và ở Việtnam không? Cũng xin nhắc lại điều này, “Jải-fóng” và “cách-mạng” rất khác nhau. Một người được jải-fóng khỏi ngục-tù chưa chắc đã có khả-năng cách-mạng bản thân mình, đừng nói tới xã-hội — một cơ-cấu vô cùng fức tạp. Tóm lại, chỉ khi nào í-chí của toàn zân muốn người lãnh-đạo fải ra đi vì lỗi lầm không thể tha thứ được, và nếu người đó không đi, khi ấy, bạo-lực có thề được zùng. Nhưng sự nổi zậy ấy vẫn không fải là một cuộc cách-mạng. Ví-zụ, tình trạng xã-hội ở Nam Việt trong thập-niên 1960. Như vậy, sự nổi zậy ấy có thể rất nguy-hiểm cho xã-hội.

Trong thực-hành, Kant nhận thấy hiến-fáp của Anh có điểm đáng cho chúng ta lưu-í. Người Anh rất hãnh-ziện với hiến-fáp của nước họ, coi đó như một mô-hình lí-tưởng ở thế-jan. Không có chỗ nào trong hiến-fáp ấy cho fép người zân chống lại vua nếu vua vi-fạm xã-ước thành lập năm 1688. Tức là trong hiến-fáp của Anh không có điều-khoản nào bàn về chuyện truất-fế vua. Nhưng, theo Kant, Hobbes có í-kiến trái ngược trong cuốn De Cive, Chương 7, đoạn 14 như sau: “Vua không có bổn-fận fải theo tinh-thần xã-ước đối với zân, cho nên vua không ban công-lí cho zân. Vì vậy, vua muốn làm jì theo í mình cũng được.” Nhận-định của Hobbes chỉ đúng nếu bất-công ngịch lại bất-công. Tức là zân không hành xử trong fạm-vi hiến-fáp để chống lại sự vi-hiến của lãnh-tụ quốc-ja. Ngoài lẽ ấy ra, fát đoan luận của Hobbes rất nguy-hiểm và đáng sợ. Tuy nhiên, trên thực-tế, ngày nay hoàng-đế hay hoàng-hậu nước Anh chỉ có zanh (nominal), chứ không có thực-quyền. Cơ-quan hành-fáp nằm trong tay thủ-tướng và nội-các. Những người này có trách-nhiệm trước quốc-zân, và điều-khiển quốc-ja có hạn-kì rõ rệt, với đa số fiếu tín-nhiệm hay bất tín-nhiệm. Bản-chất của người Anh rất thâm-trầm và khôn-ngoan. Họ chấp-nhận thực-tại chuyển-biến của xã-hội (social transformation), chứ họ không thích cách-mạng (revolution). Ngay cả trong chính-sách thuộc-địa của họ, khi thấy không có lợi vì người bản-xứ thức-tỉnh, người Anh thoả thuận rút lui, với câu nói rất thực và rất kiêu-ngạo của Churchill, “Thôi thì, chim có con to con nhỏ. Con to hót tiếng to, con nhỏ hót tiếng nhỏ!”

Cuối cùng, Kant cho rằng, người zân — với sự thoả-thuận của nhà lãnh-đạo — có quyền đưa ra í-kiến trước công-luận về những jì xét ra nhà lãnh-đạo vi-fạm công-lí trong xã-hội. Thật là sai lầm nếu ta tin rằng nhà lãnh-đạo không bao jờ sai và cũng chẳng bao jờ zốt, như Cộng-sản Việtnam đã nói. Tin như thế khác nào bảo rằng nhà lãnh-đạo là kẻ siêu-fàm vì được ơn zẫn zắt của đấng thiêng-liêng.

Vậy thì, Sử-zụng ngòi bút chính là quyền tự-zo và là sức-mạnh an-toàn zuy nhất của người zân. Bản văn fản-đối zù không mạnh bằng bản văn hiến-fáp, nhưng cũng bộc lộ được í-chí của người zân.

