ca khúc | nhạc độc tấu | nhạc hòa tấu | nhạc kịch | nhận định âm nhạc | thảo luận âm nhạc | phỏng vấn | nhạc điện tử |
âm nhạc
Gustav Mahler — lời tiên tri của chủ nghĩa hiện đại & chủ nghĩa hậu-hiện đại


- Tặng nhạc sỹ Hoàng Ngọc-Tuấn

 

 

Gustav Mahler (1860–1911) là nhà sáng tác âm nhạc và chỉ huy dàn giao hưởng, người Áo-Bohemian, với những tác phẩm đánh dấu sự phát triển tới đỉnh cao của nhạc giao hưởng thời kỳ hậu-lãng mạn và là người có nhiều ảnh hưởng đối với các nhạc sỹ của thế kỷ XX. Ông sinh ở Kaliště (tiếng Đức là Kalischt, nay thuộc Cộng Hoà Séc), được cha mẹ cho học piano từ lúc sáu tuổi. Năm 15 tuổi ông đi học tại Nhạc Viện Vienna, được thụ giáo các bậc thầy tài giỏi. Ba năm sau ông theo học Đại Học Vienna. Ở đây, ngoài âm nhạc ông còn theo học lịch sử và triết học. (Các nhạc sỹ Việt Nam của tôi ơi, muốn viết được cái gì để đời thì cũng nên theo chân Mahler mà đi học những thứ ấy đi chứ). Tác phẩm đầu tiên của ông ra đời tại đây năm 1878, đó là một bản cantata mang tên Das klagende Lied (Tạm dịch: Lời than van. Sao mới đầu đời mà đã than khóc vậy? Xuất phát điểm của thiên tài phải chăng chính là NỖI ĐAU?). Từ năm 1880 ông trở thành trợ lý chỉ huy dàn giao hưởng tại Bad Hall. Sau đó ông chỉ huy nhiều vở nhạc kịch ở nhiều thành phố trung tâm châu Âu: ở Ljubljana năm 1881, Olomouc năm 1882, Vienna và Kassel năm 1883, Prague năm 1885, Leipzig năm 1886, Budapest năm 1888. Năm 1887 ông trở nên nổi danh sau khi chỉ huy vở Der Ring des Nibelungen (Vòng tròn Nibelung) của Wagner. Năm sau đó đem lại cho ông những cả những thành công về tài chính sau khi dàn dựng vở Die drei Pintos (Ba con ngựa khoang) của Carl Maria von Weber. Còn thiên tài Brahms có ấn tượng mạnh với tài chỉ huy của ông trong việc dựng vở Don Giovanni của Mozart. Từ 1891 đến 1897 ông chỉ huy tại Nhà Hát Opera Hamburg. Trong có mấy năm, từ 1883 đến 1896, ông vừa ngồi sửa bản Giao hưởng số 1 (trình diễn lần đầu năm 1889) vừa viết bản Giao hưởng số 2, phác thảo bản Giao hưởng số 3 và viết phần lớn tập ca khúc Lieder aus “Des Knaben Wunderhorn” (Những bài ca từ “Tiếng tù và thần diệu của chàng trai”) dựa trên các bài thơ dân gian. Ở tuổi 37 ông trở thành Giám Đốc của Nhà Hát Opera Hoàng Gia Vienna – vị trí có thanh thế nhất, “vương giả” nhất trong ngành âm nhạc của đế chế Áo khi đó. Nhờ những nỗ lực trong nhạc kịch, Vienna đã trở thành trung tâm nhạc kịch nổi tiếng toàn thế giới trong những thập kỷ sau đó. Mahler làm ở Nhà Hát mỗi năm chín tháng nên ông chỉ còn mùa hè để sáng tác. Những năm này ông đã viết các bản giao hưởng số 5, 6, 7, 8 và nhiều tác phẩm khác tại vùng hồ Wörthersee. Năm 1902 ông lập gia đình với Alma Schindler trẻ hơn ông 20 tuổi. Họ có hai con gái, đứa đầu chết vì bệnh bạch hầu khi mới năm tuổi vào năm 1907.

