kịch hình thể | sân khấu đồng hiện | nhận định sân khấu | kịch bản |
sân khấu
Ru

 

Bản dịch của Nguyễn Đăng Thường

 

SAMUEL BECKETT

(1906-1989)

 

Lời người dịch:
        Với các nhân vật và các mảnh đời giống nhau, với những lời đối thoại / độc thoại và những màn kịch tương tự, lập đi lập lại, hệt mà khác, khác mà hệt, sân khấu Beckett tất nhiên đã phản ánh cuộc đời của đại đa số chúng ta. Beckett vừa là cái thế giới tuyệt vọng của chiến tranh và vũ khí hạt nhân đang đe dọa loài người, vừa là cái thế giới tả tơi tro bụi hậu-Hiroshima. Mặc dầu vậy, cái không gian đen và cái không khí đen ấy, cũng đã được chiếu rọi bằng những điểm sáng của ánh đèn. Và sự hài hước.
        Cuộc đời rất oái oăm, khó hiểu, nhiều khổ đau hơn hạnh phúc. Cuộc đời là một sự phi lý. Cho nên nhân vật truyện và kịch Beckett - thường là không tên và chỉ là một lời độc thoại lải nhải, triền miên để chứng tỏ rằng mình còn sống - luôn luôn chế diễu cái cảnh phù du của nhân thế, nguyền rủa các đấng sinh thành.[*] Trước khi chìm vào giấc ngủ ngàn thu, không tiếc thương không bịn rịn, N, nhân vật nữ trong kịch bản Ru, chỉ dung tục một tiếng fuck life, để giã từ trần giới, mà tôi xin tạm dịch là “cuộc đời cái con khỉ”.
        Ru (Rockaby) là một bài thơ hiện sinh, là một điệp khúc về sự cô đơn, và tuổi già, và cái chết. Nó còn có thể là một bức tranh trừu tượng với những mảng màu đen, trắng, xám trên sàn gỗ. Nó cũng có thể là nhiều thứ khác nữa tùy ở mỗi cá nhân. Nhưng trước tiên, nó là cuộc đời y hệt của hai phụ nữ, một bà mẹ già đã hơi khật khùng và một cô gái lỡ thời, còn khoác chiếc áo dài của tuổi thanh xuân. Hai mảnh đời trơ trọi, hai kiếp người lẻ loi, được tác giả thu gọn trong một ngày độc nhất, ngày cuối cùng của cô gái trên dương thế.
        Beckett nói các vở kịch của ông không nhằm tả chân sự việc ngoài đời, mà chỉ cốt diễn tả những tâm trạng. Đối với Hamm, nhân vật bị mù lòa và tê liệt trong kịch bản Chung cuộc (Endgame), thì chẳng có cái gì khôi hài hơn là sự bạc phước.

 

__________________

 

RU

 

Ánh sáng:
Mờ và yếu dần trên chiếc ghế. Sân khấu trong bóng tối. Một ánh đèn tròn rọi lên khuôn mặt nhân vật nữ, tuy cũng mờ nhưng không thay đổi, trong khi ánh sáng trên chiếc ghế cứ yếu dần. Ánh đèn tròn có thể khá rộng để khán giả có thể nhìn thấy rõ sự đu đưa yếu ớt, hay chỉ tập trung vào khuôn mặt thôi, khi chưa khởi sự hoặc khi đã đu đưa.
Lúc đầu: chỉ có ánh đèn tròn rọi lên trên khuôn mặt, một lúc lâu, rồi chiếc ghế mới đần dần hiện ra trong ánh sáng mờ mờ.
Lúc cuối: ánh sáng tắt trên chiếc ghế, chỉ còn lại ánh đèn tròn trên khuôn mặt, một lúc lâu, cái đầu rũ xuống nằm bất động, đèn tắt.
 
N:
Khuôn mặt của nàng đã già trước tuổi. Mái tóc bạc và rối. Đôi mắt mở to trên khuôn mặt trắng bệch. Đôi tay trắng bệch bấu chặt vào thành ghế.
 
Mắt:
Lúc thì khép chặt lúc thì mở to không chớp. Thời gian khép và mở cần phải được chia đều trong phần 1, phân nửa khép phân nửa mở. Trong phần 2 và 3, khép nhiều hơn mở. Nhắm hẳn lại từ giữa phần 4 cho tới lúc vở kịch chấm dứt.
 
Y phục:
Áo dài dạ hội màu đen có viền ren, phủ kín thân hình từ cổ xuống tới chân. Tay dài. Các vảy bạc đính vào vạt áo lấp lánh trong lúc đu đưa. Chiếc mũ lệch như sắp rơi, có kết những trang trí rất lạ kỳ để bắt ánh sáng lúc đu đưa.
 
Thái độ:
Toàn thân bất động cho đến lúc ánh sáng tắt trên ghế. Rồi cái đầu gục xuống trong ánh đèn tròn.
 
Đu đưa:
Yếu và chậm. Không do tác động của N, mà được điều khiển bằng máy.
 