 

TƯƠNG-QUAN TỪ LÍ-THUYẾT TỚI THỰC-HÀNH

TRONG QUYỀN QUỐC-TẾ

 

Câu hỏi Kant đặt ra cho Moses Mendelssohn — và ján tiếp cho chúng ta — như sau: “Con người hay nhân loại đáng iêu hay đáng gét?” Trong thuật ngữ của Kant ta nên hiểu câu này: “có đáng thích không?” thay vì “có đáng iêu không?” Kant đặt vấn đề là, liệu con người có khả-năng tự-nhiên trong vấn-đề tiến-bộ và nhờ đó những xấu xa trong quá khứ sẽ biến đi trong cái tốt hay tính thiện ở tương lai? Nếu quả con người có khả-năng ấy thì chúng ta cảm-fục con người. Vì chúng ta cố gắng đánh thức tình iêu trong chúng ta, cho nên chúng ta gét những jì xấu xa, đặc biệt khi xấu xa vi-fạm những quyền thiêng liêng của con người. Có lẽ chúng ta không muốn hại những con người xấu xa, nhưng không muốn zính záng jì tới những con người hèn như thế.

Trong khi ấy, Mendelssohn cho rằng, con ngưởi khi tiến khi lùi bất thường, cho nên ông không đồng í với Lessing là có một thứ jáo-zục linh thiêng cho nhân-loại (a divine education of mankind). Kant có í ngĩ khác. Ông cho là nhân-loại tiến-bộ đều đều, tuy một đôi khi sự tiến-bộ ấy có bị tắc ngẽn nhưng không bao jờ bị mất. Kant thú thật là ông không có những cơ-sở biện chứng cho jả-thiết của ông, nhưng ông zựa trên tiến-trình cá nhân của chính ông. Ông gọi tiến-trình cá nhân ấy là một tiến-trình của bổn-fận có tính bẩm-sinh (inborn). Zo đó, tính này là một tính zi-truyền, ảnh-hưởng từ người này sang ngưởi khác. Zựa vào jả-thiết, Kant đã xác định rằng nếu không có tính bẩm-sinh ấy làm sao nhân-loại khá hơn. Nhưng chính trong hệ-luận về cái gọi là “lẽ bẩm-sinh trong tiến-bộ” của Kant chúng ta thấy ngay có hai điều khiến cho jả-thiết của ông chỉ là jả-thiết để chúng ta suy-ngĩ mà thôi.

Điều thứ nhất: Nếu con người ai cũng khao khát tiến-bộ zựa trên những jì mình có, thì cái gọi là “CÓ” ấy fải có cơ-sở và mục-đích rõ ràng, fải được tôi luyện không ngừng, và fải có kết-quả — thành-công hay thất bại. Điều thứ hai: Có fải ai cũng tiến-bộ nhờ mặc-khải của người khác hay không — zựa vào tính zi-truyền như lập luận của Kant. Có fải ai theo Fật cũng thành fật, ai theo Nguyễn Zu cũng thành “Nguyễn zu” không?

Theo thiển ngĩ của tôi, cái chúng ta gọi là tiến-bộ hay xa hơn nữa là văn-minh của nhân-loại là công lao của những khối óc siêu-việt. Đại đa số còn lại chỉ có khả-năng thích ngi vào công trình sáng-tạo của người khác. Zo đó, theo tôi, nhân-loại xưa và nay chỉ khác nhau về những hình-thức vật chất bên ngoài. Nếu thực-sự đa số con người tiến-bộ, thì ít ra con người fải thoát li khỏi những đức tin nhảm-nhí của tôn-jáo cũng như của chính-trị. Và hơn nữa fải chấm zứt không được nói láo — một bản-tính rất fản tiến-bộ, nhưng ác thay có mặt từ cổ chí kim.