Cái chết của cô con gái đã làm Mahler đắm chìm trong đau khổ. Chưa hết, cùng năm đó ông phát hiện tim mình bị bệnh viêm màng trong, một căn bệnh ghê gớm không cho phép ông hoạt động hay làm làm việc nhiều. Đã thế ở Nhà Hát lại mọc ra nhiều kẻ thù. Và ông tuyên bố nghỉ hưu ngay năm đó.

Âm nhạc của Mahler gặp phải sự chống đối dữ dội của giới phê bình. Họ cho rằng các bản giao hưởng của ông có sự “trà trộn bừa bãi” giữa truyền thống và những chủ đề tạp nham. Việc ông đặt cạnh nhau các loại văn hoá từ rất cao xa tới bình dân, cùng với các đặc tính khác nhau của các sắc tộc thiểu số, làm cho các nhà phê bình bảo thủ bị xúc phạm. Lúc ấy là thời mà các tổ chức của quần chúng lao động mọc lên khắp nơi, dẫn đến những cuộc bạo động xô xát giữa các nhóm người Đức, Séc, Hung, Do-thái ở đế quốc Áo-Hung. Tuy nhiên Mahler luôn có rất nhiều người hâm mộ nhiệt thành. Càng về cuối đời công chúng của ông càng đông đảo, nhất là khi ông công diễn bản Giao hưởng số 2 tại Munich vào năm 1900 (và sau đó tại Vienna năm 1907), rồi bản Giao hưởng số 3 ở Krefeld năm 1902, đặc biệt nhất là bản Giao hưởng số 8 hoành tráng ở Munich năm 1910.

Ngay sau khi ông rời bỏ bọn người đáng tởm và Nhà Hát Opera Vienna, người Mỹ lập tức đã chìa tay ra mời. Và ông đã nhận lời chỉ huy Nhà Hát Opera Metropolitan ở New York từ 1908 đến 1910. Tại đây ông trở nên vô cùng nổi tiếng với công chúng và cả giới phê bình, nhưng lại gặp thái độ ghẻ lạnh của ban lãnh đạo Nhà Hát. Rã rời trở về châu Âu, lại thêm cuộc hôn nhân đang rất khủng hoảng, ông đã phải đến gặp Sigmund Freud vào năm 1910 vì bị suy sụp thần kinh. Freud đã giúp ông gượng dậy được.

Sau đó Dàn Nhạc Giao hưởng New York lại mời ông ký hợp đồng, ông lại cùng gia đình sang Mỹ làm việc từ 1910 đến 1911. Tại đây ông đã hoàn thành Das Lied von der Erde (Bài ca Trái Đất) và bản Giao hưởng số 9, tác phẩm cuối cùng được hoàn thiện của ông. Tháng hai năm 1911 ông bị ốm nặng vì bệnh nhiễm chuỗi cầu khuẩn máu. Ông yêu cầu được đưa về Vienna và qua đời tại đây ngày 18.5.1911 với bản Giao hưởng số 10 đang viết dang dở. Từ cuối cùng ông thốt lên là “Mozartl” (Tạm dịch: “Thưa Mozart bé nhỏ”). Trước đó, ông đã yêu cầu được chôn bên cạnh con gái với một đám tang lặng lẽ. Một ngày sau khi ông mất, một cơn bão lớn nổi lên với những trận mưa xối xả làm người ta nghĩ rằng đám tang không thể tổ chức được. Thế nhưng, một đám đông khổng lồ đã, đúng như ý nguyện của ông, đi theo ông trong lặng lẽ. Ngay vào khoảnh khắc hạ quan tài thì mặt trời ló ra khỏi mây. (Thế đấy! Trời cũng biết khóc thương cho những thiên tài? Hay là trời cũng đố kỵ với họ? Hay là trời cũng biết xấu hổ với những hành vi bất nhất của mình?)