Ghế:
Bằng gỗ, không sơn phết nhưng đánh thật bóng để bắt ánh sáng, và có thêm chỗ gác chân. Lưng ghế thẳng. Hai tay vịn cong và tròn đầu, như thể để cho dễ nắm.
 
Tiếng nói:
Nhỏ, đều, không biểu lộ tình cảm, yếu dần từ câu «không thể tiếp tục được nữa». Các câu chữ nghiêng được N phát âm chung với T, mỗi lần lại nhỏ hơn. Lệnh «Nói nữa đi» của N, mỗi bận càng yếu dần.
 
N - Nhân vật nữ ngồi trên ghế xích đu.
T - Tiếng nói thâu băng của nàng.
 
Đèn rọi lên mặt N đang ngồi trên một chiếc ghế xích đu đối diện khán giả, nhưng hơi lệch về mé trái.
Một lúc lâu.

 

N:

Nói nữa đi.

 

Một lát. Nói và đu đưa đồng thời.

 

T:

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

nàng cũng phải nói

cũng phải thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

đừng lang thang nữa

đừng tới chỗ nọ chỗ kia

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một người như nàng

một kẻ lạ mặt như nàng

từa tựa như nàng

lang thang như nàng

tới chỗ nọ chỗ kia

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một người

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

nàng cũng phải nói

cũng phải thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

đừng đi đâu nữa

đừng tới chỗ nọ chỗ kia

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một mảnh linh hồn còn sống

một mảnh linh hồn độc nhất vẫn còn sống

vẫn còn lang thang

tới chỗ nọ chỗ kia

đôi mắt mở to như đôi mắt nàng

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một người

một người như nàng

từa tựa như nàng

lang thang như nàng

tới chỗ nọ chỗ kia

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

nàng cũng phải thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

đừng lang thang nữa

đừng tới chỗ nọ chỗ kia

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

 

Đồng thanh: những vọng âm của «nên chấm dứt», ngừng đu đưa, ánh sáng yếu bớt.
Một lúc lâu.

 

N:

Nói nữa đi.

 

Một lát. Nói và đu đưa đồng thời.

 

T:

bởi thế cho nên

cuối một ngày rất dài

nàng đã trở về nhà

và đã thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

đừng lang thang nữa

đừng tới chỗ nọ chỗ kia

mà phải trở về nhà

ngồi bên khung cửa sổ

ngồi lặng im bên khung cửa sổ

đối diện những khung cửa sổ khác

bởi thế cho nên

cuối một ngày rất dài

nàng đã trở về nhà

ngồi bên khung cửa sổ

vén tấm màn lên và ngồi

ngồi lặng im bên khung cửa sổ

khung cửa sổ độc nhất

đối diện những khung cửa sổ khác

những khung cửa sổ độc nhất khác

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một người

một người ngồi bên một khung cửa sổ

một kẻ lạ mặt như nàng

từa tựa như nàng

một mảnh linh hồn khác còn sống

một mảnh linh hồn độc nhất khác vẫn còn sống

đã trở về nhà như nàng

rốt cục cũng đã trở về nhà như nàng

cuối một ngày rất dài

và cũng đã thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

đừng lang thang nữa

đừng tới chỗ nọ chỗ kia

mà phải trở về nhà

ngồi bên khung cửa sổ

ngồi lặng im bên khung cửa sổ

khung cửa sổ độc nhất

đối diện những khung cửa sổ khác

những khung cửa sổ độc nhất khác

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một người

một người như nàng

từa tựa như nàng

một mảnh linh hồn còn sống

một mảnh linh hồn độc nhất vẫn còn sống

một mảnh linh hồn độc nhất khác vẫn còn sống

 

Đồng thanh: những vọng âm «vẫn còn sống», ngừng đu đưa, ánh sáng yếu bớt.
Một lúc lâu.

 

N:

Nói nữa đi.

 

Một lát. Nói và đu đưa đồng thời.

 

T:

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

ngồi bên khung cửa sổ

ngồi lặng im bên khung cửa sổ

khung cửa sổ độc nhất

đối diện những khung cửa sổ khác

những khung cửa sổ độc nhất khác

màn đã hạ

các tấm màn đều đã hạ xuống

trừ tấm màn của nàng

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

ngồi bên khung cửa sổ

ngồi lặng im bên khung cửa sổ

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

tìm kiếm một tấm màn

một tấm màn cửa sổ khác còn mở hé

một tấm màn cửa sổ độc nhất khác vẫn còn mở hé

chỉ thế thôi

không cần phải có một khuôn mặt

sau khung kính

không cần phải có một đôi mắt

thèm thuồng như đôi mắt nàng

thèm được ngó

thèm được người khác ngó

không có

một tấm màn nào còn để mở hé

như tấm màn của nàng

từa tựa như tấm màn của nàng

chỉ cần có một tấm màn vẫn còn để mở hé

và nơi ấy có một kẻ khác

tại một chỗ nào đó

sau khung kính

một mảnh linh hồn khác còn sống

một mảnh linh hồn độc nhất khác vẫn còn sống

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

nàng cũng phải nói

cũng phải thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

ngồi bên khung cửa sổ

khung cửa sổ độc nhất

đối diện những khung cửa sổ khác

đôi mắt mở to

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

đã đến lúc nên chấm dứt

đã đến lúc nên chấm dứt

 

Đồng thanh: những vọng âm của «nên chấm dứt» ngừng đu đưa, ánh sáng yếu bớt.
Một lúc lâu.