Chính Kant đã nhận-định rất chí-lí thế này: “Chúng ta thắc mắc về lòng khát khao và hi-vọng có tính luân-lí hay đạo-đức của con người. Nhưng vì con người không đủ khả năng hoàn tất khát-khao và hi-vọng đó, cho nên con người mới quay về một đấng fù-trì (providence) xin ban cho cơ-hội để con người hoàn-tất ngĩa vụ của mình.” (t.91)* Thế thì cũng theo Kant, mục-đích của nhân-loại là mong đấng linh-thiêng này júp mình hoàn-tất bổn-fận của mình, zù cho có thất bại ở hồi chung cuộc. Khởi đi từ đức-tin huyền-bí, Kant nhảy vọt sang lãnh-vực cụ thể rất con người, khi ông nói: “Những va chạm cá nhân cho thấy con người có lí-zo và có tự-zo làm chủ tất cả. Không fải để làm điều xấu, mà để làm điều thiện, và tiếp tục làm điều thiện ấy khi tính thiện đã rõ ràng.” (t. 91)* Thế thì, í-chí về tiến-bộ của con người có fải là cái jì bẩm-sinh không? Khi chính Kant đã có những nhận-định rất đúng và cũng rất trái với hệ-luận của ông, như sau:

Khi sống chung và có những liên-hệ với nhau con người mới thấy mình đâu có jì cao quí. Không có jì bảo-đảm cho độc-lập và sở-hữu jữa hai nước với nhau. Í-chí muốn thống trị và lấn áp kẻ khác luôn luôn có mặt. Tăng cường võ trang nói là để fụng sự hoà-bình thực ra đã không ngừng làm cho hoà-bình trở nên kinh tởm. Hoà-bình như thế tàn fá sự sống vĩnh-cửu còn tệ hơn cả sự tàn-fá của chiến-tranh.
Immanuel Kant
Kant’s Political Writings, tt. 91-92.
 
[Hết đoạn §16]
 
 
---------------------
* Những chỗ có gi hình hoa-thị (*), xin xem Kant’s Political Writings. Ed. by Hans Reis. Tran. by H. B. Nisbet (Cambridge: Cambridge University Press, 1970).

 

 

 

Đã đăng:

Quyền-lực và Tự-zo [§1]  (tiểu luận / nhận định) 
Quyền-lực và tự-zo là sức-mạnh và khát-vọng, quyết-định định-mệnh của vũ-trụ và con người. Chúng có mặt từ thủa khai-thiên lập-địa, và được í-thức (intellectus) bởi con người trước khi có sử... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§2]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một bản-thể có suy-tư là một con người biết rõ đường-hướng của mình, không chờ cho đến khi có ai bảo tốt hay xấu mới theo. Đây không fải chỉ là chuyện cá-nhân. Nhiều zân-tộc không có chí-hướng rõ rệt, fải ngồi chờ zân-tộc khác tiên-fong, rồi mới hiểu vấn-đề. Đó là những zân-tộc đê-hèn, mang máu nô-lệ từ nhiều thế-kỉ... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§3]  (tiểu luận / nhận định) 
... Napoléon, trong những ngày đi tù biệt xứ, chắc chắn hiểu rằng ông đã mất tự-zo, và câu “Tổ-quốc là Ta!” trở nên viển-vông vì quyền-lực của ông thiếu cái khôn ngoan của trí-tuệ (mind). Cũng vậy, câu nói, “Iêu nước là iêu Đảng” là một câu nói thiếu trí-tuệ, vì quyền-lực trong câu nói ấy nhắm đến í-thức hệ đấu tranh chính-trị để động-viên và hăm zoạ người iêu nước... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§4]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một người có tự-zo là người có khả năng thấy rõ sự lựa chọn trí-tuệ của mình, biết rõ hành-động của mình có hay không, đúng hay sai. Người ấy thấy rõ có thứ tự-zo cao hơn cả í-chí vươn tới của mình, biết rõ tự-zo nào nằm trong khả-năng hay quyền-lực của mình. Tóm lại, con người tự-zo là con người hiểu thứ tự-zo nào có thể tiêu biểu cho, hoặc làm nên người đó... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§5]  (tiểu luận / nhận định) 
... Thường thì chúng ta chỉ thấy và fê-bình những người ngiện-ngập vì người ấy hiện ra zưới mắt chúng ta. Song le, chúng ta không có con mắt để nhìn ra những vấn-đề “ngiện” nằm trong trí-tuệ. Chúng ta, vì thiếu minh-triết, hành-động như con vẹt nói tiếng người (parrotting). Một con vật khôn ngoan biết nge lời chủ, bảo sao làm đó, và làm một cách ngoạn-mục, nhưng con vật ấy không có tự-zo... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§6]  (tiểu luận / nhận định) 
... Khi Lê Quí-li (hay Hồ Quí-li) nhận thấy áp-lực của những người Việt trung-thành với Tầu và áp-lực nhà Minh đang đè nặng lên ông, ông fải xuống nước, và cũng là sự-thật khi ông nói: “Áo-mũ này cũng của Thiên-triều!” Năm 1972, một kĩ-sư Tầu còn trẻ từ Đài-loan đứng trước lăng-tẩm nhà Nguyễn ở Huế, đã mừng rỡ, nói rằng: “Rất Tầu (Very Chinese)!” Người nge iên-lặng vì đó là sự-thật... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§7]  (tiểu luận / nhận định) 
... Người Tầu nên hiểu rằng, ngay trong nước Tầu ngày xưa, những thiên-tài như Hàn-tín, Trương-lương, Tuân-tử, Ngũ Tử-tư, Hạng-võ không fải Hán. Ngược lại, con người ngu, hèn và jảo-hoạt nhất thế-jan chính là Lưu-bang, coi như tổ của Hán-tộc. Như vậy, tập-đoàn xưng tụng Đại Hán là một tập-đoàn điếm đàng, rất jỏi về fương-fáp “ngu zân để trị”... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§8]  (tiểu luận / nhận định) 
... Chúng ta cần fải đọc kĩ cuốn đạo-đức của Aristotle để tránh hiểu lầm. Theo Aristotle, cá-nhân hay tập-đoàn làm chính-trị fải có tài-năng và đức-độ cao, nếu không, người lãnh-đạo sẽ là ma-quỉ, và xã-tắc sẽ rơi vào hoả-ngục... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§9]  (tiểu luận / nhận định) 
