kịch hình thể | sân khấu đồng hiện | nhận định sân khấu | kịch bản |
sân khấu
GREENWICH – CINCINNATI

 

 

KỊCH NGẮN, HAI MÀN

 

NHÂN-VẬT
Ralph H. Hawthorn, 43 tuổi, Jáo-sư Ngữ-học
Lê Hoàng Tuyển, 40 tuổi, Hoạ-sĩ

 

MÀN MỘT: GREENWICH

 

Ralph và Tuyển ngồi trước tiệm cà-fê, ngay trên vỉa hè. Bên kia đường là trạm xe điện với tấm bảng đề GREENWICH, Metro-North/Amtrak, CT.
 

RALPH: (Tay cầm con vịt “búp bê” nho nhỏ mầu vàng.) Ông thấy ánh sáng đẹp chưa?

TUYỂN: Tuyệt vời. Tôi tưởng chỉ ở New York City của ông mới có.

RALPH: Ông là hoạ-sĩ, sống từ bé ở Paris và mười năm gần đây ở ven Địa Trung Hải mà ông khen thế khiến tôi iên lòng. Tôi cứ ngĩ quê-hương tôi luôn luôn là nhất.

TUYỂN: Đẹp lắm. Ông không biết vẽ thật là uổng!

RALPH: Ông có để í đến tranh của Edward Hopper không?

TUYỂN: A, a, a! À! Tranh hắn thường thôi! Nhưng mà... Rồi!

RALPH: Ánh sáng! Ánh sáng vùng New England đấy!

TUYỂN: Đúng rồi. Nó trong. Tĩnh mịch. Và như chờ đợi tới vô cùng!

RALPH: Ngọt ngào như sáng hôm nay! Như bức Rooms by the Sea, 1951.[1] (ကĐứng zậy, bước hẳn ra ngoài nắng. Đứng ở đó, đưa li cà-fê lên miệng, nhìn Tuyển.) Tranh của Hopper vẽ con fố iên lặng về đêm như Nighthawks, 1942,[2] cũng với vẻ iên lặng, xa vắng, và đìu hiu lãng mạn, lại fảng-fất Art Deco – Một thứ hiện-thực nhưng cũng rất “siêu-hình”.

TUYỂN: Bây jờ ngĩ lại tôi mới hiểu.

RALPH: Khi còn zạy học ở New Rochelle, đôi khi tôi lấy xe điện lên đây, hay lên tận Stamford. Đứng như thế này. Thưởng thức từng zây mới biết mình “bất-tử”

TUYỂN: Ông thích New England?

RALPH: Fải fân biệt hai thứ. New England với lá đỏ về thu và ánh-sáng thì tôi thích. New England với cái gọi là văn-hoá, văn vật (genteel) thì đúng là “zương-vật”, tôi không ngửi được.

TUYỂN: Ông zùng tiếng Việt rất hay. Hay hơn tôi!

RALPH: Ô hay! Bố tôi là Hà Sơn-Hải – Việt Nam thứ thiệt – Bắc-kì thứ zữ. Mẹ tôi là người Anh-cát-lợi. Cho nên tóc tôi ngả vàng có ánh đen. Mắt tôi có chút mầu xanh, Nhưng hốc mẳt tôi lại không sâu. May là mắt tôi không ti-hí.

TUYỂN: (Cười ngất.) Tôi nhớ ông có nói thế khi mình gặp nhau. Một mùa hè ở Paris, ba năm về trước.

RALPH: Năm tôi mười ba, cha tôi nói với mẹ tôi là ông về thăm Việt Nam để chứng kiến cuộc “chiến-tranh thần-thánh”. Bốn năm sau tôi vào đại-hoc Princeton, mà cha tôi vẫn không trở lại.

TUYỂN: Không liên lạc jì hết?

RALPH: Mẹ! Chắc là ông ấy “thần-thánh” luôn rồi.

TUYỂN: Tiếng Việt của ông “khiếp khủng”!

RALPH: Phải nói là “khủng khiếp”.

TUYỂN: Ha! Ông vừa sửa tiếng Việt của tôi!

RALPH: Mới nửa khoá Mùa Xuân, năm thứ hai ở Princeton, tôi hốt hoảng đáp xe điện về New York, thăm mẹ tôi ở Presbyterian Columbia University Hospital. Mẹ tôi sắp qua đời vì ung-thư ngực. Trước khi từ jã lần cuối, mẹ tôi ân cần nhắc nhở: “Mẹ đi. Con ở lại. Không có mẹ con fải can đảm nhé. Mẹ là Anglo mẹ biết Anglo ngĩ jì. Con là con mẹ, nhưng mắt con không hoàn toàn xanh, và tóc con không hoàn toàn vàng! Nếu có ngĩ tới Việt Nam, thử xem “thần-thánh” tới đâu rồi!”

TUYỂN: À ra thế. Bây jờ tôi mới biết.

RALPH: Ơ kia! Qua mấy zẫy fố trên đồi kia. Nếu đứng ở đó ông sẽ thấy Long Island Sound. Tôi gọi là Vịnh Long Island. Xa hơn về fía bắc của Long Island là Mattituck. Đó là nơi ông Hà Sơn-Hải và bà Elizabeth Hawthorn sinh ra tôi.