Gustav Mahler từng nói: “Tôi đã ba lần ‘mất nhà’. Lần thứ nhất khi tôi là một người Bohemia ở Áo, lần thứ hai như một người Áo giữa những người Đức, và cuối cùng như là một người Do-thái trên thế giới này. Ở đâu tôi cũng như một kẻ không được mời, không ai chào đón.” Như một “trớ trêu thường tình”, vợ ông mãi 50 năm sau mới mất, để rồi bà ta có điều kiện viết những điều không hay ho về ông.

Mahler là người cuối cùng trong thế hệ các nhạc sỹ giao hưởng trường phái Vienna với những Haydn, Mozart, Beethoven và Schubert cho tới các nhà Lãng mạn như Bruckner và Brahms. Ông cũng gắn bó với các nhạc sỹ lãng mạn phi-Vienna như Schumann và Mendelssohn. Ảnh hưởng lớn nhất tới ông chính là Wagner.

Thể loại mà Mahler gắn bó chỉ có hai: giao hưởng và ca khúc. Chỉ có duy nhất bản Das Lied von der Erde là sự kết hợp giữa giao hưởng và ca khúc. “Tinh thần ca khúc” luôn có trong tác phẩm của ông. Cái này thì ông học theo Schubert và Schumann, nhưng khác với hai ông, Mahler không sử dụng piano để đệm mà dùng đến cả dàn nhạc. Do bị thất tình trong quan hệ với một ca sỹ ở Kassel, ông đã nẩy hứng mà viết phần ca từ thật tuyệt cho bài Lieder eines fahrenden Gesellen (Những bài ca về một người du hý) về một người tình bị tình phụ lang thang đơn độc khắp hành tinh.

Nhận thức sâu sắc về những sắc mầu phong phú của dàn nhạc, Mahler đã đưa vào các bản giao hưởng của mình đầy ắp những giai điệu dạt dào và những hoà âm đầy biểu cảm, làm bật lên những âm chất tươi sáng. Những sáng tạo khác của ông còn là sự kết hợp hết sức biểu cảm của các loại nhạc cụ trên cả hai thang âm lớn và nhỏ, tăng cường vai trò của bộ gõ, kết hợp giọng ca và dàn hợp xướng trong hình thức giao hưởng, cùng với việc sử dụng âm rung cực đại trong đối âm. Phong cách dàn nhạc của ông chính là dựa trên đối âm; hai giai điệu có thể kích nhau lên gần như song hành, đưa ra sự rõ nét và trong sáng trên nền của vô vàn những âm thanh cuồng mê.

Thường thì các tác phẩm của ông có âm hưởng của những bài dân ca và dân vũ của người nông dân Áo. Chính một điệu dân vũ của Áo có tên Ländler đã phát triển thành điệu minuet rồi sau đó thành điệu valse, và điệu Ländler này xuất hiện trong một số bản giao hưởng của Mahler. Còn trong bản Giao hưởng số 9 thì cả ba điệu kể trên đều có mặt.

Mahler kết hợp được các ý tưởng của chủ nghĩa lãng mạn và các giai điệu của ca khúc trong các bản giao hưởng của mình dựa trên sự phát huy khả năng của cả dàn nhạc giao hưởng. Kết quả là ông đã mở mang, thậm chí đập bỏ lối hiểu thông thường về thể loại giao hưởng trong khi ông thám hiểm những con đường để mở rộng âm nhạc của mình. Ông đã có lần nhận định rằng giao hưởng cần phải là “tất cả thế giới”. Tất nhiên, ông đã gặp nhiều khó khăn trong việc trình diễn được tác phẩm của mình (dàn nhạc nào muốn dựng các tác phẩm của ông đều rất dũng cảm và có đẳng cấp mới dám làm, trình diễn nhạc của ông người ta không thể đoán biết được nốt tiếp sau sẽ là nốt gì), và ông thường xuyên phải viết đi viết lại các chi tiết cho đến khi hài lòng với hiệu quả của tác phẩm.

