điêu khắc | hội họa | nhiếp ảnh | trang thiết | đồ họa | nhận định mỹ thuật |
tạo hình
Văn hoá mỹ thuật không thể không sốt ruột

 

Mỹ thuật đương đại Việt Nam đã có một thời “bùng nổ”. Bối cảnh xã hội “đổi mới” và “mở cửa” đã mang lại khá nhiều điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt mỹ thuật - từ chuyện sáng tác, triển lãm, mua bán tác phẩm đến “giao lưu”, “hội nhập” v.v… Trong một khoảng thời gian ngắn năm bảy năm mà số lượng “nghệ sĩ tạo hình” trên cả nước tăng lên rất nhiều. Nhiều người sống được bằng tiền bán tác phẩm. Và, một số không ít, nhanh chóng trở nên giàu có. Diện mạo nghệ thuật cũng thay đổi. “Đa sắc, đa hình, đa tình, đa ý” hơn. Không chỉ có hội họa Trừu tượng vẽ những gì “không rõ hình thù” trở lại. Không chỉ có hội họa Biểu hiện với “những hình thể vặn vẹo, sắc màu u uất” lên ngôi. Không chỉ có chuyện tình dục và những uẩn khúc của “cái tôi” phơi trần. Không chỉ có v.v… mà còn, du nhập những thứ như Installation, Performance, Land Art, Body Art, Video Art v.v… “khó nuốt” luôn cả với ngay chính những người đang thực hành nó. Sự phấn khởi, lạc quan lan tràn lên các mặt báo kích thích thêm cho niềm tin về sự lớn mạnh và tương lai rạng rỡ của mỹ thuật Việt Nam…

Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như ai cũng thấy, sự “bùng nổ” gây náo nức kia chỉ là chuyện phong trào, chuyện xã hội mang tính nhất thời. Nó chỉ mới là sản phẩm tự phát của bối cảnh xã hội mới, chứ hoàn toàn không phải là sản phẩm của một hay những cách thức tư duy mới. Với “tự do” có được, các nghệ sĩ có thể “muốn làm gì thì làm”. Nhưng xét đến cùng, tự do cũng là một thách thức, mà dường như các nghệ sĩ Việt Nam, phần lớn, chưa được chuẩn bị về mặt nội tại để có thể vượt qua. Họ “muốn làm gì thì làm”, nhưng đã không đóng góp được những tiêu chuẩn giá trị mới, định hình một hệ thẩm mỹ mới thích nghi với thời đại, để sự đồng hóa mỹ thuật Việt Nam thời “đổi mới” với mỹ thuật “mới” Việt Nam không phải là sự đánh tráo khái niệm-do ngây thơ hay cố tình gian lận. Trước tình trạng “rã rời” của cả nền mỹ thuật hiện nay, nhiều người đã qui kết cho sự ngưng trệ của thị trường mỹ thuật, cho sự thiếu chuyên nghiệp trong hoạt động thông tin, tuyên truyền nghệ thuật v.v… Nhưng, thực ra, vấn đề là ở ý thức, ở nội lực của từng nghệ sĩ. Không được dẫn dắt bởi một cách thức tư duy mới, số đông nghệ sĩ, đã không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự sáng tạo, không biết làm thế nào để bảo toàn nguồn năng lượng vốn có. Bỏ qua hiện tượng đánh đu giữa những mục đích khác nhau bên ngoài nghệ thuật phổ biến nơi khá đông nghệ sĩ, ngay ở phần “nghiêm chỉnh” nhất, mỹ thuật “mới” Việt Nam, cũng chỉ là sự đánh đu giữa các khuynh hướng ngoại nhập với nghệ thuật dân gian. Nói “đánh đu”, bởi không thấy gốc rễ, không có dấu hiệu của sự chuyển hóa thích ứng, sự thống nhất mang tính nội tại. Chỉ cần đặt cuốn Hội họa mới Việt Nam thập kỷ 90 (Trần Hậu Tuấn & Bùi Như Hương- NXB Mỹ thuật-2000) bên cạnh bất cứ cuốn sách nào điểm lại hội họa phương Tây thế kỷ 20, và chỉ cần xem phần hình ảnh minh họa, ai cũng dễ dàng nhận thấy, hội họa “mới” Việt Nam cứ như một phiên bản mờ nhạt. Có lẽ, hoàn toàn không quá khi nói, trong một diện mạo như thế, hội họa “mới” Việt Nam, cũng đúng luôn với mỹ thuật “mới” Việt Nam nói chung, vẫn chỉ là một vùng ngoại vi của mỹ thuật phương Tây. Tất cả những hình ảnh biểu trưng của cái được gọi là “văn hóa làng”, “văn hóa tâm linh”v.v… được khai thác như những chất liệu mới, mang tính “dân tộc” chỉ có ý nghĩa làm thỏa mãn sự hiếu kì văn hóa của khách du lịch, người nước ngoài nói chung, chứ không làm nên thế giá cho nó xét trên phương diện nghệ thuật. Còn tất cả những cái được gọi là “Biểu hiện”, là “Trừu tượng” v.v… mà các nghệ sĩ tự hào cho là “Hiện đại”, thực tế, chỉ có ý nghĩa tô đậm cho tính chất ngoại vi của hội họa “mới” Việt Nam mà thôi - đi sau quá xa là một, nhưng quan trọng hơn, là kém thực chất: cách vẽ mới không mang ý nghĩa của cách nhìn mới. Điều này còn thể hiện rất rõ ở một khía cạnh khác: tuy làm theo những hình thức rất mới của thiên hạ - như Pop, như Installation, như Performance v.v…- nhưng khi diễn giải, các họa sĩ vẫn dừng lại ở lăng kính Tượng trưng chủ nghĩa, thậm chí là Hiện thực hay Lãng mạn chủ nghĩa… Nói chung, mỹ thuật "mới" Việt Nam không có sự khai phá, tự thể hiện. Chỉ có sự đi theo, thậm chí ăn theo, nhai lại…