 

N:

Nói nữa đi.

 

Một lát. Nói và đu đưa đồng thời.

 

T:

bởi thế cho nên

cuối một ngày rất dài

nàng đã đi xuống

rốt cục nàng cũng đã đi xuống

trên các bậc thang dốc

nàng đã hạ màn và nàng đã đi

xuống nhà dưới

ngồi trên chiếc ghế xích đu cũ

chiếc ghế của mẹ nàng

chiếc ghế mẹ nàng đã ngồi

quanh năm suốt tháng

trong bộ đồ đen đẹp nhất

xích tới xích lui

xích hoài xích mãi

chờ đợi phút cuối cùng

cái phút cuối cùng của mẹ nàng

mẹ già nàng đã hơi khùng khùng

tí thôi không nhiều lắm

chỉ hơi khật khùng nhưng cũng vô hại

và bà đã tắt nghỉ trong một ngày

không

trong một đêm

bà đã tắt nghỉ trong một đêm

cuối một ngày rất dài

trên chiếc ghế xích đu

trong bộ đồ đen đẹp nhất

cái đầu rũ xuống

trên chiếc ghế xích đu

xích tới xích lui

xích hoài xích mãi

bởi thế cho nên

cuối một ngày rất dài

nàng đã đi xuống

rốt cục nàng cũng đã đi xuống

trên các bậc thang dốc

hạ màn và đi

xuống nhà dưới

ngồi trên chiếc ghế xích đu cũ

trên cánh tay vẫn còn ru

xích tới xích lui

xích hoài xích mãi

đôi mắt đã nhắm lại

rốt cục chúng cũng đã khép lại

nàng vẫn từ bấy lâu nay

đôi mắt mở to

đôi mắt thèm thuồng

dòm ngó khắp nơi

trên trời dưới đất

ngồi bên khung cửa sổ

chỉ cốt để được ngó

và được người khác ngó

rồi một hôm nào

cuối một ngày rất dài

nàng cũng phải thầm nhủ

bởi chẳng còn ai nữa

đã đến lúc nên chấm dứt

hạ màn và đi

trên các bậc thang dốc

xuống nhà dưới

chính nàng hay là một mảnh linh hồn nào khác

một mảnh linh hồn nào khác hãy còn sống

bởi thế cho nên

cuối một ngày rất dài

nàng đã đi xuống

trên các bậc thang dốc

hạ màn và đi

xuống nhà dưới

ngồi trên chiếc ghế xích đu cũ

xích tới xích lui

xích hoài xích mãi

nàng đã thầm nhủ

không

không thể tiếp tục được nữa

nàng đã bảo chiếc ghế xích đu

bảo cánh tay vẫn còn ru

nàng đã bảo nó

hãy ru cho nàng ngủ

hãy vuốt mắt cho nàng

ạ à à

ạ à ơi

cuộc đời cái con khỉ

hãy vuốt mắt cho nàng

hãy ru cho nàng ngủ

hãy ru cho nàng ngủ

 

Đồng thanh: những vọng âm của «ru cho nàng ngủ», ngừng đu đưa, ánh sáng yếu dần, rồi tắt hẳn.

 

Nguyễn Đăng Thường dịch
đối chiếu theo bản tiếng Anh và tiếng Pháp
 
---------------------
Nguồn: Samuel Beckett, Ru (Trình Bầy, 2000 — trong tủ sách Tư liệu kịch). Bản gốc: Rockaby trong Three Occasional Pieces (Faber and Faber, 1982), và Berceuse (bản tiếng Pháp do tác giả dịch) trong Catastrophe et autres dramaticules (Les Éditions de Minuit, 1986).
 
Chú thích của người dịch:
[*] Khi đọc cuốn tiểu sử Beckett của Deirdre Bair, tôi mới được biết rằng Beckett không đồng ý với lối diễn dịch “cải lương” này, mà đại đa số độc giả cũng như khán giả đều đã vấp phải. Theo lời Beckett thì đó chỉ là một phương tiện kỹ thuật, một cách gọn gàng nhất để cho các nhân vật có thể đột hiện đột biến trên sân khấu. (Deirdre Bair, Samuel Beckett: A biography, New York and London: Harcourt Brace Jovanovich, 1978, tr. 396). Tuy nhiên, các nhà văn, nhất là các nhà văn thích bông đùa, thường tuyên bố những ý tưởng nghịch thường (paradoxe), chí ít là để “chọc quê” các độc giả trịnh trọng khi họ rón rén tiếp cận các tác phẩm, do vậy chúng ta vẫn được quyền (ngụy biện?) tiếp thu một tác phẩm văn học theo cảm xúc riêng, nếu trí tưởng tượng của ta không quá dồi dào phóng túng để dám suy diễn (theo vài nhà phê bình) rồi quả quyết rằng chờ Godot là đợi… Thượng đế!

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018