Ông là người sâu thẳm về tinh thần và thường xuyên đưa âm nhạc của mình đến với thiên nhiên. Vì thế, suốt một thời gian dài sau khi ông mất, có quan điểm cho rằng nhạc của ông quá sướt mướt. Ngoài ra, ông còn như một người thợ thủ công hết lòng trong âm nhạc, thể hiện trong những phương pháp làm việc hết sức cần mẫn, lập kế hoạch kỹ càng, và cả trong công việc nghiên cứu các nhạc sỹ tiền bối.

Phần hoà âm trong nhạc của Mahler nhiều khi cực kỳ sáng tạo, vượt qua mọi giới hạn của các khoá nhạc thông thường. Dĩ nhiên, vì khoá nhạc là một nguyên lý mang tính cấu trúc và biểu cảm nên đối với Mahler hết sức là quan trọng. Ông đã gọi tên phương pháp của mình là “khoá nhạc cấp tiến”. Trong khi bản Giao hưởng số 1 của ông rõ ràng là viết theo cung Re trưởng thì bản Giao hưởng số 2 đã “cấp tiến” từ cung Do thứ đến kết ở cung Mi giáng trưởng. Bản Giao hưởng số 3 thì chương đầu bắt đầu với Re thứ nhưng kết ở Fa trưởng, đến chương cuối thì lại là cung Re trưởng. Bản Giao hưởng số 4 kết thúc với cung Mi trưởng trong sáng, cách rất xa cung Sol trưởng chủ đạo của tác phẩm. Bản Giao hưởng số 5 đi từ một đám tang ở cung Do thăng thứ qua những chuyển động vô vọng trong bạo loạn ở cung La thứ đến những vũ điệu sôi động ở cung Re trưởng, rồi đến chương Adagietto ở cung Fa trưởng và chương kết huy hoàng ở cung Re trưởng. Trái lại, bản Giao hưởng số 6 bắt đầu ở La thứ, kết cũng ở La thứ, đồng hành với một phần chậm rãi ở cung Mi giáng trưởng với một khúc scherzo mạnh mẽ sinh động ở cung La thứ. Bản Giao hưởng số 7 thì cực kỳ “cấp tiến” với những chuyển động đầu tiên từ cung Si thứ rồi kết ở Mi trưởng, chương cuối lại dâng lên lời tôn vinh trong Do trưởng. Bản Giao hưởng số 8 thể hiện những ý tưởng đầy biểu cảm với một cấu trúc bắt đầu và kết thúc đều ở Mi giáng. Ngược lại, bản Giao hưởng số 9 — “từ biệt” — đã chuyển từ cung Re trưởng từ lúc đầu sang cung Re giáng trưởng ở chương cuối. Bản Giao hưởng số 10 như những gì ta thấy thì Mahler đã có ý định rất rõ ràng là sẽ khởi đầu và kết thúc đều ở Fa thăng trưởng. Như thế có thể thấy rằng không phải ai cũng dám đem Mahler ra mà trình diễn. Dàn nhạc Giao Hưởng Việt Nam hiện nay có thể nói là khá có dũng khí khi mang Mahler ra diễn trong các chương trình của mình từ 2007 đến 2011.

Nói chuyện DŨNG KHÍ thì đây là một trong hai phẩm tính mà Đức Phật trân quý nhất. Nhưng nếu chỉ có cái “khí khái xằng” thì cũng chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ, chưa nói đến việc trở thành tên “đại phá hoại”. Người ta còn rất cần cái phẩm tính thứ hai kia nữa, đó là TRÍ TUỆ. Tuy nhiên, nếu được “dồi dào cả hai” thì người ta đã thành “siêu nhân” hay làm Thánh mất rồi.

Hiếm nhạc sỹ làm được như Mahler trong việc thoải mái “trộn” “kính thưa các kiểu” vào trong tác phẩm của mình. Người ta sẽ càng bị ấn tượng mạnh mẽ hơn khi đắm mình vào trong dòng chẩy của âm nhạc của ông giữa các bản giao hưởng với nhau, giữa các bản giao hưởng với các bài ca, để rồi đọng lại âm hưởng của một câu chuyện kể kỳ vĩ. Ta có thể nghe thấy chất liệu trong bản Giao hưởng số 3 cũng xuất hiện trong chương cuối của bản Giao hưởng số 4; ý tưởng trong phần đầu của bản số 4 đã mở ra bản số 5; những hoà âm “bi thương” được nhắc đi nhắc lại trong bản số 6 (một hợp âm trưởng hạ xuống một hợp âm thứ) đã tái xuất đầy kinh ngạc trong bản số 7; một chủ đề trong bản số 1 đã được nhắc lại trong phần đầu của bản số 9.