Trước thực tế như vậy, cho đến nay, nhiều người đã đặt lại vấn đề về vai trò và trách nhiệm của phê bình. Nhưng thực ra, phê bình cũng “vậy thôi”. Thậm chí còn “tệ” hơn. Hầu như chưa có ai được chuẩn bị chu đáo cho công việc phê bình. Trên cả nước, tìm “đỏ cả mắt” cũng chẳng thấy ai đủ sức đi làm cái công việc biện biệt các giá trị trong nghệ thuật. Đa số các bài viết về mỹ thuật trên các báo, kể cả trên các tạp chí chuyên ngành và của cả các nhà gọi là “phê bình chuyên nghiệp”, nếu không phải là những bài mang tính chất giới thiệu, đưa tin thì cũng sa vào lối tán tụng hoặc bẽ bai một cách cảm tính. Nhiều bài viết cứ nhầm lẫn một cách ngô nghê trong việc đồng hóa cái đẹp trong nghệ thuật với cái đèm đẹp trong cuộc sống, hay đồng hóa các giá trị thẩm mỹ với các giá trị đạo đức, luân lý v.v… Những bài viết này càng nhiều chỉ càng làm nản lòng những người muốn sống hết mình cho nghệ thuật, muốn đổi mới thực sự, và, chỉ đẩy các nghệ sĩ “yếu bản lĩnh” vào mê lộ, cứ nhởn nhơ với những ảo ảnh, ảo tưởng. Hơn nữa, chỉ càng đẩy công chúng vào những ngộ nhận không biết đâu là nghệ thuật, đâu là phi nghệ thuật nữa…