... Nhà nước có í-thức và muốn sống còn fải quán-triệt điều này: Khi nhà nước không zo zân mà ra thì nhà nước đó rất có thể mãi mãi là một đơn-vị kì-lạ và kinh-hoàng với zân, mặc zù ở những lúc ban đầu, cả hai có những lí-zo tương trợ lẫn nhau, zo hoàn-cảnh từ bên ngoài đưa tới khiến cho đơn-vị nhà nước và zân fải đoàn-kết. Đúng theo tinh-thần luận-lí, hai đơn-vị này khác nhau, zo đó hoạt-động của A và B trong tinh thần tương-trợ X chỉ tồn-tại trong hoàn-cảnh Y. Cho nên, khi hoàn-cảnh Y không còn, sự tương-trợ trở thành một câu hỏi lớn, đặc biệt khi A đặt để ra đường-lối chỉ đạo để ép buộc B. Làm như thế A quên rằng A đang đi vào con đường cô-độc... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§10]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một xã-hội chỉ có một đảng trong đó các đảng-viên thay nhau cai trị là một cơ-chế chính-trị fản tiến-bộ, không nhân-bản và bệnh-hoạn. Fản tiến-bộ và không nhân-bản vì quần-chúng và nhà nước không có đối-thoại. Như thế không fải là một xã-hội con người, mà đúng là một xã-hội tôi-mọi... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§11]  (tiểu luận / nhận định) 
... Khi nhân-quyền không có thì nhiều nhóm ngoài công-ước fải đứng lên đòi hỏi công-lí. Nhà nước fải ngồi xuống lắng nge và tìm hiểu ngọn nguồn. Không được zùng công-an và quân-đội đàn áp zân. Không được nguỵ tạo chứng cớ để bắt zân. Mọi người fải được xét xử công minh, và fải có luật-sư tranh tụng cho họ. Họ chỉ bị khép tội khi có minh-chứng hiển-nhiên trước một fiên-toà công-lí, chứ không fải do những cánh tay mang zanh fáp-luật nhưng vi-hiến của chính-quyền... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§12]  (tiểu luận / nhận định) 
Khó có thể bàn về fải trái với cường-quyền, vì cường-quyền — vua chúa hay đảng fái — coi jang-sơn là của họ và quần-chúng fải tuân lệnh họ. Cường-quyền cai trị bằng bạo-lực và nhà tù. Những chính-quyền ấy không có đối-thoại với zân, không chia sẻ quyền-lực với ai hết trừ những người trong fe nhóm họ. Trong chính-thể chuyên-chế (totalitarian) không có quyền tự-zo ngôn-luận, và không có xã-ước... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§13]  (tiểu luận / nhận định) 
... Ngày nay, đảng Cộng-sản lạm zụng chiêu bài “quân-đội nhân-zân” và “cán-bộ nhân-zân”, không fải để bảo-vệ zân và tổ-quốc, mà chính là để bảo-vệ Đảng. Cho nên, đã có hồi Đảng Cộng-sản Việt Nam lên mặt tuyên bố rõ ràng: “Iêu nước là iêu Đảng.” Như vậy, zụng-tâm của đảng Cộng-sản Tầu và Việt nhằm fục-hưng Nho-jáo đã rõ ràng. Họ zùng lễ-ngĩa ngu-zân để trói buộc zân. Làm cho zân mất tính người là một lối thống trị man rợ. Chắc chắn, ở một thời điểm nào đó, quân-đội và cán-bộ nhân-zân fải thức-tỉnh đặt ra câu hỏi: “Có thật chúng ta từ zân và vì zân hay không?” ... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§14]  (tiểu luận / nhận định) 
... Jean Tardieu nhận định rất đúng, chính-sách thuộc-địa của Fáp đã nhét những cái ngu-xuẩn vào đầu zân Việt. Nếu người Fáp thực tình muốn júp người Việt, thì người Fáp fải cùng người Việt sánh bước mà đi, chứ không thể bắt người Việt fải theo fương-hướng của mình. Sau gần một thế-kỉ xa cách, Việtnam ngày nay khá jống xã-hội thuộc-địa Fáp ở Việtnam thời Jean Tardieu, và rất oái-oăm, vì nhà nước và zân rất khác nhau. Bây jờ người Việt chỉ thấy độc-tài, tham-nhũng và khủng-bố. Bẽ bàng hơn nữa khi người ta zuy-trì một Hoả-lò ở Hànội để nhớ đến vết hằn trên lưng nô-lệ, thì người ta lại có vô số “hoả lò”, quỉ-quyệt, man-rợ và kinh-hoàng như một xã-hội không có hoà-bình... (...)
 
Quyền-lực và Tự-zo [§15]  (tiểu luận / nhận định) 
... Một trong những nỗ-lực song song với biên soạn cuốn sử fổ-thông là chúng ta cần zùng kĩ-thuật ấn loát tối tân ngày nay, in ra những công-trình vĩ-đại của người Việt để fát không cho quần chúng, cũng như cho các trẻ em mới đến trường. Đảng Cộng-sản Việtnam đã fí-fạm rất nhiều tiền để nhét vào đầu zân Việt những thứ u-mê, như việc xây lăng và ướp xác ông Hồ. Có linh thiêng jì đâu! Tiền bạc ấy nên zành cho những việc ích quốc lợi zân, mà cụ thể nhất là ngay bây jờ fải in ra những cuốn sử fổ-thông, fát không cho quần-chúng... (...)
 
 
———————-
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018