Bị ám ảnh bởi việc Beethoven viết dở dang bản Giao hưởng số 9 thì “đứt phim” nên Mahler rất sợ số 9. Vì thế ông đã ở tâm trạng rất kinh hãi khi viết tác phẩm thứ 9 của mình. Đó là lý do Mahler đã không “đánh số” cho một tác phẩm kiểu giao hưởng ông viết sau bản Giao hưởng số 8 – bản Das Lied von der Erde. (Nhạc sỹ Mỹ Leonard Bernstein [1918–1990] coi tác phẩm này là “nhận định bằng âm nhạc có tính tiên tri” cho cuộc khủng hoảng về nhạc cổ điển trong thế kỷ XX). Viết xong tác phẩm này năm 1908, Mahler hiểu rằng ông không còn sống lâu nữa. Không những thế, trong các tác phẩm của mình ông còn tiên cảm cho cái chết sắp đến của những khoá nhạc trưởng/thứ, cũng là ngụ ý cái chết của “nền văn hoá Faust”, và thậm chí, cả loài người (Thế chiến I đã hiển hiện rõ ràng).

Leonard Bernstein cho rằng âm nhạc của Mahler đã “tiên đoán” những cơn đại hồng thủy của thế kỷ XX (Thế Chiến I, đại khủng hoảng kinh tế, chủ nghĩa bài Do-thái [từ 1897 Mahler đã có tiên cảm để cải đạo sang thiên chúa giáo La-mã], rồi Thế Chiến II). Những thảm hoạ đó là tổng hợp những nguyên nhân ngăn cản các cuộc trình diễn các tác phẩm của ông suốt từ năm 1911 đến giữa thế kỷ. Điều đó lý giải tại sao những bậc tiên phong về nhạc Tây phương của Việt Nam trước năm 1954 (như Huỳnh Thủ Trung, Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Ngữ, Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Doãn Mẫn, Văn Cao, Phạm Duy, Tạ Phước [1919–1977, Hiệu trưởng Nhạc viện Hà Nội 21 năm]) đã không biết rõ về Mahler, và vì thế mà sau này người Việt cũng ít biết về ông.

Trong chuyến lưu diễn ở Phần-lan năm 1907, Mahler đã nói: “Giao hưởng cần phải như thế giới này: nó phải ôm vào lòng mình tất cả.” Mang triết lý này vào hiện thực, ông đã đưa thể loại giao hưởng đến một tầm phát triển mới về nghệ thuật. Tăng cường phạm vi các tương phản trong các phần của một bản giao hưởng đã mở rộng mọi mặt của nó (với thời lượng 95 phút, bản Giao hưởng số 3 gồm 6 phần là bản giao hưởng dài nhất trên đời; buổi công diễn ra mắt bản Giao hưởng số 8 có tới một nghìn diễn viên, vì thế người ta đã đặt tên cho bản này là “Bản Giao hưởng 1000”). Các giọng ca và dàn hợp xướng (với ca từ lấy từ dân ca, thơ dân gian, văn học Trung Quốc, Nietzsche, Goethe, thần/huyền thoại thiên chúa giáo La-mã thời Trung Cổ) đã đưa ra nội dung có tính triết học và tự truyện.