Nhiều người cho rằng: đừng nên sốt ruột, thời gian sẽ tự điều chỉnh v.v…Thực ra, đó chỉ là cách nói “huề cả làng”. Thời gian cũng vô ích nếu không có sự vận động của ý thức và ý chí con người. Đúng là mỹ thuật đương đại Việt Nam đang cần có phê bình, đang cần được nhìn lại. Nhưng, sẽ không có phê bình thực sự nếu không có căn cứ học thuật. Và sẽ không thể xây dựng cơ sở học thuật thực sự nếu không bắt đầu bằng thay đổi cách nhìn về văn hóa mỹ thuật…

Có lẽ không cần phải viện dẫn sách “Tây”, sách “Tàu” để biện giải cho khái niệm văn hóa mỹ thuật. Bất cứ ai, suy nghĩ một cách thực tế, tiếp cận mỹ thuật từ cơ sở tồn tại và phát triển của nó, từ các yếu tố chi phối, tác động đến sự vận động đổi mới của nó, từ nhận thức về ý nghĩa và giá trị của nó v.v…, đều dễ dàng nhận thấy sự tồn tại khái niệm văn hóa mỹ thuật là đương nhiên và cần thiết. Không có gì mới mẻ hay đáng ngờ.

Đương nhiên tồn tại và cần thiết được ý thức, nhưng cho đến nay, trong thực tế, nó chưa bao giờ được gọi tên với nội hàm xác định như khi người ta nói về “văn hóa ẩm thực” hay “văn hóa du lịch” v.v… là điều đáng phải suy nghĩ. Chắc chắn có người sẽ cãi lại: “Nhầm rồi! Tên gọi là một chuyện. Thực tế lại là chuyện khác. Chẳng phải tất cả những cách tiếp cận mỹ thuật như vậy đã được thực hiện trong thực tế rồi sao? Hơn nữa, nó còn mang tính hệ thống hẳn hoi. Thử xem, nếu không, thì xưa nay, chúng ta căn cứ vào đâu để tổ chức và vận hành bộ máy mỹ thuật? để khai thác và khuếch trương hiệu quả tác động của các giá trị mỹ thuật trong đời sống thực tế, cũng như điều chỉnh các cung cách lệch chiều của nó?…”

Ý kiến ngược lại này thoạt trông tưởng đúng. Nhưng không chắc. Thực tế, rất dễ nhận thấy, cách tiếp cận mỹ thuật theo hệ thống của chúng ta, cho đến nay, thực chất vẫn mang tính “điều khiển”, “ý chí luận”, hoàn toàn thiếu tính “thích nghi”. Cụ thể hơn, chúng ta chỉ xem mỹ thuật như một thứ công cụ tuyên truyền cổ động. Điều này có nhiều biểu hiện. Một, trong khâu đào tạo và đầu tư cho sáng tác, chúng ta quan tâm đến các “cán bộ mỹ thuật” nhiều hơn là họa sĩ. Hai, trong khâu đánh giá và bình chọn tác phẩm và tác giả ở các cuộc thi mỹ thuật cấp quốc gia và địa phương, kể cả xét duyệt triển lãm, chúng ta quan tâm đến nội dung đề tài, đến tư tưởng chủ đề nhiều hơn là những tìm tòi, sáng tạo về mặt hình thức nghệ thuật. Ba, trong khâu tổ chức hoạt động phong trào, chúng ta nhấn mạnh đến ý nghĩa chính trị (của nó) nhiều hơn là ý nghĩa chuyên môn. Bốn, trong khâu định hướng, chúng ta có khuynh hướng quay về với các giá trị truyền thống hơn là những tìm tòi đổi mới; chúng ta quan tâm đến vấn đề làm sao cho công chúng hiểu (tác phẩm) nhiều hơn là đề cao cái mới. Và, năm, như một hệ quả, chúng ta buông rơi công việc phổ cập kiến thức mỹ thuật. Cách tiếp cận này là khả chấp trong điều kiện thời chiến. Nhưng nếu kéo dài, thì thực tế, ở một khía cạnh, nó trở thành sức ì cản trở sự phát triển bình thường của cả nền văn hóa mỹ thuật, và ở khía cạnh khác, nó tự vô hiệu hóa, khiến cho cả nền văn hóa mỹ thuật rơi vào tình cảnh có định hướng, có tổ chức nhưng vẫn cứ như không…