TUYỂN: Vậy thì cũng như New England!

RALPH: Đúng! Xa hơn nữa là Southold.

TUYỂN: Ở đó có jì?

RALPH: Ở Southold có dinh-cư cháu chắt của nhà tư-tưởng “củ-lột”, transcendentalist Emerson.

TUYỂN: Ông zùng tiếng Việt hay quá!

RALPH: Con zuy nhất của Hà Sơn-Hải mà! Hồi mười lăm tuổi hai mẹ con tôi, từ Mattituck tới Southold thăm cháu gái trưởng của ông “củ lột” Emerson. Hai mẹ con tôi nge bà ta jảng-jải về ja-thế. Xế trưa, đói quá. Bà ta mời chúng tôi vào bếp cho mỗi người ăn hai cái bắp – Bắc-kì nhà ta gọi là “ngô”.

TUYỂN: Đúng rồi! “Ngô”. Tiên-sư ông nói đúng quá!

RALPH: Văn-hoá, văn-vật. Một lần tôi trèo Bear Mountain. Xế chiều mệt bỏ xừ!

TUYỂN: Zùng chữ hay quá!

RALPH: Vào khách sạn ở ngay chân núi thuê fòng nó bảo “không còn fòng”. Thế mà người nào tới sau tôi cũng có fòng! Địt mẹ nó!

TUYỂN: Ơ, hay nhỉ!

RALPH: Một nhân-viên an-ninh nói nhỏ vào tai tôi là cách đấy hai zặm có một Motel. Đêm ấy tôi trở về New York – jã biệt thung-lũng Hudson.

TUYỂN: Ông mà còn như thế. Thân tôi nếu ở đây không biết sẽ ra sao?

RALPH: Một đôi khi tôi đứng trước bọn “genteel” điệu rởm. Tôi ưỡn ngực lên, nhìn thẳng vào mắt họ, í muốn nói “văn-hoá” của tụi mày được là bao? Chúng mày có biết bố chúng mày là ai không?

TUYỂN: Hừ!

RALPH: Địt mẹ nó!

TUYỂN: Ối chao! Ông lại chửi thề!

RALPH: Cái bà cháu trưởng của Emerson bảo tôi thế này, “Học xong trung-học thì đi học ngề. Thằng Bob con tao nó có cử-nhân, nhưng bây jờ nó có nông-trại ở Iowa. Nó là trại-chủ. Lúc rỗi nó viết-văn. Đừng lên đại-học làm jì!”

TUYỂN: (Lắc đầu.) Si, si, si...

RALPH: Mẹ tôi đứng gần đó nge bà ta nói, như nghe bà zạy cháu. Mẹ tôi là cô-jáo tiểu-học iên lặng đưa mắt nhìn tôi. Tôi không bao jờ trở lại thăm bà ta nữa.

 

MÀN

 

MÀN HAI: CINCINNATI

 

Sau cơm tối Ralph và Tuyển lụ khụ nhấm nháp Cognac đến gần nửa đêm. Fòng khách như cảnh một sân ga trong mộng, tĩnh-mịch, không người.
 

TUYỂN: Nhà của ông bé mà đẹp quá! Lại ở trên thế đồi cao.

RALPH: (Đút con vịt “búp-bê” nho nhỏ mầu vàng vào túi ngực.) Chỉ có một ngìn sáu trăm thước vuông Anh. Nhỏ nhất ở khu Washington Avenue và Sixth Street, trong thị-trấn Newport của tiểu-bang Kentucky này.

TUYỂN: Nhà có tới bốn fòng ngủ, một fòng khách lớn, nhà bếp và nhà jặt. Bài trí thơ mộng.

RALPH: Mỗi fòng ngủ nhỏ rộng một trăm bốn mươi bốn thước vuông, có nhà tắm với shower stall, có closet nhỏ, có bàn nhỏ cho computer, có TV, có cửa sổ rộng như toa hành khách. Bọc gỗ quanh tường cho đến tận trần.

TUYỂN: Trên trần fòng khách này có vòm kính một trăm tám mươi độ.

RALPH: Trên sàn có hai cây đèn như quang cảnh tình tứ trên sân ga. Fòng khách này và nhà bếp kia, kể cả nhà jặt tổng cộng bảy trăm ba mươi thước vuông Anh.

TUYỂN: Trông rất thênh thang! Dưới mỗi cái đèn lại có bảng... Jì thế kia?

RALPH: Cái bảng đó? SAN FRANCISCO, chỉ về fòng ngủ bên fải.

TUYỂN: À! WASHINGTON D.C. về fòng ngủ bên trái.

RALPH: Fía sau tôi, CHICAGO bên kia. NEW YORK bên này.

TUYỂN: Một cái nhà cứ như con tầu không ngừng những chuyến viễn-zu.