Mahler đã tạo ra những ảnh hưởng rất to lớn. Nhạc sỹ Áo Arnold Schoenberg (1874–1951) phong ông là “thánh”: “một tấm gương của những tấm gương, quên mình để cống hiến cho nghệ thuật, rộng lòng với các nhạc sỹ trẻ và bị đối xử tệ bạc nhất”. Alban Maria Johannes Berg (1885–1935), một nhạc sỹ Áo khác, hoàn toàn chịu ảnh hưởng của âm nhạc Mahler. Ông này coi bản Giao hưởng số 6 “Bi thương” của Mahler là “bản số 6 duy nhất, cho dù trên đời đã có bản Đồng quê”.[1] Còn nhạc sỹ Áo Anton Webern (1883–1945) thì ngoài việc đứng ra chỉ huy nhiều bản giao hưởng của Mahler, các tác phẩm của ông này đều có Mahler. Ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ của Mahler tới các nhạc sỹ đại tài sau này là Benjamin Britten (1913–1976, nhạc sỹ Anh) và Dmitri Shostakovich (1906 – 1975, nhạc sỹ Nga). Ở Mỹ. Mahler đã ảnh hưởng đến nhạc sỹ Aaron Copland (1900–1990), người đã phát triển cái gọi là “âm thanh Mỹ đích thực”.

Trong những nhạc sỹ hàng đầu cũng có người ghét ông. Họ thường cho rằng những mục tiêu sáng tạo của ông thì mang tính biểu cảm một cách quá khích, tuy họ vẫn công nhận “trình độ kỹ thuật” của ông. Nhạc sỹ danh tiếng người Nga Igor Stravinsky (1882–1971) đã gọi tên ông chệch theo tiếng Pháp là “malheur” (nghĩa là “tai hoạ”). Nhạc sỹ Anh Ralph Vaughan Williams, O.M. (1872–1958), người từng được Hoàng gia Anh trao Order of Merit (Huân chương Thành tựu, người được trao tặng sẽ được mang hai mẫu tự “O.M.” sau tên gọi của mình), mô tả ông là “một bản sao có thể chấp nhận được của một nhà soạn nhạc”.[2] Thế nhưng, vào cuối thế kỷ XX thì những sáng tạo âm nhạc có một không hai của ông đã được xem là xương thịt của Modernism (chủ nghĩa hiện đại); và những đặc tính rất “choáng” trong âm nhạc của ông như là sự gián cách cực đoan và bất ngờ, thiên hướng parody (giễu nhại), trích dẫn (của người khác và cả của mình) cùng với việc đặt cạnh nhau những phong cách cả “cực cao” lẫn “cực thấp” thì đã thành những đặc tính nổi bật của Post-modernism (chủ nghĩa hậu-hiện đại).

Ngoài sự ảnh hưởng tới các “cao thủ” như Shostakovich, Britten và Copland, Mahler còn có ảnh hưởng tới Richard Strauss, Havergal Brian, Kurt Weill, Leonard Bernstein, Malcolm Arnold, Luciano Berio, Alfred Schnittke, Alexander von Zemlinsky, và trong những người còn sống phải kể đến Uri Caine (nhạc sỹ Mỹ, 1956~).

Những khó khăn trong việc chấp nhận các tác phẩm của ông đã làm Mahler phải thốt lên: “Thời của tôi sẽ đến”. Cái “thời” đó là giữa thế kỷ XX. Vào năm 1956, tất cả các tác phẩm của ông đã được phát hành trên đĩa nhựa. Được sự truyền bá của nhiều nhạc sỹ tài danh, các tác phẩm của ông đã chiếm trọn trái tim của một thế hệ thính giả đang khát khao một làn sóng mới trong cuộc thám hiểm âm nhạc. Vào cuối thế kỷ XX, nhờ có những phương pháp mới, nhiều nhạc sỹ nẩy ra ý định muốn viết tiếp bản Giao hưởng số 10 của Mahler, trong đó có nhạc sỹ người Anh Deryck Cooke (1919–1976).