Tất cả những điều nói trên không khó chứng minh. Chẳng hạn, hãy nhìn lại sinh hoạt Hội Mỹ Thuật các cấp. Khi Hội Mỹ Thuật được xem là một “tổ chức quần chúng”, thì việc kết nạp bất cứ ai đã từng có sáng tác và từng có triển lãm vào hội là chuyện đương nhiên. Trong bối cảnh “kinh tế thị trường” và “xã hội mở cửa” dẫn đến “trăm hoa đua nở” như hiện nay, với đường hướng như vậy, Hội Mỹ Thuật trở thành một tập hợp “hổ lốn” với đủ thành phần, từ các họa sĩ là các nhà “hiện đại chủ nghĩa” đến các họa sĩ là “cán bộ mỹ thuật”, “sản xuất kinh doanh”,hay, các nhà “dân tộc học”, “văn hóa dân gian”, “thiền sư”, “đạo sĩ” v.v…Và tất cả đều bình đẳng. Tính chuyên nghiệp bị loại trừ trước hết. Kết quả: Hội Mỹ Thuật đang mất dần uy tín. Và thực tế, nhất là khi không tổ chức được lực lượng phê bình trong một diễn đàn phù hợp, chính hội đã góp phần không nhỏ làm rối tung nhận thức về giá trị mỹ thuật, có nguy cơ dẫn cả nền mỹ thuật đến chổ “vô sinh”… Không đóng góp được gì đáng kể về mặt văn hóa là chuyện đã đành, ngay cả các sứ mệnh chính trị mà nó đảm đương thực ra, cũng khó hoàn thành… Một thực tế khác: trước các khuynh hướng nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại phương Tây, cả một thời gian dài, bởi đồng nhất tất cả trong cái gọi là “nghệ thuật tư sản - suy đồi”, về mặt học thuật, chúng ta chưa bao giờ tiếp cận một cách hệ thống với thái độ phân tích khách quan. Kết quả, cho đến nay, hầu như chẳng có mấy họa sĩ Việt Nam thực sự am tường các khuynh hướng nghệ thuật đang hấp dẫn họ này. Mơ hồ, họ loạng choạng, bối rối, không biết khai thác năng lượng ở đâu cho sự tiếp thu, sáng tạo là chuyện đương nhiên. Ngay cả với giới phê bình cũng vậy, không được tiếp cận lý thuyết, họ không biết căn cứ trên tiêu chuẩn nào để phê bình. Còn căn cứ trên các tiêu chuẩn quen thuộc - Hiện thực, Lãng mạn hay Tân cổ điển - tiếng nói của họ rất dễ trở thành lạc điệu. Thậm chí vô duyên.

Chúng ta đã bắt đầu bằng, và kéo dài cách nhìn “duy ý chí”. Kết quả như đã thấy: cấu trúc chỉnh thể tự nhiên của cả nền văn hóa mỹ thuật bị phá vở. Nó không còn sức sống. Không thể sinh sôi.

Thực tế đời sống mỹ thuật đang không ngừng đổi mới với đủ các luồng ảnh hưởng và đủ các loại áp lực khác nhau. Sự đổi mới này, rất dễ trở thành vô nghĩa, thậm chí “nguy hiểm” nếu không được ý thức dưới một tầm nhìn văn hóa mỹ thuật thích ứng…

 


Các hoạ phẩm sử dụng trên trang này được sự cho phép của các hoạ sĩ đã tham gia trên trang Tiền Vệ

Bản quyền Tiền Vệ © 2002 - 2018