RALPH: Đấy! Thế đấy! Và lúc nào tôi cũng thấy mình như ở sân ga, gật gù cà-fê, hay một tẹo Cognac cho ấm lòng. Về đâu nhỉ? San Francisco – Washington, D.C. - Chicago – New York. Ôi! Đời của tôi ơi!

TUYỂN: Ông ở Newport. Nhưng ông zạy học ở Cincinnati?

RALPH: Ở đây rẻ hơn. Cái nhà này tôi mua có bảy mươi lăm nghìn. Tân trang mất năm chục ngìn. Làm jì có của ấy ở bên kia sông Ohio! Zù Cincinnati không đắt đỏ. Bên đó bên này cũng như một nhà mà thôi.

TUYỂN: Ông sang đó bằng cách nào? Qua cầu?

RALPH: Qua cầu Newport Southbank, cũng có cái tên là Purple People! Ngày mai tôi đưa ông qua cầu đến thăm Hyde Park, rồi thăm nhà của Beecher Stowe. Stowe là tác-jả cuốn sách nổi tiếng Cái Lều của Chú Tom.

TUYỂN: Ở đâu?

RALPH: Cincinnati.

TUYỂN: Lạ nhỉ? Một người như ông sao lại không có ja-đình?

RALPH: Thiên-nhiên là ja-đình của tôi.

TUYỂN: (Nhìn Ralph, rồi thay đổi đề-tài.) Ban trưa từ fi-trường về cảnh đẹp quá!

RALPH: Lúc rỗi tôi thường lái xe đến gần fi-trường rồi lại lái về. Từ Cincinnati/Northern Kentucky International Airport, tôi lượn theo xa lộ 275, xẹt một chút xíu của Indiana, mới nhô lên đường cong...

TUYỂN: Đã thấy ngay trong thung-lũng một thành-fố mộng mơ.

RALPH: Cincinnati! Như một lâu đài đón cánh chim về. Ông xơi thêm chút nữa.

TUYỂN: (Nhìn Ralph rót Cognac vào li.) Nhưng khi ông lái xe qua một khu ở Cincinnati thì tôi mới thấy.

RALPH: Thấy sao?

TUYỂN: Cảnh tiêu điều. Và tôi chợt hiểu vì sao có lúc con người tự-tử.

RALPH: Ông có tâm-sự rồi!

TUYỂN: Về Fáp tôi sẽ bắt chước ông sửa sang cái nhà ở gần Espagne.

RALPH: Ông nói độ này bán tranh không nhiều như trước?

TUYỂN: (Zuỗi chân, cầm li Cognac lên môi uống, mắt lờ đờ.) Chậm đi nhiều.

RALPH: Tình cảm ja-đình có chậm theo không?

TUYỂN: Có. Bắt đầu từ năm ngoái.

RALPH: Đôi khi tôi thấy ông có thoáng bâng khuâng.

TUYỂN: (Lắc lư đầu, rồi cười nhạt.) Chuyện ja-đình.

RALPH: Ngệ-sĩ là người có rất nhiều tự-zo! Sá jì?

TUYỂN: (Fá lên cười, khoa tay, vô í làm đổ cốc rượu.) Ấy! Tự-zo?

RALPH: (Lấy khăn lau bàn, và cầm cốc lên.) Không sao! Tự-zo nào mà chả có say sưa. (Đứng lên để tay lên cái chốt trên tường.)

Còi tầu: Bebebebebebebe.....

TUYỂN: (Ngạc nhiên nhìn Ralph.) Cái jì thế?

RALPH: Mười một jờ bốn mươi lăm fút khuya! Tầu đi San Francisco đã đến! (Để tay lên chốt bên cạnh trên tường.)

Tiếng động: Click...Sìssssssssssss!

TUYỂN: (Hốt hoảng, loạng quạng.) Cái jì thế! Cái nhà này rung?

RALPH: Không fải! Tầu mới ngừng. Để tôi júp ông lên tầu. Ông say rồi! Nào. Cứ vịn vào tôi, nhà hoạ-sĩ tài ba. (Tuyển ngả đầu vào vai Ralph.) Nào bước lên. Vào luôn đi. (Tuyển chậm chạp bước vào.) Trên tầu có tủ lạnh, có TV, và có DVD, nhưng không có sách báo zù là lành mạnh hay khiêu-zâm! Ông sẽ ngủ ngon. Khi tới San Francisco tôi sẽ đưa ông đi Muir, tới Golden Gate, và tới The Alamo Square để ông tha hồ xem “the Painted Ladies” và cái điêu tàn của nó. Nhưng đừng tự-tử đấy cha. Tôi đóng cửa cho ông! Có đái đừng đái trên jường! (Ralph bấm chốt trên cửa.)

Còi tầu: Bebebebebebebe.....Sissssssss.

RALPH: (Lấy con vịt “búp bê” mầu vàng trong túi áo ra nhìn. Hô to:) ALL BOARD!

 

MÀN

 

(2008)
 

_________________________

Phụ chú của Tiền Vệ:

[1]

 
Edward Hopper, Rooms by the Sea, 1951.
 

[2]

 
Edward Hopper, Nighthawks, 1942.
 
---------------
 

Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018