Dù được coi là người viết nhạc “khó”, từ những năm 1960 ông đã có mặt trong văn hoá pop. Mahler được coi là hiện thân của nhân vật Gustav von Aschenbach trong một tác phẩm của văn hào đoạt Nobel người Đức Thomas Mann. Năm 1974 đạo diễn người Anh Ken Russell đã làm bộ phim Mahler với diễn viên nổi tiếng Robert Powell đóng vai Mahler. Nhà soạn kịch người Anh Ronald Harwood đã viết vở Mahler’s Conversion (Cuộc cải đạo của Mahler) vào năm 2001. Nhạc Mahler đã xuất hiện trong rất nhiều bộ phim và các chương trình truyền hình. Nhạc của ông thường được dùng để biểu tả một nhân vật đang trong cơn bấn loạn hoặc một người có tính cách Bohemian. Ở Anh, những nốt nhạc đầu tiên trong phần hai của bản Giao hưởng số 7 suốt nhiều năm qua đã trở nên quen thuộc trong đoạn phim quảng cáo dầu nhờn Castrol GTX trên truyền hình. Bài hát “Ladies Who Lunch” trong bộ phim ca nhạc Company đã vay mượn nhạc của ông. Phần II của bản Giao hưởng số 1 của Mahler được dùng trong phim Star Trek: Voyager — phần “Counter Point” (Đối âm) — tất nhiên, cách sử dụng đối âm của Mahler đã được đưa ra bàn luận ở phần này. Trong loạt phim truyền hình của Nhật Kekkon Dekinai Otoko nhân vật chính Shinsuke Kuwano đã chơi chương cuối của bản Giao hưởng số 5 liên tục trong căn hộ của mình.

Nhà Hát Giao Hưởng Việt Nam vừa trình diễn bản Giao hưởng số 6 cung La thứ của Mahler mang tên Bi thương. Mahler sáng tác bản này trong suốt mùa hè năm 1903 đến năm 1904 và chính thức hoàn thành tác phẩm vào ngày 1 tháng 5 năm 1905 (cách đây chẵn 103 năm). Ông cũng chính là người chỉ huy trong lần ra mắt tác phẩm lần đầu tiên vào ngày 27 tháng 5 năm 1906 tại Essen (Đức). Bản giao hưởng này gồm 4 chương: Allegro energico, ma non troppo; Scherzo; Andante moderato và chương kết: Allegro moderato – Allegro energico. Các nhà chỉ huy thường vẫn tráo thứ tự của hai chương giữa cho nhau. Khác với các bản số 2, 3, 4 và 8 bản số 6 không có phần hợp xướng. Phần cuối của Bi thương bị ngắt bởi ba nhát búa, thể hiện ba đòn của định mệnh giáng vào ông: cái chết của cô con gái lớn, căn bệnh tim khủng khiếp và việc ông bị bắt buộc từ chức ở Nhà Hát Opera Vienna. Đã có lúc Mahler đã loại bỏ ba nhát búa này ra khỏi tác phẩm nhưng người ta vẫn đưa chúng ra biểu diễn. Cách kết của bản này có thể nói là “hung bạo” nhất trong âm nhạc.

Sau khi nghe xong tôi xin ghi lại đây phần note-taking của mình như một lời kết:

Những thanh âm xót xa thăm thẳm như Tchaikovsky. Bi tráng như Beethoven. Tinh tế, hồn nhiên, tươi mới như Mozart. Loạn nhưng rất trật tự. Man man. Tiếng sáo Thiên Đường. Tiếng tù và âm u Địa Ngục. Vô vọng vì đầy khát vọng. Khắc khoải lủng lẳng. Vô nghĩa, vô nghĩa, vô nghĩa quá. Những vật lộn. Bải hoải. Co giật. Loạn chiêu. Chán nản. Hết hơi. Hồi sinh. Hưng phấn. Thăng hoa. Lại rơi vào trầm uất. Phân huỷ. Bốc hơi. Hùng tráng. Chiến thắng. Vũ trụ ca… Nghe đâu đây những giai điệu như từ Tây Tạng, Hàn Mặc Tử, Huy Cận (cũ), Chế Lan Viên (xưa), truyện cổ tích...

 

30.4.2008

 

------

 

_________________________

[1]“Đồng quê” là tên bản Giao hưởng số 6 của L.V. Beethoven.

[2]Nguyên văn: “a tolerable imitation of a composer”.


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018